16. Niềm Tin

Từ thứ ba này rất dễ bị hiểu sai. Chúng ta cần phải hiểu một số điều về nó khi nó xuất hiện ở trong Kinh Thánh:

  • Các từ hay khái niệm về lòng tin, niềm tin, sự tin cậy và tin tưởng thường được dùng thay thế lẫn cho nhauÁp-ram tin cậy nơi Đức Chúa Trời/ Ông tin vào những điều Đức Chúa Trời phán.Áp-ram tin Đức Chúa Trời./ Ông biết Đức Chúa Trời là đáng tin cậy.
  • Áp-ham có sự tin tưởng nơi Đức Chúa Trời./ Sự tin tưởng của ông ở nơi mình Chúa mà thôi.
  • Áp-ram đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Trời/ Ông có niềm tin vào lời Ngai.

Lòng tin được xây dựng trên sự thật, không phải cảm nhận. Khi chúng ta ngồi trên một cái ghế, chúng ta tin rằng nó sẽ giữ chúng ta lại. Bạn không ngồi trên nó bởi vì bạn có cảm giác tuyệt vời hoặc một cảm xúc qúa đỗi với cái ghế. Nhưng mà, bạn quan sát rằng chiếc ghế là một vật thật, và dựa trên sự thật đó, bạn nghỉ ngơi trên nó. Đức tin của Áp-ram được đặt trên một sự thật- đó là lời hứa của Đức Chúa Trời. Đó là vấn đề của một phép tính số học đơn giản.

Chúa nói, “Ngươi sẽ có một con trai”

                   +   Đức Chúa Trời Đấng Sáng tạo toàn năng và nói sự thật

                   =  Áp-ram sẽ có một con trai

Không phải là mức độ tin cậy bạn có, mà là bạn đặt niềm tin của mình ở nơi đâu. Đức tin của Áp-ram có thể có những lúc nao núng, nhưng sự tin cậy của công được đặt nơi Chúa cách chắc chắn.

Niềm tin Kinh Thánh thực sự không dừng lại ở sự vắng mặt các sự thật trong đầu. Nếu niềm tin đó dừng lại như vậy, thì có không phải là một niềm tin chân that.

 Nếu không có đức tin thì không ai có thể sống vừa lòng Thượng Đế được. Ai đến cùng Ngài phải tin rằng có Thượng Đế và Ngài thưởng cho người thật lòng tìm kiếm Ngài.  Hê-bơ-rơ 11:6

Niềm tin có thể được mô tả bằng một cách sau đây: Hai người bạn đang ở tại một hội chợ trong thị trấn. Một người hỏi người kia “Bạn có tin rằng tàu lượn siêu tốc sẽ vẫn nằm trên đường ray?” Người kia trả lời, “Tất nhiên tôi tin rồi!” Sau đó người bạn đầu tiên liền nói, “Được rồi, vậy hãy cùng đi lên đó!” Nếu người bạn thứ hai trở nên lưỡng lự và bắt đầu đưa ra những biện hộ trong việc không muốn tham gia chơi trò này, nó thật sự không chắc rằng anh ấy thật sự tin. Mặc dầu anh có thể nói điều đó bằng miệng, nhưng quan trọng hơn, anh có sự nghi ngờ trong long.

Áp-ra-ham quá cao tuổi không thể nào có con, còn Sa-ra thì không thể sinh sản được. Nhưng nhờ đức tin ông đã sinh con vì ông tin Thượng Đế có quyền thực hiện được lời hứa của Ngài.
Hê-bơ-rơ 11:11

Tàu lượn siêu tốc có thể là một điều đáng nghi và có thể có những lý do hợp lý khác cho việc không chơi trò này, nhưng điểm chính là ở đây: lòng tin hay niềm tin ảnh hưởng đến những hành động của chúng ta.

Nhờ đức tin, Áp-ra-ham vâng theo tiếng gọi của Thượng Đế đi đến một nơi Ngài hứa ban cho ông. Ông rời quê hương mà không biết mình sẽ đi đâu.   Hê-bơ-rơ 11:8

Lòng tin của Áp-ram vượt xa hơn sự đồng thuận. Ông dâng cuộc sống của ông, danh tiếng của ông, và các hành động của ông về điều đó. Bởi vì ông tin, ông vâng lời Đức Chúa Trời và đi đến một vùng đất mới. Bởi vì ông tin, ông dâng các của lể thiêu, tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu ông ra khỏi những hậu quả của tội lỗi.

Điều quan trọng để hiểu về sự vâng lời của Áp-ram đã không phải là một sự cố gắng để chứng tỏ với Đức Chúa Trời hay những người khác về sự chân thật của lòng tin của ông ấy. Nhưng mà, bởi vì ông tin cậy nơi Chúa, kết quả tự nhiên là ông đã làm những điều mà Đức Chúa Trời muốn ông làm. Cho nên khi chúng ta đọc những từ, “Áp-ram tin cậy nơi Đức Chúa Trời…” chúng ta cần phải suy nghĩ về tất cả những điều mà nó ám chỉ đến.

Bởi vì đức tin của Áp-ram, Đức Chúa Trời đã đổi tên cho ông thành Áp-ra-ham, có nghĩa là cha của nhiều con, và Sa-rai trở thành Sa-ra, có nghĩa là công chúa. Đó là cách của Đức Chúa Trời để nói lên rằng Ngài sẽ giữ lời hứa của Ngài mặc dầu cả hai người họ đều đã quá tuổi sinh nở.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *