Nguồn Gốc Của Sự Sống

Cuộc sống mới thật là tuyệt diệu! Sự bắt đầu của cuộc sống con người mới thật đẹp đến ngạt thở. Sau khi trứng được thụ tinh bởi một tinh trùng, mọi đặc tính mà một con người mới sẽ trở thành phát triển lên từ một tế bào ban đầu đó. Chỉ sau hai mươi mốt ngày sau sự thụ tinh, bào thai đã có hình hài cơ bản của một con người. Hai tháng sau khi sự thụ tinh khuôn mặt xuất hiện; tay và chân, với những ngọn của ngón tay và ngón chân có thể thấy được một cách rõ ràng. Ba tháng sau khi sự thụ tinh, vào lúc mười hai tuần, những móng tay nhỏ xíu và giới tính đã được xác định.

Vào cuối của giai đoạn trung bình khoảng chín tháng, một người mới được sinh ra, một cá nhân sống, thở, lớn lên và đặc biệt nhất là một cá nhân biết suy nghĩ. Cuộc sống mới, đặc biệt là cuộc sống của con người, là một phép lạ. Sự rắc rối đáng ngạc nhiên của sự sinh sản không thể là kết quả của một sự ngẫu nhiên được.

Các nhà khoa học không thể trả lời câu hỏi tại sao về sự sống. Tại sao sự sống đã phát triển? Tại sao sự sống khác biệt? Tại sao nhiều sự hình thành sự sống khác nhau kết hợp lại với nhau? Tại sao có sự khác biệt giữa những hình thức sống? Những câu hỏi đó mang đến câu trả lời là do “tiến hóa” nhưng không giải thích, chúng chỉ đang mô tả một chuỗi các sự kiện có thể. Chúng không trả lời câu hỏi tại sao. Trong phân tích cuối cùng, cuộc sống vẫn duy trì là một điều bí ẩn đối với nhà khoa học.

Sự Sống Của Tế Bào

Khi chúng ta nhìn vào một tế bào, chúng ta có thể thấy một cấu trúc cực kỳ phức tạp. Tế bào hấp thụ thức ăn, tiết ra chất thải, và thậm chí có thể sinh ra bằng việc phân chia. Trung tâm của một tế bào đó là nhân bào, chứa thông tin tối thiểu cần thiết của tế bào để thực hiện chức năng đúng đắn. Nhân bào chứa các nhiễm sắc thể, dây dài chứa những thành phần quan trọng nhất đó là DNA (deoxyribonucleic acid, kho chứa nền tảng của các thông tin di truyền). DNA là một cơ sở vật chất di truyền thật quyết định những đặc điểm di truyền. Một phân tử DNA giống như là một cầu thang uốn lượn. Khi các tế bào phân chia, “cầu thang” đó tách ra theo chiều dài đến giữa trung tâm, và mỗi phần trở nên một cầu thang riêng biệt.

Nhiễm sắc thể chứa nhiều phân tử; mỗi phân tử bao gồm một số lượng các nguyên tử. Các tế bào sống có chứa phân tử bao gồm một sự kết hợp của sáu thành phần: các-bôn, hy-đrô, ô-xy, ni-tơ, phốt pho, và lưu huỳnh. Sự phức tạp, đa dạng và trật tự tuyệt vời mà chúng ta thấy trong thế giới sống xung quanh chúng ta có sáu thành phần cơ bản này như là các khối xây dựng.

Nhưng các cơ thể sống thì hơn cả những thành phần hóa học được sắp xếp theo một số khuôn mẫu nhất định. Ví dụ một xác chết vẫn còn bao gồm những nhiễm sắc thể, các phân tử và nguyên tử, thành phần giống như một người vẫn còn đang sống. Nhưng xác chết thì không sống nữa. Sự sống đã đi rồi. Các nhà khoa học chỉ có thể quan sát sự khác biệt giữa những thứ sống và những thứ không sống. Nhưng họ không thể giải thích được sự sống là gì.

Sự sống của con người khác với các sự sống khác, dù do các nhà vật chất học có thể thuyết phục rằng con người không khác nào một cổ máy tinh vi nhiều như thế nào chăng nữa. Chỉ có con người mới có sự tự nhận thức, khả năng để nhận thức chính họ và mối quan hệ của họ với toàn bộ thực tiễn khác. Khả năng đó là một phần của điều mà Kinh Thánh có ý khi nói đến đó là chúng ta được tạo nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời:

Sau đó Thượng Đế bảo, “Chúng ta hãy tạo nên con người theo hình ảnh của chúng ta, để họ quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, các loài gia súc, để họ cai trị khắp đất cùng các loài bò sát.” Nên Thượng Đế tạo con người theo hình ảnh Ngài. Thượng Đế tạo ra họ theo hình ảnh Ngài. Ngài tạo ra người đàn ông và đàn bà. Thượng Đế ban phước cho con người và bảo, “Hãy sinh con đẻ cái thật nhiều cho chật đất và hãy quản trị đất. Hãy cai quản loài cá trong biển, chim trên trời và các động vật trên đất.” (Sáng Thế Ký 1: 26-27)

Theo như Kinh Thánh, chỉ có những con người được làm “theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.” Chỉ có con người mới sở hữu một ý chí và sự tự nhận thức mà có thể làm khác biệt chúng ta theo cách cực kỳ sắc sảo so với những động vật thông minh nhất.

Trong chương này chúng ta sẽ khám phá những tình huống khoa học và kinh thánh về nguồn gốc của sự sống. Sự sống đã bắt đầu trên trái đất như thế nào? Sự sống đó là gì? Sự sống đã cần điều gì để bắt đầu? Sự suy đoán khoa học về sự sống so với sự ghi chép kinh thánh về nguồn gốc của sự sống là như thế nào?

Ghi Chép Của Kinh Thánh Về Nguồn Gốc Của Sự Sống

Theo như Sáng Thế Ký, sự sống được tạo nên bởi Đức Chúa Trời vào “ngày” thứ ba của sự sáng tạo. Như chúng ta thấy ở trong chương ba, Đức Chúa Trời đầu tiên đã tạo nên trời và đất, tối và trống không. Ngài đã tạo nên ánh sáng, và đã mang ánh sáng đến cho trái đất. Khi trái đất nguội xuống, một số hơi nước bọc quanh trái đất tích tụ lại, tạo thành những đại dương. Sự làm nguội đó tác động đến bề mặt của trái đất, tạo nên các lục địa, núi, thung lũng và đại dương. Vào ngày thứ ba Đức Chúa Trời tạo dựng nên sự sống đầu tiên trên đất.

Sau đó Thượng Đế phán, “Đất phải sinh ra cây cối, một vài loại sinh ra hột giống và loại khác sinh ra trái cây có hột. Mỗi loại hột sẽ sinh ra nhiều cây khác cùng giống.” Sự việc liền xảy ra như Ngài phán. Đất sinh ra cây có hột giống, có thứ cây sinh ra trái có hột. Mỗi hột giống tạo ra cây cùng loại. Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.

(Sáng Thế Ký 1: 11-12)

Mặc dầu Sáng Thế Ký tường thuật lại rằng ánh sáng đầu tiên được chiếu xuống từ mặt trời vào ngày thứ tư, sau sự sáng tạo của sự sống của các cây cối, trái đất đã có ánh sáng cho nên sự quang hợp đã có thể diễn ra (Sáng Thế Ký 1: 3-5). Cũng như vậy, các cây cối được tạo ra với khả năng sinh sản ngay từ lúc ban đầu.

Trước khi Đức Chúa Trời tạo nên sự sống của các loài cây, Ngài đã tạo nên quyển khí mà có thể hỗ trợ cho sự sống đó. Ngài đã tạo nên các vòng tuần hoàn giữa ánh sáng, và sự tối, nước và không trung. Mặc dầu Kinh Thánh nói rõ ràng rằng Đức Chúa Trời tạo nên sự sống trên cây cối đầu tiên, nhưng hầu hết các nhà khoa học đã hoàn toàn không đồng ý. Bắt đầu với quyển khí thân thiện như được mô tả ở trên, chỉ bởi các quá trình tự nhiên.

Thuyết Tiến Hóa Về Nguồn Gốc Của Sự Sống

Theo như thuyết tiến hóa, cách đây một vài tỷ năm khi mà một trái đất trẻ đã có một không trung hoàn toàn khác biệt với trái đất của chúng ta. Bởi vì trái đất đó đã không đủ khí ô-xy tự do, các nhà khoa học lúc đầu nghĩ rằng nó chỉ chứa Metan, Amonia, hy-đrô, và hơi nước. Hầu hết họ cũng đã xem lại thuyết của họ cho đến bây giờ và cho rằng quyển khí lúc đó chủ yếu chứa khí các-bôn đi-ô-xin, hơi nước và ni-tơ. Bởi tác động của tia cực tím, sự tỏa điện, và sự ném bom liên tục của các hạt và phân tử được nạp nhiều tạo nên một cách ngẫu nhiên. Các phân tử bao gồm đường, axit amino, và các phần của DNA. Các phần va chạm vào nhau càng nhiều và tạo nên các phân tử và chuỗi phân tử mỗi lúc mỗi lớn lên không ngừng. Những phân tử khổng lồ này sau đó phản ứng cho đến khi một giai đoạn ở dạng tế bào cơ bản được hình thành, một lần nữa thông qua một quá trình ngẫu nhiên. Cuối cùng, những đám sền sệt của các tế bào đầu tiên. Những tế bào sống đầu tiên đó được nuôi dưỡng bởi những nguyên tố cho đến khi tách rời ra trong “súp nguyên thủy”.

Ngay sau đó các tế bào quang hợp phát triển đã tạo ra và giải phóng vào trong không gian một thành phần cần thiết cho nói chung là tất cả các hình thức sự sống: ô-xy. Ô-xy đó, và sự trao đổi chất của những tế bào đầu tiên này, phá hủy những tế bào nguyên thủy và thay đổi quyển khí nguyên thủy thành quyển khí mà chúng ta biết đến. Một khi sự sống được tạo nên, quyển khí trái đất cũng được thay đổi bởi sự đưa vào của lượng lớn khí ô-xy mà cuộc sống đã không thể nào phát triển một cách ngẫu nhiên trên đất được. Nói cách khác, một sô nhà khoa học tranh luận về một quyển khí ô-xy hóa nguyên thủy mà đã làm ô-xy hóa các phân tử nguyên thủy ngay sau khi chúng được hình thành.

Có sự ngẫu nhiên nào mà sự sống đã có thể phát triển cách tự nhiên trong một món súp nguyên thủy nói theo cách bóng gió? Hãy lấy ra một tế bào vi khuẩn đơn. Một vi khuẩn chứa một nghìn năm trăm enzim khác nhau, mỗi enzim chứa hàng trăm amino acids. Các amino acids này được sắp xếp theo thứ tự một cách chính xác. Cơ hội mà một enzim, bao gồm hàng trăm amino acids (khoảng 20 loại khác nhau) có thể phát triển một cách ngẫu nhiên là 1 trong 20200. Nói cách khác, cơ hội thực tế là không. Và đó chỉ là một trong một nghìn năm trăm enzim cần thiết cho một vi khuẩn. Thậm chí nếu các vi khuẩn nguyên thủy ít phức tạp hơn nhiều so với những vi khuẩn hiện tại (một số cho rằng chúng đã có ít nhất là 70 protein khoảng độ dài của một trăm amino acids), cơ hội ở đây gần như là không. Ngoài ra, nguồn gốc của một tế bào sống đơn, sau đó, yêu cầu hàng tỷ kí-lô của mỗi loại của nhiều enzim và phân tử DNA khác nhau, kết hợp và tái kết hợp cách ngẫu nhiên cho đến khi, ngược lại với toàn bộ sự có thể, một sự kết hợp đúng ngẫu nhiên xảy ra.

Sáng Tạo Tự Phát

Cách đây một vài thế kỷ, con người thường được thuyết phuc rằng cuộc sống đã phát triển một cách ngẫu nhiên ở khắp mọi nơi. Điều này được biết đến là thuyết về sáng tạo tự phát. Điều này đã được tin theo, ví dụ, các con ruồi có thể được phát triển từ một miếng thịt thúi. Mất khoảng hai thế kỷ để các người chống đối khoa học về điều này có thể thuyết phục mọi người rằng sự sống chỉ có thể đến từ sự sống. Vô số các thí nghiệm chỉ ra rằng nếu có sự vệ sinh thận trọng đúng đắn, như là ngăn không cho các con ruồi đẻ trứng ở trên thịt thúi thì không có sự sống mới nào được phát triển. Cuối cùng, vào những năm 1860, Louis Pasteur lấy một ít nước thịt, nấu sối kỹ, sau đó đóng kín lại để ngăn sự gây nhiễm của các vi khuẩn mới. Nước thịt vẫn trong suốt và vô trùng. Không có một sự sống mới nào cả. Sự mặc nhận khoa học được chấp nhận của cả thế giới đã trở thành: Sự sống chỉ có thể đến từ những vật sống.

Một cách tò mò, cũng những nhà khoa học theo giáo lý đã ủng hộ mặc nhận tin rằng sự sống đã không phát triển từ sự không sống cách đây hàng tỷ năm. Những nhà khoa học như vậy nhận ra rằng sự không kiên định trong việc kết luận những khả năng có thể của điều đó trong quá khứ trong khi khước từ khả năng có thể của nó trong hiện tại. Phương pháp giải quyết của họ đó là: Điều kiện đã phải rất khác lúc đó so với điều kiện sống của chúng ta bây giờ. Việc chú ý rằng không có bằng chứng kết luận rằng các điều kiện sống lúc đó rất khác là rất quan trọng. Chính sự khác biệt đó hoàn toàn không xác nhận bất kỳ bằng chứng nào. Thế nhưng hầu hết văn bản khoa học giới thiệu về sự tồn tại của súp nguyên thủy đó và tại một quyển khí nguyên thủy là sự thật.

Nhưng chắc chắn rằng một số người đã cố gắng để chứng minh rằng cuộc sống vẫn có thể đến từ sự không sống.

Sự Sống Trong Một Ống Thí Nghiệm

Trong suốt những năm 1950, công việc của nhà khoa học Stanley Miller đã thu hút sự chú ý. Ông cố gắng tạo nên các khối xây dựng đơn giản cho sự sống, amino acids. Để làm điều đó là điều cơ bản cần thiết trong việc cố gắng để tạo ra sự sống từ sự không sống trong điều kiện phòng thí nghiệm. Miller nhân đôi quyển khí mà các nhà tiến hóa học đã mặc nhận như là việc chu cấp cho hoàn cảnh đối với nguồn của sự sống. Sau đó ông đã thành công trong việc tạo nên một số phân tử quan trọng đối với những khối xây dựng sự sống. Ông đã hoàn thành điều đó bằng việc tái tạo lại quyển khí chứa Metan, a-mô-ni-ắc, hy-đrô và hơi nước. (để nạp điện)

Thí nghiệm của Miller không chỉ tạo ra các phân tử không quan trọng cho việc xây dựng sự sống, nó cũng tạo nên các phân tử “tay phải” bất thường theo sinh học. Thí nghiệm của Miller làm phức tạp hóa hơn là đơn giản hóa các nguyên nhân cho các nhà theo thuyết tiến hóa. Bầu quyển khí nguyên thủy có tạo ra cả hai loại phân tử hay không? Nếu như vậy, tại sao bất kỳ phân tử xây dựng sự sống nào tách biệt chúng ra khỏi những phân tử khác đủ lâu để phản ứng và tạo nên một tế bào sống đầu tiên? Và nếu quyển khí không giống như quyển khí trong các thí nghiệm của Miller, làm sao chúng ta biết nó là gì và tại sao nó chỉ tạo ra những phân tử xây dựng sự sống? Vẫn nguyên nhân với thí nghiệm của Miller đã chứng minh lớn hơn so với phương cách ông tìm kiếm để cung cấp cho nguồn của sự sống.

Như được đề cập trước đó, hầu hết các nhà khoa học bây giờ đồng ý rằng quyển khí nguyên thủy chứa metan, a-mô-ni-ác, hy-đrô và hơi nước được dùng bởi Miller, nhưng các-bôn đi-ô-xít, hơi nước và ni-tơ, và một số người tranh luận cho sự hiện diện của khí ô-xy tự do. Hơn nữa, hãy nhớ rằng Miller đã không tạo nên bất kỳ một tế bào sống nào. Không tạo nên nhiều phân tử cơ bản, xa rất nhiều so với sự phức tạp của một tế bào sống.

Triết lý gia Robert Augros và nhà vật lý thuyết George Stanciu chỉ ra sự đáng kể của sự phức tạp này:

Vật chất có nhiều khả năng nhưng cũng chỉ có giới hạn nhất định. Chúng ta cần phân biệt hai loại hình mà vật chất có khả năng có được. Một loại hình được tạo ra bởi một tác nhân ở trong chính vật chất đó theo như các luật được công nhận bởi vật lý và hóa học…

Một loại hình thức khác không bắt nguồn từ bất cứ tác nhân nào ở trên trong chính bản thân vật chất. Ví dụ, một khối đá nước được khắc đẽo thành một tượng của Poseidon. Khối đã đó nhận được hình thức này theo cách hoàn toàn thụ động, không hề có sự liên quan của tự nhiên đến nó…Việc xác định hình thức cụ thể này của tác phẩm Poseidon phải đến từ một tác nhân khác ở ngoài- một nghệ sỹ ở trong trường hợp này. Tất cả những tác phẩm của con người là các ví dụ của loại hình này được đặt lên từ việc không có tác nhân.

Vậy thì các nguyên nhân tự nhiên rơi vào trong các loại hình nào? Chúng ta đặt loại hình của một con ngựa trưởng thành hay là một cây Sồi trưởng thành ở đâu? Các loại hình của các thành phần hoặc hợp chất được nổi lên bởi sự cần thiết về mặt vật lý và hóa học. Ví dụ, khí hy-đrô và ô-xy có xu hướng tự nhiên ở dạng tạo thành nước. Các loại hình tự nhiên không được tạo thành theo cách này nhưng được xây dựng nên theo như các quy định về gen. Nguyên nhân của chính nó không có xu hướng bẩm sinh để tạo nên một chiếc ghế hay một vi mạch. Nó phải được nói cho cách để tạo nên một con ngựa hoặc một cây sồi bằng từng tế bào một, bằng từng protein một, thông qua các quy định theo mã hóa học. Nguyên nhân có thể được tạo thành một con số không giới hạn của các hình thức tự nhiên và không khác nhau với tất cả chúng. Vì thế nên, các hình thức tự nhiên không phải là các sản phẩm của sự cần thiết vật lý hoặc hóa học giống như các hình thức của hợp chất và thành phần…

Vì thế những cơ thể sinh vật có điều gì đó giống với các loại hình nghệ thuật…Sự khác nhau chính đó là các hình thức nghệ thuật có các các động bên ngoài trong khi các dạng tự nhiên có sự tác động ngay ở chính bên trong. Vì thế trong mỗi vật thể sống có điều gì đó tương tự giống như nghệ thuật con người…

Nguyên nhân không cần những sự hướng dẫn đặc biệt để tạo nên các hạt tuyết hoặc Natri Clorua. Những hình thức này ở trong khả năng của nó. Không nhiều đối với các loại hình tự nhiên. Nhưng những hình thức sống vượt quá tất cả những hình thức tự nhiên khác, không đơn thuần bởi vì những hoạt động độc nhất của nó nhưng cũng bởi vì luật vật lý và hóa học không thể tạo nên chúng.

Điều gì tạo nên chúng? Điều tác động chịu trách nhiệm đối với nguồn của mã số gen di truyền và hướng dẫn nó để tạo nên các loại động vật và giống cây là gì? Nó không thể là nguyên nhân vì bản thân nguyên nhân không có xu hướng đến những hình thức này, bất cứ hình thức nào hơn như vậy phải tạo nên Poseidon hoặc hình thức của một vi mạch hoặc bất cứ đồ vật nào. Phải có một tác động ngoài nguyên nhân mà có khả năng tạo thành và hướng dẫn nguyên nhân. Có bất cứ điều gì theo như kinh nghiệm của chúng ta giống như vậy? Vâng, có đấy: là tâm trí của chính chúng ta. Hình thức của một tượng vật được bắt nguồn từ tâm trí của một người họa sỹ, người đó sau đó tạo nên nguyên nhân, theo một cách thích hợp. Tâm trí của một người họa sỹ là tác động cuối cùng đến việc hình thức đó tồn tại trong nguyên nhân, thậm chí nếu người đó sáng tạo nên một cổ máy để tạo nên các tượng. Cũng một lý do tương tự như vậy, phải có một tâm trí hướng dẫn và tạo thành các hình thức tự nhiên. Thậm chí nếu điều đó được tạo ra bằng việc tạo ra các cơ chế hóa học (DNA) để thực hiện công việc một cách tự động, người họa sỹ này vẫn là tác nhân gốc của những hình thức đó tồn tại trong nguyên nhân. Nguyên nhân này tức là Đức Chúa Trời, và tự nhiên là công việc của tay Đức Chúa Trời.

Thậm chí nếu những nhà hóa sinh có thể thành công trong việc tạo nên một điều gì đó mà có thể giống với sự sống hoặc thậm chí là sự sống. Điều này sẽ không chứng minh rằng cuộc sống được bắt nguồn một cách tự phát là kết quả của các quá trình ngẫu nhiên. Thay vào đó, họ cũng đã chỉ ra rằng cuộc sống có thể được tạo ra từ tác nhân và năng lượng khi năng lượng được hướng dẫn và điều khiển bởi một nguồn hỗ trợ khôn ngoan và kỹ năng kỹ thuật tuyệt vời.

Làm Thế Nào Để Entropy Liên Quan Đến Sự Tiến Hóa?

Như chúng ta đã thảo luận trước đây, một trong những luật cơ bản nhất của vũ trụ đó là luật entropy, luật thứ hai đó là luật nhiệt động lực. Nói một cách ngắn gọn, điều này có nghĩa là trong bất cứ quá trình chung nào, lượng năng lượng sẵn có hoặc dùng được giảm xuống hoặc ít hơn so với lượng có sẵn của trước quá trình. Trong thuật ngữ vũ trụ học điều này có nghĩa là cuối cùng thì cả thế giới sẽ trở nên nguội đi, chậm lại và không còn sử dụng năng lượng được nữa. Entropy có nghĩa là các quá trình có xu hướng đi về phía lộn xộn hơn là phía có tổ chức, đi về phía ngẫu nhiên hơn là có trật tự hơn. Bolton Davidheiser đưa ra một sự mô tả về entropy:

Khi một cái đồng hồ có dây bị sai lệch, năng lượng được đặt vào trong sợi dây cót dường như cuộn mỗi lúc càng chặt hơn. Khi sợi dây cót không bị cuộn nữa, năng lượng này khiến đồng hồ hoạt động. Nhưng vì ít năng lượng có sẵn cho việc đồng hồ hoạt động hơn là số năng lượng đã được đặt vào trong sợi dây cót trong suốt quá trình lên dây bởi vì một số năng lượng đã mất đi dưới dạng nhiệt. Trong bất kỳ hoạt động nào, một số năng lượng bị mất đi dưới dạng nhiệt hoặc ở một số dạng khác do đó điều này không ích lợi cho quá trình. Vì thế tổng lượng năng lượng có ích trở nên ít hơn. Các nhà khoa học chắc chắn rằng trừ khi có một nguồn sáng tạo đang hoạt động trong vũ trụ, sẽ đến lúc mà mặt trời và các ngôi sao sẽ cháy hết và cả vũ trụ sẽ “xuống cấp” một cách hoàn toàn.

Sự “xuống cấp” của vũ trụ đưa ra một vấn đề thật sự cho các nhà vô thần, vì làm thế nào để nó có thể được “nâng cấp” ngay từ lúc ban đầu để mà có bây giờ có thể ở trong quá trình “xuống cấp”.

Khi chúng ta nhìn vào sự tiến hóa, chúng ta thấy vấn đề mà các nhà tiến hóa học gặp phải trong việc làm hòa thuận thuyết tiến hóa với luật entropy. Sự phát triển của một tế bào sống yêu cầu rằng một tác nhân không sống ngẫu nhiên tổ chức chính chúng “đi lên” để bước đến một mức độ trật tự cao hơn, phức tạp hơn và có chủ đích hơn. Nhưng định luật thứ hai của nhiệt động lực học chứng minh rằng, thay vào đó là xu hướng không bao giờ phát triển lên trong tổ chức của sự sống.

Các nhà tiến hóa học nhận thức được thuyết phân cực nhiệt động lực học, tuy nhiên vẫn tin nơi sự phát triển ngẫu nhiên của cuộc sống. Họ cố gắng để hòa hợp vấn đề bằng cách bác bỏ định luật thứ hai là chỉ được áp dụng trong một ‘hệ thống có liều lượng”, ví dụ, hệ thống mà không có trao đổi hoặc hợp lý. Năng lượng trong và của chính bản thân nó không đóng góp điều gì vào sự tổ chức hoặc thiết kế. Đơn giản là thêm vào năng lượng từ mặt trời không mang đến sự phát triển thêm vào trong các quá trình ngẫu nhiên mà các nhà tiến hóa học mô tả về nguồn gốc của sự sống. Một chồng gồm các gạch và gỗ sẽ không bao giờ ngẫu nhiên phát triển thành một tòa nhà, cho dù nếu năng lượng từ mặt trời tỏa sáng trên nó trong một tỷ tỷ năm. Tác nhân và năng lượng là các lý do không đủ cho một sự phức tạp, thiết kế và phát triển mà chúng ta thấy chung quanh chúng ta. Walter L. Bradley của Texas Trường Đại Học A& M mô tả điều này:

Đôi khi có tranh luận rằng có xu hướng tự sắp xếp trong tự nhiên mà có thể xem như là những trật tự có thể quan sát được ở trong các hệ thống sống. Sự tạo thành tinh thể cũng giống như xoáy cuộn (giống như trong bồn tắm của bạn khi nước gần chảy hết) hoặc các dòng nhiệt đối lưu thường được xem như là các ví dụ của xu hướng tự sắp xếp vào trật tự trong tự nhiên. Những sự phân tích như vậy đã thất bại trong việc nhận ra rằng các nguồn nước xoáy theo trật tự, các tinh thể, vân vân là rất thừa so với những trật tự được quan sát ở trong các hệ thống sống mà khá đa dạng và thông tin cường độ cao. Ba chuỗi từ dưới đây mô tả một sự sắp xếp ngẫu nhiên, một sự có tổ chức cao nhưng theo sự sắp xếp rườm rà, và có sự sắp xếp thông tin với cường độ lớn và tổ chức cao:

  • Ngẫu nhiên:

ACDBGEF ADGEBFC CBFGEAD

  • Có trật tự nhưng rườm rà (như là một tinh thể)

ABCDEFG ABCDEFG ABCDEFG

  • Có trật tự và với thông tin cường độ mạnh (giống như DNA hoặc Protein):

THIS SEQUENCE OF LETTERS CONTAINS A MESSAGE! (CHUỖI CÂU NÀY BAO GỒM CÁC CHỮ CÓ CHỨA MỘT THÔNG ĐIỆP!)

Để cho một hệ thống trở nên phức tạp hơn, cần phải có mức độ phức tạp thêm vào, không chỉ là năng lượng. Khi các người Cơ Đốc Nhân nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, họ đang thêm vào Đấng Thiết Kế ở phía sau bản thiết kế, Đấng Khôn Ngoan sau sự khôn ngoan, Đấng Có Chủ Đích sau những chủ đích, và Tâm Trí sau sự phức tạp của vũ trụ. Trọng tâm của sự tranh luận của chúng ta, và lỗi sai hoàn toàn trong tranh luận về tiến hóa, là các Cơ Đốc Nhân có một nguồn hợp lý cho sự phát triển và sự phức tạp ở trong vũ trụ, trong khi các nhà tiến hóa học không có một nguồn hợp lý cho thế giới mà họ thấy xung quanh họ. Năng lượng là không đủ để giải thích cho trật tự, phức tạp, chủ đích và thiết kế mà chúng ta thấy trong thế giới được tạo ra chung quanh chúng ta.

Sự Sống Đã Đến Từ Đâu?

Thuyết tiến hóa thì không đủ để giải thích cho sự phức tạp và thiết kế ở khắp mọi nơi được chứng minh ở trong các cơ quan sống. Các nhà tiến hóa học đã lấy tác nhân và năng lượng, và thêm vào thời gian, vẫn chưa trả lời được vấn đề. Tác nhân, năng lượng và thời gian chỉ có thể tạo ra một trật tự rườm rà với một sự phức tạp không đáng kể khi so sánh với các cơ quan sống. Điều cần ở đây là một người thiết kế hoặc người lên kế hoạch. Các Cơ Đốc Nhân biết rằng Đấng Thiết Kế là Đức Chúa Trời.

Sau đây là một sự so sánh của hai góc nhìn triết lý thông thường trong việc giải thích về thế giới và nguồn gốc của nó.

Người Theo Tiến Hóa Học Vô Thần:

Tự nhiên học: Tự nhiên là tổng hợp của thực tế. Kiến thức của thế giới có thể hoàn toàn đạt được thông qua các phương pháp của khoa học. Không cần phải tìm kiếm để giải thích thế giới theo một cách nào khác.

Sự đồng dạng: Thuyết về Quá Trình Đồng Dạng cho biết rằng kiến thức của thực tại thì đủ cho việc giải thích quá khứ và tiên đoán về tương lai. Điều này được thực hiện dựa trên sự căn bản của một số định luật tự nhiên nhất định mà được tuyên bố là không thay đổi. Không có sự liên quan gì đến thần trong lịch sử.

Cơ Hội (Nhân Quả): Cuộc sống bắt đầu là một kết quả của một sự kiện mang tính cơ hội. Kết quả cuối cùng của sự kiện mang tính cơ hội là một kết quả hơn là một sự đạt được của một mục đích. Bởi vì các hình thức hiện tại của cuộc sống được tạo nên bởi cơ hội, chúng có thể đã nỗi lên trong các hình thức khác hoặc không hề.

Người Tin Có Đấng Sáng Tạo

Có Thần: Khoa Học Tự Nhiên chính bản thân nó không đủ để cung cấp các câu trả lời cho câu hỏi về sự sống (1 Cô-rinh-tô 2: 12-14). Một phần của thực tế có thể được giải thích chỉ bằng các thuật ngữ tâm linh (Giăng 4: 24). Một cách nhìn hoàn hảo về thực tế nhận thấy được cả các khía cạnh tự nhiên và các khía cạnh siêu nhiên.

Chủ Quyền: Thế giới được tạo nên bởi Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 11:3, Sáng Thế Ký 1: 1,2, 2 Phi-e-rơ 3: 5-6). Đức Chúa Trời đã không thay đổi và đã tạo nên một thế giới tuân theo các định luật tự nhiên gống nhau nhất định (Hê-bơ-rơ 13:8; Châm Ngôn 3: 19-20). Nhưng lịch sử của vũ trụ không thể giải thích được chỉ theo các định luật tự nhiên bởi vì Đức Chúa Trời không nằm dưới các luật đó (Ma-thi-ơ 19: 26).

Chủ Đích (thuyết mục đích): Thế giới được tạo nên bởi Đức Chúa Trời cho mục đích của Ngài. Tất cả lịch sử là một sự làm theo kế hoạch của Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 1L 16-17, Ê-phê-sô 1: 9-12). Con người được tạo nên theo hình ảnh của chính tính cách thánh của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1:26, Rô-ma 8:28-29).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *