Điều Gì Khiến Cho Chúa Giê-xu Rất Khác?

Gần đây tôi đã nói chuyện với một nhóm người tại Los Angeles. Tôi hỏi họ, “Theo ý kiến của các anh ai là Chúa Giê-xu Christ?” Câu trả lời đó là Ngài là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Tôi đồng ý với điều đó. Chúa Giê-xu Christ là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Nhưng tôi tin rằng Ngài còn hơn thế nữa.

Con người qua nhiều năm đã phân rẻ nhau bởi vì một câu hỏi, “Chúa Giê-xu là ai?” Tại sao có nhiều tranh luận chỉ vì một cá nhân? Tại sao tên của Ngài, hơn là tên của bất kỳ người lãnh đạo tôn giáo nào khác, gây sự khó chịu? Tại sao khi bạn nói về Ông Trời thì không ai thấy phiền hà gì, nhưng khi bạn đề cập đến hai chữ Giê-xu, nhiều người rất muốn dừng ngay cuộc nói chuyện lại? Hoặc họ trở nên phòng thủ. Tôi đã đề cập về điều gì đó về Chúa Giê-xu với một người lái taxi ở Luân Đôn, và ngay lập tức người tài xế nói “tôi không thích thảo luận về tôn giáo, đặc biệt là Chúa Giê-xu”.

Chúa Giê-xu khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác như thế nào? Tại sao những cái tên như là Phật, Mô-ha-mát, Khổng Tử không làm người khác khó chịu? Lý do đó là những người khác đã không tuyên bố mình là Chúa (Trời), nhưng Chúa Giê-xu đã tuyên bố vậy. Điều đó là điều khiến cho Ngài rất khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác. Không mất nhiều thời gian để những người đã biết Chúa Giê-xu nhận ra rằng Ngài đã đưa ra những lời tuyên bố đáng kinh ngạc về bản thân Ngài. Điều này đã trở nên rõ ràng hơn khi các tuyên bố của chính Ngài khiến Ngài hơn là một nhà tiên tri hoặc một người thầy. Ngài rõ ràng đang đưa ra những lời tuyên xưng về thần tính. Ngài đang bày tỏ chính Ngài là một con đường duy nhất để đến với mối quan hệ với Đức Chúa Trời, là nguồn duy nhất để đến với sự tha thứ cho tội lỗi, và là cách duy nhất để được cứu rỗi.

Đối với rất nhiều người đây là điều quá tách biệt, quá nông cạn để họ muốn tin điều đó. Thế nhưng vấn đề không phải là chúng ta muốn nghĩ hay tin điều gì, nhưng mà, Chúa Giê-xu đã tuyên bố là ai?

Những tài liệu về Tân Ước đã nói gì với chúng ta về điều này? Chúng ta thường nghe câu “thần tính của Đấng Christ”. Điều này có nghĩa rằng Chúa Giê-xu Christ là Chúa.

A.H. Strong trong sách Thần Học Hệ Thống định nghĩa Đức Chúa Trời là “thần vô hạn và hoàn hảo, nơi Ngài bắt nguồn tất cả các nguồn, sự ủng hộ và nơi kết thúc”. Định nghĩa này về Đức Chúa Trời đúng với tất cả người theo thuyết có thần, bao gồm cả người Hồi Giáo và Do Thái. Thuyết có thần dạy rằng Đức Chúa Trời là cá nhân và cả vũ trụ được lên kế hoạch và tạo ra bởi Ngài. Đức Chúa Trời giữ gìn và cai quản nó trong hiện tại. Những người Cơ Đốc Nhân theo thuyết có thần thêm vào một chú thích đối với định nghĩa ở trên: “và Đấng đã hiện thân qua Chúa Giê-xu đến từ Na-za-rét.”

Chúa Giê-xu thật ra là một cái tên và một danh hiệu. Cái tên Giê-xu được bắt nguồn từ Tiếng Hy Lạp của tên Jeshua hoặc Giô-suê có ý nghĩa “Giê-hô-va- Đấng Giải Cứu” hoặc “Đức Chúa Trời cứu rỗi. “Danh Hiệu Đấng Christ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cho từ Mê-si-a (hoặc Tiếng Hê-bơ-rơ- Mashiach- Đa-ni-ên 9:26) và có nghĩa “Đấng được sức dầu”. Hai cán bộ, vua và thầy thế lễ cũng liên quan đến việc sử dụng danh hiệu “Đấng Christ”. Danh hiệu của Ngài xác nhận rằng Chúa Giê-xu là một thầy tế lễ giao ước và Vua của các tiên tri trong Cựu Ước. Sự xác nhận này là một trong những mặt chính trong việc đạt được một sự hiểu biết đúng đắn về Chúa Giê-xu và Cơ Đốc Giáo.

Tân Ước rõ ràng bày tỏ rằng Đấng Christ là Chúa. Các danh xưng của Ngài được dùng cho đấng Christ ở trong Tân Ước là những điều mà họ có thể dùng chỉ cho duy nhất một Đấng đó là Chúa. Ví dụ, Chúa Giê-xu được gọi là Đức Chúa Trời trong câu này, “đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Tít 2:13; so sánh với Giăng 1:1, Hê-bơ-rơ 1:8; Rô-ma 9:5; 1 Giăng 5:20-21). Kinh Thánh cho rằng những thuộc tính về Ngài mà có thể đúng chỉ với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu được bày tỏ là Đấng tự tồn tại (Giăng 1:4, 14:6); toàn tại [có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc] (Ma-thi-ơ 28:20, 18:20); toàn tri (Giăng 4:16, 6:64; Ma-thi-ơ 17: 22-17); toàn năng (Khải Huyền 1:8, Lu-ca 4: 39-55, 7: 14-15; Ma-thi-ơ 8:26-27), và được hưởng sự sống đời đời (1 Giăng 5: 11-12, 20, Giăng 1:4).

Chúa Giê-xu nhận được sự tôn kính và tôn thờ mà chỉ duy có Đức Chúa Trời mới đáng nhận. Trước sự đối mặt với Sa-tan, Chúa Giê-xu đã phán, “Được viết rằng, ‘ngươi phải tôn thờ Đức Chúa Trời là Chúa ngươi, và phục vụ chỉ duy Ngài thôi” (Ma-thi-ơ 4:10). Thế nhưng Chúa Giê-xu đã nhận sự tôn thờ như là Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 14: 33, 28:9) và đôi khi thậm chí được yêu cầu để được tôn thờ như là Đức Chúa Trời ( Giăng 5: 23; so sánh với Hê-bơ-rơ 1:6, Khải Huyền 5: 8-14).

Hầu hết những người theo Chúa Giê-xu sùng kính người Do Thái, những người tin cậy làm một Đức Chúa Trời chân thật. Họ là những người tin vào thuyết một thần, thế nhưng họ nhận ra rằng Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời.

Bởi vì việc dạy dỗ về thầy dạy đạo rất sâu sắc, Phao-lô thậm chí cũng không cho rằng Chúa Giê-xu có thần tính, để mà tôn thờ một con người đến từ Na-ra-rét và gọi người đó là Đức Chúa Trời. Nhưng đây chính xác là điều mà Phao-lô đã làm. Ông nhận thức được Chiên Con của Đức Chúa Trời (Chúa Giê-xu) là Đức Chúa Trời khi ông nói, “Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình” (Công vụ các sứ đồ 20:28).

Phi-e-rơ xưng tội, sau khi Đấng Christ hỏi ông là ai: “Si-môn Phi -e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống” (Ma-thi-ơ 16:16). Chúa Giê-xu đã đáp lại với lời xưng tội không chỉ bằng sữa chữa kết luận của ông bằng việc nhận thức được giá trị và nguồn gốc của nó: “Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.” (Ma-thi-ơ 16:17)

Ma-tha, một người bạn thân của Chúa Giê-xu đã nói với Ngài, “Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (Giăng 11: 27). Và sau đó có Na-tha-na-ên, người đã không nghĩ là có bất cứ điều gì tốt đến từ Na-ra-rét. Ông nhận ra rằng Chúa Giê-xu là “thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!” (Giăng 1:49).

Trong khi Ê-tiên bị ném đá “Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi!” (Công vụ các sứ đồ 7:59). Người viết sách Hê-bơ-rơ đã gọi Đấng Christ là Đức Chúa Trời khi ông viết, “Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia” (Hê-bơ-rơ 1:8). Giăng Báp Tít tuyên bố về việc đến của Chúa Giê-xu bằng việc nói rằng “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” (Lu ca 3:22).

Sau đó tất nhiên chúng ta thấy Thô-ma xưng tội, được viết đến là “Người hay nghi vấn”. có lẽ ông là một sinh viên tốt nghiệp. Ông nói, “nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.” Tôi có thể hiểu được Thô-ma. Ông nói “Một tuần sau, các môn đệ đang nhóm nhau trong phòng, lần nầy có mặt Thô-ma. Cửa đang khóa chặt thì Chúa Giê-xu bỗng hiện đến đứng giữa họ và nói rằng, “Bình an cho các con.” Rồi Ngài bảo Thô-ma, “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn kỹ bàn tay ta. Hãy đến đặt bàn tay con vào hông ta. Đừng ngờ vực nữa mà hãy tin!”

Thô-ma kêu lên, “Lạy Chúa và Thượng Đế của con!”

Chúa Giê-xu bảo Thô-ma, “Bây giờ con tin vì mắt con đã thấy ta. Ai không thấy mà tin là người có phúc thật!” (Giăng 20:26-29 BPT). Chúa Giê-xu chấp nhận sự nhận thức của Thô-ma về Ngài là Đức Chúa Trời. Ông khiển trách Thô-ma vì sự không tin của ông, chứ không phải là sự thờ phượng của ông.

Vào lúc này một nhà phê bình có lẽ xen vào rằng tất cả những lời ám chỉ này về Đấng Christ, không phải từ bản thân chính Đấng Christ. Sự buộc tội trong lớp học mà những người vào thời điểm của Đấng Christ đã hiểu sai về Ngài như là chúng ta hiểu sai về Ngài hôm nay. Nói cách khác, Chúa Giê-xu thật sự đã không tuyên bố mình là Đức Chúa Trời.

Thật ra thì, tôi nghĩ là Ngài đã tuyên bố như vậy, và tin rằng thần tánh của Đấng Christ được bắt nguồn trực tiếp từ các trang của Tân Ước. Có rất nhiều lời tham khảo và ý nghĩa của chúng thì rất rõ ràng. Một người doanh nhân xem xét kỹ lưỡng Kinh Thánh để xác nhận Đấng Christ có tuyên bố là Đức Chúa Trời không đã nói, “Đối với những người đọc sách Tân Ước và không kết luận rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố trở thành thần, người ấy chắc phải như một người bị mù đứng ngoài cửa trong một ngày sáng sủa và nói rằng người ấy không thể thấy mặt trời”.

Trong Phúc Âm Giăng chúng ta thấy có một sự giáp mặt giữa Chúa Giê-xu và một số người Do Thái. Họ cảm thấy khó chịu vì Chúa Giê-xu đã chữa lành một người bị què vào ngày Sa-bát và nói với người đó hãy vác giường mà đi. “Và vì lý do này người Do Thái đàn áp Chúa Giê-xu bởi vì Ngài đã làm những việc đó vào ngày Sa-bát. Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Cha ta luôn luôn làm việc, cho nên ta cũng làm việc.”

Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5: 16-18)

Bạn có thể nói, “Hãy nhìn kìa Josh tôi có thể nói, ‘Cha chúng ta làm việc cho đến bây giờ, và bản thân tôi cũng đang làm việc.’ Như vậy thì đã sao? Điều này chẳng chứng minh được điều gì.” Bất cứ khi nào chúng ta nghiên cứu về một tài liệu, chúng ta phải xem xét về ngôn ngữ, văn hóa, và đặc biệt là một người hoặc những người được nhắm đến. Trong trường hợp là văn hóa Do Thái và những người được nhắm đến là những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Hãy cùng xem cách mà người Do Thái hiểu được lời nhận xét của Chúa Giê-xu cách đây 2000 năm trong văn hóa của chính họ. “Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5:18). Tại sao lại có một phản ứng quyết luyệt như vậy?

Lý do như Chúa Giê-xu đã nói “Cha ta”, không phải là “Cha chúng ta”, và sau đó thêm vào “làm việc cho đến bây giờ”. Chúa ‘Giê-xu’ sử dụng hai cụm câu này để khiến cho bản thân Ngài ngang bằng với Đức Chúa Trời, ngang bằng với các hoạt động của Đức Chúa Trời. Người Do Thái đã không ám chỉ đến Đức Chúa Trời là “Cha Tôi”. Chúa Giê-xu cũng ám chỉ rằng trong khi Đức Chúa Trời đang làm việc, Ngài, Con Trai, cũng đang làm việc vậy. Một lần nữa, người Do Thái đã hiểu được sự ám chỉ rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Như là một kết quả của lời tuyên bố này, sự thù ghét của người Do Thái càng lớn mạnh hơn. Thậm chí họ đang tìm kiếm, chủ yếu là để áp bức Ngài, sau đó họ đã bắt đầu mong muốn để giết Ngài.

Không chỉ Chúa Giê-xu tuyên bố sự ngang bằng với Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, nhưng ngài cũng khẳng định rằng Ngài với Cha là một. Trong suốt bữa tiệc về sự Cung Hiến tại Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đã kết thúc lời bình luận của mình rằng “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30). Nhưng Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ta đã làm nhiều điều phúc đức từ Cha mà các ngươi đã thấy. Điều phước đức nào khiến các ngươi muốn giết ta?” Người Do-thái đáp, “Không phải chúng tôi giết ông vì những việc phúc đức ông làm mà vì ông phạm thượng. Ông chỉ là người mà dám tự cho mình là Trời!” (Giăng 10: 31-33 BPT).

Một người có thể sẽ tự hỏi vì sao có những sự phản ứng mạnh mẽ đến những điều Chúa Giê-xu đã nói về việc trở nên một với Cha. Một sự liên hệ thú vị về câu này đã dấy lên khi được học về người Hy-lạp. Một học giả người Hy-Lạp A. T. Robertson đã viết rằng một “người” là từ trung gian, không có ý nghĩa là nam giới, trong Tiếng Hy-lạp, và không hàm ý một người hay một mục đích nhưng có là một trong “bản chất hoặc tự nhiên”. Robertson sau đó thêm vào: “Câu nói quả quyết này là một lời tuyên bố đỉnh cao của Đấng Christ về mối quan hệ giữa Đức Chúa Cha và bản thân Ngài (Đức Chúa Con). Họ làm người Pha-ri-si nổi lên cơn giận không thể kiểm soát được”.

Điều này được chứng minh rằng trong tâm trí của những người đã nghe về câu nói này không nghi ngờ gì rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời. Vì thế, Leon Morris, hiệu trưởng trường Ridley College, Melbourne, viết rằng “Người Do Thái có thể xem lời của Chúa Giê-xu là lời báng bổ, và họ tiến triển để mang lấy sự xét đoán về trong tay của chính họ. Điều đó được viết lại trong Luật rằng sự báng bổ sẽ bị trừng phạt bằng việc ném đá ( Lê-vi-ký 24:16). Những người đàn ông đó không được phép những tiến trình luật pháp đó được thực hiện. Họ đã không chuẩn bị một sự truy tố để mà các cơ quan chức năng có thể thực hiện những hành động cần thiết. Trong sự giận giữ của mình họ đã sẵn sàng để là các người phán xét và đồng là những người xử tội.”

Chúa Giê-xu bị đe dọa với việc bị ném đá do tội “nói lời bổ báng.” Những người Do Thái rõ ràng có thể hiểu được sự dạy dỗ của Ngài nhưng chúng ta có thể hỏi, Ngài đã dừng lại để cân nhắc về các lời tuyên bố của Ngài có đúng hay không?

Chúa Giê-xu tiếp tục nói về bản thân Ngài là cùng một bản chất và bản tính với Đức Chúa Trời. Ngài xác nhận cách rành mạch “Nếu các ngươi biết ta thì hẳn phải biết Cha ta nữa.” (Giăng 8:19); “Ai thấy ta cũng thấy Đấng sai ta” (Giăng 12:45); Ai ghét ta cũng ghét Cha ta (Giăng 15:23); để mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến” (Giăng 5:23); etc. Những lời tham khảo này chắc chắn ám chỉ rằng Chúa Giê-xu rất gần hơn hoặc mật thiết hơn với Đức Chúa Trời hơn những người khác cần phải suy nghĩ về lời tuyên bố này “mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.”

Khi tôi đang giảng dạy trong một lớp học văn chương vào trường Đại Học West Virginia, một giáo sư ngắt ngời tôi và nói rằng chỉ có Phúc Âm và trong đó Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời đó là Phúc Âm Giăng, và đó là Phúc Âm được viết sau cùng. Sau đó Ngài đã khẳng định rằng Mác, Phúc Âm sớm nhất, không có một lần nào đề cập đến lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời. Điều rõ ràng đó là người đàn ông này đã không đọc sách Mác, hoặc không chú tâm nhiều vào điều ông đọc.

Để đáp lại tôi quay lại với Phúc Âm Mác. Ở đó Chúa Giê-xu tuyên bố là có thể tha thứ tội lỗi. “Khi thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại rằng, “Con ơi, tội con đã được tha rồi.”’ (Mác 2:5, xem Lu-ca 7:48-50). Với luật của Do Thái điều này là điều chỉ duy Đức Chúa Trời có thể làm được, Ê-sai 43:25 giới hạn đặc quyền này đối với duy nhất Đức Chúa Trời. Những người sao chép hỏi “Tại sao người đàn ông này có thể nói cách đó? Ông đang nói lời bổ báng; ai có thể tha tội ngoại trừ mình Đức Chúa Trời? (Mác 2:7). Chúa Giê-xu sau đó đã hỏi điều nào sẽ là dễ hơn, để nói “Tội của ngươi đã được tha”, hay nói “Hãy đứng lên vác giường mình mà đi”?

Theo như quyển sách bình luận Wycliffe, đây là một câu hỏi “không thể trả lời được”. Các lời tuyên bố này cũng đơn giản tương tự để phát âm, nhưng để nói là có một sự trình bày thêm vào, đòi hỏi một quyền năng thánh khiết. Là một kẻ mạo danh, tất nhiên, trong việc tìm kiếm để tránh việc bị phát hiện, sẽ thấy điều phía trên dễ hơn. Chúa Giê-xu tiến triển đến việc chữa lành những bệnh tật mà con người có thể biết đến và Ngài có quyền lực để giải quyết với nguyên nhân của nó”. Vào điều này ông bị buộc tội về việc phỉ báng bởi những người lãnh đạo tôn giáo. Lewis Sperry Chafer viết ra rằng “không ai trên đất có thẩm quyền hoặc quyền để tha tội. Không ai có thể tha thứ tội lỗi để cứu Đấng mà tất cả mọi người đều đã phạm tội nghịch cùng. Khi Đấng Christ tha thứ tội lỗi, như Ngài chắc chắn đã làm vậy, Ngài đã không sử dụng những đặc quyền của một con người. Bởi vì không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi, kết luận đó là Đấng Christ, bởi vì ngài đã tha thứ tội lỗi, và Chúa.”

Khái niệm về sự tha thứ này khiến tôi lo lắng trong một lúc bởi vì tôi đã không hiểu được điều đó. Một ngày trong lớp học triết lý, trả lời câu hỏi về thần tính của Đấng Christ, tôi trích dẫn các câu ở phía trên ở trong sách Mác. Một người trợ giảng đã tốt nghiệp thách thức kết luận của tôi rằng sự tha tội của Đấng Christ được mô tả ở trong thần tính của Ngài. Ngài nói rằng Ngài có thẻ tha thứ một người nào đó và điều đó không chứng minh rằng Ngài tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Khi tôi suy nghĩ về điều mà người trợ giảng của tôi nói, tôi cảm thấy choáng vì sao các nhà lãnh đạo tôn giáo phản ứng chống lại Đấng Christ vậy. Vâng, một người có thể nói “tôi tha thứ cho bạn”, “nhưng điều đó có thể nói bởi người đã phạm tội nghịch cùng. Nói cách khác, nếu bạn phạm tội nghịch cùng tôi, tôi có thể nói, “Tôi tha thứ cho bạn. Nhưng đó không phải là điều Đấng Christ làm. Những người bị tê liệt đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, sau đó là Đức Chúa Giê-xu, dưới thẩm quyền của chính mình, đã nói “Tội lỗi của ngươi được tha”. Vâng, chúng ta có thể tha thứ cho những sự tổn thương nghịch lại chúng ta, nhưng không có cách nào để bất cứ người nào có thể tha thứ những tội chống nghịch lại chính Chúa ngoại trừ bản thân chính Ngài. Đó là điều mà Chúa Giê-xu đã làm.

Không nghi ngờ gì người Do Thái đã phản ứng mạnh khi một người thợ mộc từ Na-za-rét tuyên bố lời rõ ràng như vậy. Quyền lực này của Chúa Giê-xu để tha thứ tội lỗi là một ví dụ đáng ngạc nhiên về việc thực hiện đặc quyền thuộc về một mình Đức Chúa Trời. Cũng như ở trong sách Phúc Âm Mác chúng ta thấy được sự thử thách của Chúa Giê-xu (14: 60-64). Những tiến triển của thủ thách này là một trong những lời tham khảo rõ ràng nhất đới với lời tuyên bố của Chúa Giê-xu về thần tính của Ngài. Sau đó thầy tế lễ tối cao đứng trước mặt họ và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh không trả lời gì hết à? Anh không trả lời những điều người ta tố cáo anh sao?” Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào. Thầy tế lễ tối cao hỏi Ngài một câu nữa, “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” Chúa Giê-xu đáp, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế. Trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng quyền uy và sẽ ngự đến giữa mây trời.” Nghe câu ấy, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Chúng ta đâu cần nhân chứng nữa! Các ông đã nghe hắn nói phạm thượng, nghịch với Thượng Đế rồi. Các ông nghĩ sao?” Tất cả đồng thanh nói rằng Ngài có tội đáng bị xử tử.”

Vào lúc ban đầu Chúa Giê-xu đã không trả lời, như vậy Đấng Tối Cao đã đặt Ngài ở dưới một lời thề. Bị bắt phải nói dưới một lời thề Chúa Giê-xu đã phải trả lời (và tôi rất mừng Ngài đã làm điều đó). Ngài đã trả lời cho câu hỏi “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” bằng việc trả lời, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế.

Một sự phân tích về lời chứng của Đấng Christ chỉ ra rằng Ngài đã tuyên bố vậy (1) Con Trai của Thượng Đế đáng chúc tụng (Đức Chúa Trời); (2) Đấng ngồi phía bên tay phải quyền năng, và (3) Con của Người đã đến trên các tầng mây của Thiên Đàng. Mỗi sự xác nhận lại này là một lời phân biệt riêng biệt về Đấng Mê-si. Hiệu ứng cộng dồn của cả ba điều này là rất đáng ngạc nhiên. Tòa án Do Thái, Sanhedrin, nắm bắt được cả ba điểm này, Đấng tối cao đã trả lời bằng việc xé áo choàng của mình và nói, “Chúng ta có những nhu cầu nào khác về các nhân chứng?” Họ cuối cùng đã nghe điều đó từ chính Ngài. Họ bị kết án bởi những lời từ chính miệng của họ.

Robert Anderson viết rõ rằng: “Không có bằng chứng được xác nhận nào hơn những bằng chứng từ những nhân chứng đối lập, và sự thật rằng Đức Chúa Trời đã có được sự tuyên bố về Thần Tính thì được thành lập không thể chối cãi được bằng hành động của các kẻ thù của Ngài. Chúng Ta phải nhớ rằng người Do Thái không phải là một bộ tộc của những người man rợ, nhưng là những người có văn hóa cao và có tôn giáo mạnh mẽ, và vì chính điều này mà, không có lời trái quan điểm, sự chết của Ngài được ra sắc lệnh bởi hội đồng Sanhedrin- Hội Đồng quốc gia vĩ đại của họ, bao gồm những người lãnh đạo tôn giáo xuất sắc nhất, bao gồm cả người đàn ông thuộc loại Gamaliel và những học sinh ưu tú nhất của ông, Sau-lơ của Ta-sớt.

Rõ ràng là, đây là một lời chứnng mà Chúa Giê xu muốn nghe từ chính họ. Chúng ta cũng thấy rằng người Do Thái hiểu được lời trả lời của ngài như là một lời tuyên bố về Ngài là Đức Chúa Trời. Có hai sự thay thế khác nhau cần phải được đối mặt, rằng những lời khẳng định là những lời báng bổ, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời. Những người đoán xét của Ngài thấy được vấn đề một cách rất rõ ràng, thật sự, là họ đã đóng đinh ngài và sau đó quở trách Ngài bởi vì “Hắn tin cậy Thượng Đế … Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” (Ma-thi-ơ 27:43)

H.B.Swete giải thích rằng về sự lớn lao của thầy tế lễ cả thượng phẩm xé đi áo choàng của mình: “Luật pháp nghiêm cấm việc thầy tế lễ cả xé áo quần mình vì những vấn đề cá nhân (Lê-vi-ký 10:6, 21:10), nhưng khi hành động như một Quan Xét, thầy được yêu cầu theo phong tục phải bày tỏ theo cách mà sự kính sợ của bất cứ lời báng bổ phát ra trong sự hiện diện của thầy. Nếu những bằng chứng đáng tin cậy không đến trước, sự cần thiết cho điều đó cho đến bây giờ đã bị bỏ đi: Người Tù đã phạm tội”.

Chúng ta bắt đầu thấy được rằng điều này không phải là một sự thử thách bình thường, như luật sư Irwin Linton đưa ra: “đặc biệt ở giữa những thử thách tù tội là điều này không phải là hành động nhưng là sự nhận diện của người bị kết tội là một vấn đề. Sự kết án chống nghịch lại Đấng Christ, sự xưng tội hoặc lời chúng hoặc, hơn nữa, hành động trong sự hiện diện của tòa án, trong điều này Ngài bị kết án, câu hỏi bởi người thống trị Rô-ma và sự khắc dấu và tuyên bố trên thập giá của Ngài vào lúc xử tội tất cả đang quan tâm đến một câu hỏi về hiện thân thật sự và phẩm giá của Đấng Christ. “Bạn nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là con của ai?”

Judge Gaynor, một luật gia hoàn mỹ ngồi trên dãy ghế tại New York, trong sự nhắm đến các thử thách của Chúa Giê-xu, hiểu được rằng sự báng bổ là một điều chống nghịch lại Ngài trước Hội Đồng Sanhedrin. Ông nói rằng: “rõ ràng từ mỗi câu chuyện phúc âm, rằng những tội phạm được gắn cho Chúa Giê-xu Christ và buộc kết án Ngài là lời báng bổ (được trích từ Giăng 10:33). (Sự tham khảo từ Gaynor là “Chúa Giê-xu khiến mình là Chúa” chứ không phải vì những điều mà Ngài nói về đền thờ).

Ở hầu hết các thử thách, con người đang cố gắng để đạt được những gì họ có, nhưng điều này không đúng về Đấng Christ. Chúa Giê-xu chịu thử thách cho việc Ngài là ai.

Sự thử thách của Chúa Giê-xu cần phải đủ để chứng minh một cách thuyết phục rằng Ngài đã xưng nhận về chính thần tính của Ngài, Các Quan Xét là những nhân chứng cho điều đó, Nhưng cũng như vậy, trên đường đi đến sự chịu đóng đinh, các kẻ tù của Ngài nhận ra rằng Ngài tuyên bố là Đức Chúa Trời đã đến trong thân thể” Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão cũng chế giễu Ngài.Họ bảo, “Hắn cứu người khác mà cứu mình không được! Hắn bảo hắn là vua Y-sơ-ra-ên! Nếu hắn là vua thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi thì chúng ta mới tin. Hắn tin cậy Thượng Đế thì hãy để Thượng Đế đến cứu hắn, nếu Thượng Đế thật sự cần hắn. Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng nhiếc móc Ngài. (Ma-thi-ơ 27: 41-43).

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *