Category Archives: Tìm Hiểu Kinh Thánh – Chuyên Sâu – Learn The Bible In Depth

Niềm tin của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

Tháng 7 năm 1994, người Việt Nam có một tin vui. Đó là tin “Tìm thấy một bản Truyện Kiều được viết tay từ năm 1894, tại Luân Đôn”.

Hầu như tất cả chúng ta đều phải nhận rằng Truyện Kiều là một án văn truyệt tác trong văn chương Việt Nam. Người viết Truyện Kiều là Đại Văn Hào Nguyễn Du, tự là Tố Như. Nguyễn Du đã theo “Truyện Thúy Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, bên Trung Quốc để viết Đoạn Trường Tân Thanh, tức là “Truyện Kiều” ngày nay. Dù vậy, “các nhà phê bình văn học đều cho rằng, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là một tác phẩm có tính cách sáng tạo.

Khi đọc Truyện Kiều ai cũng phải khen ngợi Nguyễn Du đã viết những dòng thơ tả tình, tả cảnh thật đặc sắc. Nhưng nếu chúng ta đọc Truyện Kiều để thưởng thức cái hay của việc tả cảnh hay tả tình thì chưa đủ. Tại sao? Tại vì Nguyễn Du vốn đã từng làm quan với nhà Lê, nhưng nay phải làm quan cho nhà Nguyễn. Điều này Ông cho là lỗi đạo với nhà Lê. Nên Ông đã viết Truyện Kiều để gởi gắm tâm sự của mình. Ông mượn lời nàng Thúy Kiều để than thở với nhà Lê:

“ Kim Lang ơi! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Điều đặc biệt hơn nữa là khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa ra những quan điểm về niềm tin trong Nho Giáo, trong Phật Giáo và niềm tin riêng của ông.

Nho Giáo tin vào Trời, tức là Đức Chúa Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đề cập rất nhiều về niềm tin Nho Giáo. Viết Truyện Kiều tới 3.254 câu, thế mà mới viết đến câu số 7, Nguyễn Du đã đề cập đến “Trời” ông viết:

“Lạ gì bỉ sắc thư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”

Trong niềm đớn đau, nhìn con phải bán mình chuộc cha. Vương Ông than thở:

“Trời làm chi cực bấy Trời!”

Thúy Kiều có khi đã phó thác số phận của mình cho Trời:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem Con Tạo xoay dần tới đâu?”

Niềm tin vào Trời của Nho Giáo đã được Nguyễn Du viết rõ ràng như sau:

“Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân,

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

Nho gia tin rằng Trời đã định cho ai số mạng thế nào, thì người ấy phải chịu vậy mà thôi. Chính Khổng Tử dạy: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý do Thiên” (Tạm dịch: Chết sống có mạng, giàu sang tại Trời).

Nếu chúng ta để ý sẽ thấy Nguyễn Du không những đề cập đến Nho Giáo mà Ông cũng đề cập đến Phật Giáo nữa: “Rỉ rằng: Nhân quả dở dang.” Nhân quả là một giáo lý rất quan trọng của Phật Giáo. Nguyễn Du giảng giải thêm rằng:

“Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”.

Dần về cuối truyện, niềm tin Phật Giáo được Nguyễn Du diễn đạt rõ hơn nữa, như:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Nghiệp là gì? Phật Giáo tin rằng “nghiệp do nơi mình gây ra, không có Ông Trời ở trong Cái Nghiệp. Mình gây ra “cái nghiệp” thì mình chịu kết quả và ảnh hưởng của nghiệp ấy… Nhà Phật chủ trương nghiệp báo; không công nhận mệnh Trời”.

Nho Giáo dạy đệ tử tin vào Ông Trời. Phật giáo dạy Phật Tử tin vào chính mình. Đức Phật dạy rằng : “Tội lỗi do tâm của người tạo ra, không ai có quyền thưởng phạt được”. Vì “Nghiệp lực do tâm đạo, nghiệp lực cũng do tâm hủy diệt. Tự chính mình tạo lấy, rồi tự chính mình hủy diệt. Không có một vị Thần Linh nào có quyền hủy hoại hoặc ban phước cho ai cả”. Cho nên Hòa Thượng Thích Thanh Từ viết: “Hạnh phúc hay đau khổ do mình chủ động trọn vẹn, chớ không do ai khắc, ngay Phật, Trời cũng không dự phần trong đó”. Vị Hòa Thượng dạy thêm rằng: “Đừng bao giờ xem Đức Phật đủ cả quyền năng ban phúc, giáng họa. Cũng không nên ỷ lại, gởi gắm cả cuộc đời mình vào quyền năng của Ngài. Nếu có tư cách đó là phản bội Đức Phật và cũng không phải là người phật tử.”

Như vậy, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đề cập đến “Thiên mệnh” của Đạo Nho và “cái nghiệp” của Đạo Phật. Ngoài ra, Nguyễn Du còn nói đến một niềm tin của riêng Ông. Ông viết:

“Có Trời mà cũng tại ta.”

Điều này, Nguyễn Du đã đi đến niềm tin giống như nhiều tin trong Đạo của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dạy: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16). Sống đời đời là sống ở trên Thiên Đàng với Đức Chúa Giê-xu mãi mãi. Trong câu này có hai điểm chính: (a) Đức Chúa Trời tức là “Trời”; (b) hễ ai, nghĩa là “chúng ta”.

  • Khi Nguyễn Du nói “Có Trời” Ông đã nói đúng vào điều quan trọng trong Đạo Chúa. Đạo Chúa nói: “Trời” và nói rõ là “Trời” đã yêu thương nhân loại. Nhìn vào nhân loại, ai cũng thấy đầy dẫy tội lỗi như: “Gian ác, hiểm độc, nói xấu, phao vu, ghét Đức Chúa Trời, xấc láo, kiêu căng, khoác lác, ưa tìm cách làm ác mới mẻ, nghịch cha mẹ, không phân biệt thiện ác, bội ước, không tình nghĩa, không thương xót.” (Rô ma 1: 29-31 BDY). Dù nhân loại tội lỗi như vậy, Đức Chúa Trời cũng thương yêu đã bằng lòng ban xuống cho nhân loại Con Một của Ngài, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Đấng đã đến trần gian và chịu khổ hình trên cây thập tự- dù Ngài vô tội- để chịu hình phạt thay cho những người biết mình có tội bằng lòng tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình.
  • Khi Nguyễn Du nói “cũng tại ta”. Ông đã nói đúng vào điều quan trọng nữa ở trong Đạo của Chúa. Đạo của Chúa nói: ‘ta’ là chúng ta, tức là ‘hễ ai’ nghĩa là “hễ ai tin con ấy”, tức là tin Đức Chúa Giê-xu là Đấng vô tội “chịu chết vì chính chúng ta”. (I Cô-rinh-tô 15:3). Ta phải tin. Tại sao? Vì dù là Chúa Cứu Thế Giê-su đã hoàn tất chương trình cứu rỗi nhân loại mà Đức Chúa Trời đã hoạch định để cứu loài người, nhưng không phải vì vậy mà tất cả nhân loại đều được cứu. Sự cứu rỗi phải có ở ai phía: Một bên là do Đức Chúa Trời, một bên là do loài người.
  • Bên phía Đức Chúa Trời, là “Trời”. Ngài đã hoàn tất điều Ngài cần phải làm, là Con Ngài đã chịu chết thay cho tội nhân trên cây thập tự.
  • Bên phía loài người là ‘ta’. ‘Ta’ phải tin nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa của mình. Thánh Kinh viết rõ : “Ấy là nhờ ân điển và đức tin mà anh em được cứu.” (Ê-phê-sô 2:8). Ân điển hay ân huệ là do “Trời”, còn lòng tin thì do chính “ta”.

Đức Chúa Trời cho chúng ta được tự do, chúng ta được tùy ý quyết định tin hay không tin Con của Ngài là Đức Chúa Giê-xu. Cho nên, chúng ta có thể nói như Nguyễn Du đã nói: “Có Trời mà cũng tại ta”.

Khái niệm “Ông Trời” đối với người Việt Nam là gì?

Từ lâu người Việt Nam đã biết có Ông Trời, tin Ông Trời và cầu khẩn Ông Trời. Niềm tin này vốn có trong tiềm thức của người dân Việt ngay cả khi có các tôn giáo khác du nhập vào nước ta. Niềm tin này đã thể hiện qua ngôn ngữ và nếp sống của chúng ta.

Kêu Trời

Điều dễ hiểu nhất và không ai phủ nhận được là hễ gặp bất cứ việc gì bất lợi xảy đến, câu nói buộc miệng trước hết của người Việt Nam là kêu “Trời ơi”.

Khi rủi ro đứt tay, vấp chân, té ngã, người ta kêu Trời. Khi gặp buồn khổ, chán nản, chết chóc, thất bại, người ta kêu Trời. Khi thành công, hạnh phúc, bình an, người ta nói nhờ Trời. Khi gặp tai nạn người ta kêu Trời cứu. Chúng ta thường nói: “Cầu Trời cho tai qua nạn khỏi”.

Kính Trời

Tuy không biết rõ ông Trời là Đấng như thế nào nhưng người Việt Nam ai cũng kính Trời, vì hiểu rằng có Ông Trời rồi mới có ta. Trong ngôn ngữ bình dân, dù là câu nói vui đùa mỗi khi mà nhắc đến Trời thì người ta không dám nói thiếu chữ Ông đi trước chữ Trời. Người ta gọi “Ông Trời” với lòng tôn kính. Người Tin Lành tôn thờ Ngài nên gọi là Đức Chúa Trời.

Cầu Trời

Người Việt Nam phần lớn sống bằng nghề nông nghiệp, biết rằng mùa màng được hay mất cũng do Trời

Nhờ Trời năm nay được mùa!

Người nông dân lúc nào cũng tâm nguyện cầu Trời cho cơm no áo ấm:

Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm…

Chúng ta truyền tụng về ơn Trời bằng những câu ca dao, bài hát dân dã:

Nhờ Trời mưa thuận gió hòa

Nào cầy nào cấy trẻ già đua nhau

Hoặc

Lạy Trời mưa thuận gió đều

Cho đồng lúa tốt, cho chiều lòng em.

Người Việt Nam tôn trọng chữ hiếu và mong cho cha mẹ sống lâu, gia đình được phước. Vì thế họ lập bàn thờ Ông Thiên để thờ Trời ngay trước cửa nhà. Người con có hiếu từng đêm đến trước bàn thờ cầu khẩn:

Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Tin Trời

Trải bao đời, người Việt tin Ông Trời là Đấng Tạo Hóa, tạo thiên lập địa, Đấng cầm quyền sống chết làm chủ vận mệnh muôn loài, quyền phép vô cùng. Người Việt chúng ta đều quen thuộc với những khái niệm:

Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh.

Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần.

Trời sinh voi sinh cỏ.

Trời cho ai nấy hưởng.

Trời kêu ai nấy dạ.

Sống nhờ ơ Trời, chết về Chầu Trời.

Cũng có câu:

Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay.

Người Việt công nhận và tin tưởng Ông Trời cầm quyền thành bại trong cuộc sống của loài người:

Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.

Người Việt tin Trời là Đấng Công Bình, cầm quyền họa phú vì vậy đã thường nhắn nhủ với nhau:

Ở hiền thì gặp lành

Những người nhân đức Trời dành phúc cho.

Người Việt cũng tin tưởng:

Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân

Nghĩa là: Trời không phụ bạc người có lòng tốt bao giờ

Trong hôn nhân đôi lứa người Việt tin tưởng hạnh phúc vợ chồng là do Ông Trời sắp đặt:

Duyên ba sinh Trời đã sẵn dành.

Khi thấy số phận không may hoặc tình duyên dang dở, người ta thường ngửa mặt lên Trời than thở, dường như muốn nói với Đấng Tạo Hóa hết lòng mình rằng:

Chữ bạc mệnh ai ơi thấu với

Câu đa đoan Trời hỡi thấu chăng?

(Trong ‘Tự tình khúc’ của Cao Bá Nhạ).

Thi hào Nguyễn Du đã khuyên trong truyện Kiều:

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn Trời gần xa

Kết luận truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:

Ngẫm hay muôn sự tại Trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Nhờ Trời

Lịch sử Việt Nam có ghi chép chuyện về danh tướng Lý Thường Kiệt, trong lúc kháng cự quân Tống xâm lăng đã làm bốn câu thơ và loan truyền là do Thần Linh báo mộng ban cho để khích lệ tinh thần binh sĩ yên tâm đánh giặc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Sông núi nước Nam, vua Nam ở)

Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư (Rành rành định phân tại sách Trời)

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm)

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!)

Đây là cách áp dụng chiến tranh tâm lý-mượn oai Trời. Kết quả là quân lính nức lòng đánh giặc, quân Tống không tiến được nữa đành giảng hòa. Rõ ràng câu chuyện này nói lên niềm tin mãnh liệt của dân tộc Việt nơi tể trị của Ông Trời, trong đó mọi vận mệnh nhân dân đất nước do Trời định đoạt.

Nước non là nước non Trời

Ai chia được nước, ai dời được non?

Thờ Trời

Trải qua nhiều thế kỷ, ngay cả khi có các triết lý, tôn giáo của Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo truyền đến, người dân Việt vẫn lấy tín ngưỡng thờ Trời làm nền tảng để giữ gìn truyền thống dân tộc, gia đình. Cả ba tôn giáo chính nói trên đã góp phần củng cố thêm niềm tin hợp với đạo Trời. Ngay cả Phật Giáo với khái niệm mờ nhạt về Ông Trời khi đến Việt Nam cũng phải chấp nhận ý niệm “Cầu Trời khấn Phật”.

Hợp lẽ Trời, thuận lòng người, là đạo lý của người Việt Nam. Dù thực hành tín ngưỡng nào, người Việt ai nấy cũng công nhận:

Thuận Thiên gia tôn, nghịch Thiên gia vong.

Nghĩa là: Thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất.

Chính vì đó mà người dân Việt thờ Trời.

Ngay từ thời các vua Hùng dụng nước người ta đã biết thờ Trời. Mỗi năm nhà Vua thay mặt nhân dân lập đàn tế Trời, cầu Trời cho dân chúng được an cư lạc nghiệp.

Trong gia đình người ca thay mặt để cầu Trời phù hộ cho gia đình, con cháu hạnh phúc. Các triết lý du nhập từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ đã không thể đồng hóa hoàn toàn tín ngưỡng của người dân Việt được. Trái lại, những tín ngưỡng nào phù hợp với tình cảm thiêng liêng trong sáng của người Việt thì được tiếp nhận với tinh thần chọn lọc phê phán.

Người Việt Nam chúng ta phần lớn không tin ở thuyết luân hồi. Bằng cớ là nhiều người Việt thờ cúng ông bà vì tin rằng vong linh ông bà vẫn còn ở đó. Mỗi năm nhân dịp Tết cổ truyền, người ta rước ông bà về vui xuân với con cháu, rồi tiễn ông bà đi. Nếu tin ở thuyết luân hồi thì phải tin ông bà cha mẹ đã hóa kiếp thành người ngoại quốc nào khác, hoặc con thú nào đó trong rừng, hoặc con vật nào đó trong bầy gia súc trong vườn…Nếu tin rằng ông bà đã luân rồi, đầu thai hóa kiếp thì người ta sẽ không rước tiễn ông bà, cũng không dám ăn thịt hoặc giết chết một con vật nào. Rõ ràng người Việt Nam chúng ta tin ở giá trị thiêng liêng và bất tử của linh hồn. Chúng ta tin ở đời sau. Chúng ta tin một cách mơ hồ rằng linh hồn của mọi người chết là về chầu Trời.

Người dân Việt Nam hiền hòa nhưng bất khuất. Lúc cần ai nấy đều có thể chịu đựng hy sinh vì nghĩa lớn. Trong quan hệ bình thường, người Việt áp dụng tinh thần “dĩ hòa vi quý”.

Trong cuộc sống có những điều không lý giải được, người Việt vẫn tin tưởng ở mệnh Trời, hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn:

Còn Trời còn đất còn non nước

Có lẽ ta đâu mãi thế này?

Người Việt tin tưởng và yêu chuộng những nguyên tắc sau:

Ở hiền gặp lành,

Ông Trời có mắt.

Người Việt quý trọng và ao ước những giá trị trời ban như thiên ân, thiên tài, thiên bẩm, thiên chức, thiên hương, thiên tướng, thiên tư. Tuy nhiên…

Người Việt Hiểu Biết Về “Ông Trời” chưa đầy đủ.

Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, sự nhận biết về Đức Chúa Trời có thể nói là một sự hiểu biết tự nhiên mà Ông Trời ban cho nhân loại. Dân tộc nào cũng có chữ Ông Trời hay Thượng Đế trong ngôn ngữ của mình.

Thật vậy, khi quan sát vạn vật thiên nhiên với cảnh trí đẹp đẽ tuyệt vời, với không gian bao la vô tận, với sự cấu tạo tinh vi, diệu kỳ, muôn hình vạn trạng, với quy luật bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông, trật tự chính xác vô cùng, với bản năng lạ lùng bất biến của các loài vật…rồi nhìn lại con người với thân thể kỳ diệu, với sự nhiệm mầu trong việc sinh sản, với tình cảm thiêng liêng, với những giá trị tinh thần, với những kinh nghiệm về quy luật đạo đức trải qua các đời, với ý chí tự do lựa chọn…cùng với bao nhiêu chứng cớ khác nữa trong cuộc sống, người ta phải thừa nhận có Đấng Tạo Hóa, có Ông Trời. Chính Ông Trời đã tạo nên tất cả, Ngài đang điều khiển, bảo tồn tất cả quy luật thiên nhiên và đạo đức trên thế giới này.

Nhưng thiên nhiên chưa đủ để con người biết rõ về bản tính, ý muốn và chương trình vĩnh cữu của Đức Chúa Trời. Bởi trong thực tế khi nhìn thiên nhiên có người suy luận hữu thần, có người suy luận phiếm thần, hoặc có người suy luận đa thần, thậm chí có người suy luận vô thần. Thiên nhiên chưa đủ để người ta biết rõ Đức Chúa Trời thực hữu độc lập với các tạo vật do Ngài dựng nên và Ngài là Chân Thần duy nhất.

Người Việt biết ông Trời có bản tính công bình, nhưng chưa biết Đức Chúa Trời là Đấng đầy lòng thương và ân điển.

Người Việt tin mệnh Trời không ai thay đổi được, kể cả số phận của mỗi người cũng được an bài, nhưng người Việt chưa biết Đức Chúa Trời là Đấng tôn trọng ý chí tự do của con người và là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.

Người Việt biết mình cần ăn ở hiền lành, nhưng không biết rằng tất cả việc mình lành mình làm dù cao quý vẫn còn thiếu hụt, không thể sánh với tiêu chuẩn trọn lành mà Đức Chúa Trời đòi hỏi, chẳng khác nào ngọn đèn cầy (nến) đem so sánh với ánh sáng Mặt Trời. Người Việt cần đón nhận chân lý của Chúa để bù đắp cho sự thiếu hụt của mình.

Người Việt biết nguyên tắc “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” nhưng không biết căn nguyên của mọi nỗi đau khổ bất hạnh trong cuộc đời là do tội lỗi của loài người xây lưng phản nghịch lại với Đức Chúa Trời. Người Việt trước hết cần được Chúa tha tội.

Người Việt biết mình cần được cứu rỗi và đã khổ công đi tìm sự cứu rỗi, nhưng chưa biết con đường cứu rỗi duy nhất là chương trình do Đức Chúa Trời vạch sẵn đã được thực hiện bởi con Ngài là Đức Chúa Giê-xu. Người Việt cần đặt lòng tin nơi sự toàn năng, toàn tri, toàn thiện, toàn mỹ của một Đức Chúa Trời chân thật. Nhiều niềm tin của người Việt về Ông Trời rất gần gũi với Thánh Kinh nhưng vẫn chưa đầy đủ.

Một số người do không biết Thánh Kinh nên cứ tưởng Ông Trời là hình ảnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế theo trí tưởng tượng của người Trung Hoa. Thậm chí có người còn ngây thơ tin chuyện Tề Thiên Đại Thánh là thật, và theo đó Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng phải chịu thua Tôn Ngộ Không.

Chính vì thế mà người Việt chúng ta cần có sự mặc khải đặc biệt, đúng đắn, trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Sự mặc khải đặc biệt này chỉ có thể tìm được trong Thánh Kinh và qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Đức Chúa Giê-xu chính là hiện thân của “Ông Trời” giáng thế.

Có rất nhiều lý do để chúng ta tin Chúa Giê-xu chính là “Ông Trời” giáng thế để cứu vớt nhân loại nói chung và người Việt chúng ta nói riêng.

Các Chứng Cớ

  1. Chính Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là con Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-xu phán: “Ta là con đường, chân lý và sự sống: Không ai đến với Cha mà không qua Ta” (Giăng 14:6)

Ngài khẳng định: “Sự sống đời đời là đây này: Họ nhận biế Cha, là Đức Chúa Trời có một và thật, và nhận biết Chúa Giê-xu Christ là Đấng đã sai đến” (Giăng 17:3).

Ngài còn phán: “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). Rồi Ngài phán tỏ tường: “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30).

Một người tự xưng mình là Ông Trời giáng thế thì ta chỉ đưa đến kết luận (1) đó là người điên, (2) đó là người lừa dối, hoặc (3) đó là người nói thật. Cuộc đời và ảnh hưởng của Chúa Giê-xu chứng tỏ Ngài không phải là người điên. Ngài không đến để lừa dối và Ngài luôn nói thật.

Chúng ta chỉ có thể khước từ hoàn toàn hoặc chấp nhận hoàn toàn lời tuyên xưng của Ngài. Một Đức Chúa Trời thành người thì người đó phải sống, phải nói, phải làm được việc mà xưa nay chỉ “Ông Trời” mới làm được mà thôi.

Đem áp dụng tiêu chuẩn này vào Chúa Giê-xu, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng chính Ngài là con Trời giáng thế như Ngài đã tuyên xưng. Chính vì lời tuyên bố độc đáo như vậy mà xưa nay chỉ có “Ông Trời” mới làm được mà thôi.

Đem áp dụng tiêu chuẩn này vào Chúa Giê-xu, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng chính con Trời giáng thế như Ngài đã tuyên xưng. Vì thế lời tuyên bố độc đáo như vậy mà giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái bấy giờ đã cho Ngài là phạm thượng và quyết định xử tử Ngài. Dù đối diện với cái chết, Chúa Giê-xu vẫn không thay đổi lập trường và những lời tuyên xưng của Ngài. Chúa Giê-xu đã chết và sống lại với những lời tuyên bố thẳng thắn của Ngài.

  1. Chúa Giê-xu làm những việc phi thường mà chỉ có Ông Trời mới có khả năng làm.

Để chứng minh cho lời tuyên xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu đã làm nhiều việc lạ lành mà chỉ có Ông Trời mới làm được mà thôi.

Ngài có quyền trên sự sống loài người.

Ngài chữa lành mọi bệnh tật, khiến người mù được thấy, người điếc được nghe, người phung được sạch, người què kẻ bại được đi, thậm chí Ngài khiến kẻ chết sống lại.

Ngài có quyền đuổi ma quỷ.

Ma quỷ biết Chúa Giê-xu và run sợ trước uy danh của Ngài. Khi Ngài phán, ma quỷ liền vâng lệnh ra khỏi người bị quỷ ám. Ngài chiến thắng mọi cám dỗ của ma quỷ.

Ngài có quyền trên thiên nhiên.

Ngài hóa nước thành rượu. Ngài đi bộ trên mặt biển. Ngài phán một lời thì cơn bão biển yên lặng như tờ. Ngài hóa 5 cái bánh và 2 con cá cho 5000 người ăn dư dật. Ngài chỉ dẫn các môn đồ đánh được những mẻ lưới đầy cá.

Ngài có lòng thương xót quảng đại.

Ngài tha thứ cho những người tội lỗi và khuyên họ đừng tái phạm. Ngài sẵn sàng lắng nghe, tiếp xúc với mọi hạng người. Ngài yêu thương, bồng ẵm là ban phước cho các trẻ thơ. Ngài động lòng thương xót khi thấy các đoàn dân đông như chiên không có người chăn. Ngài không từ chối một ai tìm đến với Ngài.

Ngài tuyên bố tha tội và chấp nhận sự thờ phượng của nhiều người.

Đây là hành động của một Đức Chúa Trời sống giữa thế gian.

Sứ đồ Giăng quả quyết khi viết sách Phúc Âm Giăng: “Đức Chúa Giê-xu đã làm nhiều phép lạ khác nữa trước mặt môn đồ Ngài, mà không được chép trong sách này. Nhưng những việc này được chép ra để các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ. Con Đức Chúa Trời và để khi tin thì các ngươi nhờ danh Ngài mà được sống” (Giăng 20: 30-31).

2. Chúa Giê-xu nói những lời mà chỉ Ông Trời mới có đủ thẩm quyền nói được.

Ngài phán dạy về mối quan hệ của con người. “Các ngươi có nghe dạy rằng. Hãy yêu thương người lân cận và ghét kẻ nghịch thù. Nhưng ta nói cùng các ngươi: Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các ngươi. Như thế, các ngươi mới trở lên con của Cha các ngươi ở trên trời được, vì Ngài khiến mặt trời mọc lên cho kẻ ác và người thiện, Ngài ban mưa xuống cho người công bình lẫn người bất chính.” (Ma-thi-ơ 5: 43-45).

Ngài dạy về thái độ nên có với Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời là Thần Linh nên ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và bằng sự chân thật”. (Giăng 4:24).

Đức Khổng Tử khuyên dạy: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì mình không muốn người ta làm cho mình thì đừng làm điều đó cho họ. Còn Chúa Giê-xu thì dạy chúng ta hành động cách tích cực hơn.

“Vậy trong mọi sự, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình thì hãy làm điều đó cho họ (Ma-thi-ơ 7:12).

Chúa Giê-xu quả quyết: “Trời đất này sẽ qua đi, nhưng lời ta nói sẽ không qua đâu” (Ma-thi-ơ 24:35). Chắc chắn không một phàm nhân nào dám nói câu này/

Chúa Giê-xu còn tuyên bố Ngài là ánh sáng của thế gian, là bánh sự sống, là nước hằng sống, là người chăn hiền lành vì chiên phó sự sống mình. Ngài dạy những kẻ theo Ngài phải trở nên trọn vẹn như cha ở trên trời là trọn vẹn. Ngài truyền cho những kẻ theo Ngài phải sống có ích như muối của đất, như ánh sáng của tehes gian, phải thực hành điều răn: Kính Chúa, yêu người.

Không một giáo chủ nào có khả năng giải đáp rõ về thiên đàng, hỏa ngục, thiên sứ, ma quỷ, đời sau, sự phán xét, sự sống vĩnh cửu và mọi nan đề khác như Chúa Giê-xu đã dạy. Ngài dạy có thẩm quyền và rõ ràng, không ai có thể bắt bẻ được. Không cần ai nói trước. Ngài vẫn biết rõ hết tên tuổi, tâm trạng thân phận từng người. Chúa Giê-xu đang biết rõ bạn và tôi. Ngài là Đấng Toàn Tri, Toàn Hảo và Toàn Năng.

3. Chúa Giê-xu không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Người theo Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo tự hào rằng giáo chủ của họ ra đời trước Chúa Giê-xu năm sáu trăm năm. Người Do Thái hãnh diện về tổ phụ của họ là Áp-ra-ham đã ra đời trước Chúa khoảng 2000 năm, nhưng Chúa Giê-xu đã tuyên bố rằng: “Trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta” (Giăng 5: 58) nghĩa là Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Sứ đồ Giăng đã xác chứng: “Ban đầu có Ngôi Lời (Chúa Giê-xu). Ngôi lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi lời là Đức Chúa Trời. Từ ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời.  Mọi vật do Ngài tạo nên, chẳng vật chi đã được dựng nên mà không bởi Ngài (Giăng 1: 1-3).

Ít nhất có ba lần Thánh Kinh ghi lại tiếng phán từ trời phát ra giữa lúc nhiều người nghe thấy, nói rằng “Này là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn, hãy nghe lời Con đó.

Trước khi về Trời. Chúa Giê-xu truyền lệnh cho các môn đồ: “Tất cả uy quyền trên trời và dưới đất đã giao cho Ta. Vậy hãy đi làm cho mọi dân tộc trở thành môn đồ Ta: hãy nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ và dạy họ giữ tất cả những điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và này, Ta hằng ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 28: 19-20).

Hiện nay, Ngài đang ở với chúng ra trong thân vị của Đức Thánh Linh. Thánh Kinh quả quyết “ Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi”. (Hê-bơ-rơ 13:8)

4.  Nhiều nhân chứng đang tin xác tín Chúa Giê-xu là con Đức Chúa Trời.

Có nhiều nhân chứng đáng tin sống trước Chúa, đương thời Chúa và sau Chúa xác tín Chúa Giê-xu là con Đức Chúa Trời giáng thế.

Các tiên tri làm chứng

Tiên tri là những phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Tiên tri Ê-sai báo trước về việc Chúa Cứu Thế giáng sinh bởi nữ đồng trinh. Ngài được xưng là Đấng Mưu Luận, là Đấng Lạ Lùng, là Đức Chúa Trời quyền nằng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An. Ngài cũng được xưng là Đấng Em-ma-nu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.

Thiên sứ làm chứng

Thiên sứ là những sứ giả của Đức Chúa Trời thi hành mạng lệnh của Ngài. Khi báo tin cho nữ đồng trinh Ma-ri, thiên sứ nói: “Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Này ngươi sẽ chịu thai và sinh một con trai, đặt tên là Giê-xu. Con Trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là con của Đấng rất cao…” (Lu-ca 1: 30-32).

Giăng Báp-tít làm chứng

Giăng Báp-tít là người được Đức Chúa Trời sai đến để dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Giăng đã giới thiệu về Chúa Giê-xu. “Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Ấy về Đấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta. Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-tem bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên. Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bò câu, đậu trên mình Ngài. Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Đấng sai ta làm phép báp-tem bằng nước có phán cùng ta rằng: Đấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Đấng làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Ta đã thấy nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời.

Sự chết đền tội của Chúa Giê-xu xác nhận Ngài là Chúa Cứu Thế

Chúa Giê-xu giáng thế không phải để dạy triết lý về sự cứu rỗi hoặc chỉ cho người ta con đường tu luyện để tự cứu rỗi. Ngài giáng thế là để thực hiện sự cứu rỗi bằng cách chịu chết đền tội cho cả loài người. Ngài đã chọn con đường thập tự giá là con đường khiêm nhường thay cho kiêu ngạo, vâng phục ý Trời thay cho ý riêng, vị tha thay cho vi kỷ, thuận phục thay cho phản nghịch, cậy sức Chúa thay cho cậy sức riêng.

Con đường thập tự giá là dung khí của tinh thần bất dao động, của lòng tin sắt đá với chính nghĩa, của niềm tin tất thắng với sự công chính. Vì thương xót loài người, Chúa Giê-xu kiên quyết đến với thập tự giá với tinh thần dũng cảm, hy sinh. Ngài biết chắc: “Khi Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”. Chúa Giê-xu phải chết công khai, treo thân trên thập tự giá giữa khoảng Trời và đất để giải hòa mối quan hệ vốn đứt đoạn giữa Trời và người. Chúa Giê-xu chịu chết đổ huyết để thỏa mãn đòi hỏi của luật pháp, theo đó “Không đổ huyết thì không có sự tha tội” (Hê-bơ-rơ 9:22). Chúa Giê-xu chịu hy sinh để mở cho nhân loại con đường sống, nhờ đó nhân loại có quyền trực tiếp đến với Đức Chúa Trời. Trên thập tự giá, Ngài cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì”, rồi Ngài tuyên bố “Mọi sự đã được trọn”. Sứ mạng của Ngài đã được hoàn tất. Ngàu đã trả xong nợ tội cho tất cả chúng ta.

Người đội trưởng La Mã chứng kiến cái chết hùng tráng, lạ lùng của Ngài đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Đức Chúa Trời”

Sự sống lại khải hoàn của Chúa Giê-xu chứng minh Ngài đúng là con Đức Chúa Trời như Ngài tuyên bố.

Con đường thập tự giá hy sinh đã mở ra sự sống lại vinh hiển, cao trọng. Sự khiêm nhường được tôn cao, mão gai đau khổ đã nở hoa thành mão triều thiên, sự chết dẫn đến sự sống, hạt giống đã nảy mầm xanh. Sau ba ngày nằm trong phần mộ, Đức Chúa Giê-xu đã sống lại. Ngôi mộ trống, vải niệm còn nguyên, những lần hiện ra của Chúa, đời sống thay đổi lạ lùng của các môn đồ, những lời làm chứng quả quyết của họ, sự nhóm họp ngày Chúa Nhật thay cho ngày Sa-bát (Thứ Bảy), sự ra đời của Cơ Đốc Giáo…là những bằng chứng không thể chối cãi về sự phục sinh của Chúa.

Sự sống lại của Chúa Giê-xu đã chứng minh cho chân lý: Tình thương thắng hận thù, thiện thắng ác, sự sống thắng gian dối, ánh sáng thắng bóng tối, công lý thắng bất công. Đức Chúa Trời thắng Quỷ Vương. Đức Chúa Trời chấp nhận giá chuộc con Ngài đã trả thay cho loài người. Chúa Cứu Thế Giê-xu hiện ra đã làm ứng nghiệm mọi lời tuyên bố của Ngài.

Lịch sử nhân loại chứng minh Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế.

Trải qua 2000 năm, dân Do Thái bị tản lạc khắp thế giới, nhưng vẫn tồn tại và hồi hương lập quốc, nhân dân khắp năm châu có Cơ Đốc Giáo, có lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh, có ngày Chúa Nhật (Chủ Nhật), có niên hiệu Dương Lịch Trước Chúa và Sau Chúa (SC). Hàng năm có hàng triệu người hành hương thánh địa, có di tích ngôi mộ trống có một phần ba dân số thế giới xưng mình là Cơ Đốc Nhân (Kitô hữu), có nhà thờ, bệnh viện, có các trường Đại Học, các Đại Chủng Viện, có Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức bác ái từ thiện, có nền văn minh văn hóa hiện đại, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, đời sống phụ nữ và trẻ em được nâng cao, nhân quyền được tôn trọng…

Tất cả những thực tế đã mặc nhiên chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Nhân Độ Thế và thế giới không được như ngày nay nếu không có Ngài. Rồi còn bao nhiêu cuộc đời được đổi mới, kinh nghiệm sự ngọt ngào vui tươi, sống động khi gặp gỡ Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Những bằng chứng thực tế hùng hồn nói trên có làm cho bạn suy nghĩ ít nhiều về Chúa Giê-xu hay không? Chúa Giê-xu là ai và Ngài đã làm gì cho đời sống của bạn và tôi?

Chỉ cần bình tĩnh sáng suốt suy nghĩ một chút cũng đủ để chúng ta tin Ngài, chạy đến với Ngài, cảm tại Ngài và cảm kích, tôn thờ Ngài.

Con Đường Sống

Người Việt Nam chúng ta có truyền thống thờ Trời. Các tôn giáo và tín ngưỡng đã góp phần tốt đẹp cho truyền thống này. Đây cũng là nhờ ơn Đức Chúa Trời dọn đường để chúng ta đón nhận Đạo Trời do Đức Chúa Trời đem đến. Rất nhiều người đã đón nhận Đạo Trời và đang kinh nghiệm sự sống, bình an cho tâm hồn. Còn bạn thì sao? Có lẽ bạn đã có tôn giáo và không dễ để cho bạn thực hiện cuộc cách mạng tâm linh, khi bạn quyết định từ giã con đường cũ và bước vào con đường mới. Hơn nữa con đường theo Chúa là con đường thập tự giá, là con đường hẹp. Có thể bạn sẽ trả giá khi bị người thân hiểu nhầm hoặc bạn bè chê bai. Tuy nhiên con đường theo Chúa là con đường dẫn đến sự bình an và sự sống vĩnh cửu. Giá mà bạn phải trả không thể so sánh với phước hạnh mà bạn nhận được.

Đây là một vấn đề sống chết cần quyết định ngay, không thể chần chừ. Có ai biết lúc nào mình sẽ về chầu Trời? Mong sao bạn chọn ngay cho mình con đường đẹp lòng Trời. Mong bạn mau xác định lại niềm tin của mình cho hợp ý Trời.

Bạn đang là người tin theo Khổng Giáo chăng? Hãy nhớ lại lời của Khổng Tử: “Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo giả”, nghĩa là người phạm tội với Trời thì không thể cầu đạo ở đâu khác được. Khổng giáo nhấn mạnh đến Nhân Đạo nhưng không rành Thiên Đạo. Tin thờ Đức Chúa Trời như lời dạy của Chúa Giê-xu chắc chắn là hợp với tôn chỉ của các bậc thánh hiền.

Bạn đang thờ cúng ông bà chăng? Đạo Trời giúp bạn làm tròn bổn phận đối với Trời và với người một cách quân bình. Bạn có biết hiếu kính cha mẹ vừa là mạng lệnh vừa là một lời hứa của Đức Chúa Trời chăng? “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất.” (Ê-phê-sô 6: 2-3).

Bạn đang là đạo hữu Phật Giáo chăng? Phật giáo là tôn giáo chính của nhiều nước Á Đông. Triết lý Phật Giáo rất cao siêu, ít người đạt đến mục đích Giác Ngộ. Vì thế các phật tử dù khổ công tu luyện vẫn không biết chắc có được giải thoát chăng. Chúng tôi không có ý muốn tranh luận về triết lý tôn giáo, chỉ xin đưa ra đây vài nét khác nhau giữa triết lý Phật Giáo và Tin Mừng (Tin Lành) để bạn so sánh và lựa chọn.

  • Phật giáo chủ trương tự giác, cậy sức mình tu luyện là chính. Tin Lành chủ trương hoàn toàn tin cậy ân huệ và sức lực của Chúa.
  • Phật Giáo dạy các đạo hữu phải tạo ra công đức đền bù cho tội lỗi và tự giải thoát. Tin Lành dạy người có lòng lấy đức tin tiếp nhận ơn cứu rỗi như món quà quý báu Chúa đã sắm sẵn và tặng không cho chúng ta hưởng.
  • Mục đích của Phật Giáo là đến cõi Niết Bàn, tức là trạng thái không còn bản thân nữa, tịch diệt tham dục, không còn sinh tử luân hồi. Mục đích của người theo Chúa là được Chúa tha tội, được ơn cứu rỗi, bắt đầu một đời sống có ý nghĩa ngay trong cuộc sống hiện tại và tiếp tục vào cõi vĩnh hằng. Hy vọng của người theo Chúa là sau khi lìa đời được vui hưởng Thiên Đàng, sống đời đời ở một nơi có thật là nhà Cha, là thành Thánh vinh hiển, phước hạnh, là quê hương trên Trời. Người theo Chúa rất yên tâm và thỏa lòng về sự cứu rỗi Chúa ban.

Bạn có đang thỏa lòng với con đường tu hành của bạn không? Bạn có biết chắc mình sẽ được giải thoát không?

Có tôn giáo vẫn chưa đử, bạn cần phải biết chắc chắn là bạn sẽ được cứu rỗi linh hồn.

Phần lớn người Việt đều đã có tôn giáo, Nhưng có tôn giáo vẫn chưa đủ. Có nhiều triết lý chỉ có giá trị trong đời này mà không có giá trị trong đời sau.

Điều ưu tiên hàng đầu của chúng ta không phải theo một triết lý tôn giáo để trấn an lương tâm, mà phải có được một Đấng đảm bảo cứu ra thoát vòng tội lỗi và sự chết đời đời. Chúng ta cần thoát khỏi Hỏa Ngục và vui hưởng Thiên Đàng.

Hỏa ngục có thật cũng như Thiên Đàng có thật. Hỏa Ngục là nơi cả xác lẫn hồn đều đau đớn, khốn khổ. Trong Hỏa Ngục phản ứng của con người là khóc lóc, than vãn và nghiến răng. Hỏa ngục là nơi tối tăm, là vực sâu không đáy. Ở hỏa ngục không có hy vọng ra khỏi, không có nghỉ ngơi, không có thời hạn chấm dứt. Chỉ có những người tin cậy và vâng lời Chúa Cứu Thế Giê-xu mới vượt khỏi sự chết mà đến với sự sống, thoát khỏi Hỏa Ngục mà đến Thiên Đàng.

Các giáo chủ tôn giáo đã có nhiều cố gắng rất tốt, khuyên dạy chúng ta làm lành lánh dữ, nhưng mọi nỗ lực của loài người vẫn không đạt được tiêu chuẩn công bình, trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận giá trả của Chúa Giê-xu đền tội cho nhân loại mà thôi. Khi về chầu Trời thì không giáo chủ nào bên vực, khẩn đảo chúng ta được. Chính bản thân họ là người, cũng phải chầu Trời để chịu phán xét. Lúc đó chỉ có Chúa Giê-xu là Con Trời, hiện đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời cầu thay cho chúng ta mà thôi.

Vậy thì bạn hãy điều chỉnh đức tin để trở lại tôn thờ Đức Chúa Trời đúng như Chúa Cứu Thế Giê-xu vạch đường chỉ lối, chẳng những là việc làm hợp tình hợp lý mà còn là con đường sống duy nhất hôm nay.

Các Cách Nhìn Khác Về Thời Kỳ Cuối Cùng

Khi nói đến sự hiểu biết chương trình của Đức Chúa Trời cho thế giới, đoạn quan trọng nhất của Kinh Thánh là gì? Hay nói cách khác, nếu bạn đã nói rằng bạn đã phải từ bỏ tất cả Kinh Thánh, ngoại trừ một đoạn, bạn sẽ chọn đoạn nào? Đoạn nào là cơ bản cho tất cả những đoạn khác? Câu trả lời có thể khiến bạn ngạc nhiên!

Các đoạn cơ bản mặc khải chương trình của Đức Chúa Trời-những gì Ngài dự định sẽ làm, những gì Ngài vẫn tiếp tục làm trong hiện tại, và cuối cùng, những gì Ngài sẽ thực hiện được, được tìm thấy trong Sáng thế ký 12: 2-3:

Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.

Trong những lời mà Đức Chúa Trời đã phán cùng Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham ba điều: – (1) phước lành cho dân tộc –“ Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn”,  (2) phước lành cá nhân- “ta sẽ ban phước cho ngươi” và (3) phước lành phổ quát – ” các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.”

Để hiểu được những lời đó một người có ba lựa chọn: (1) Đức Chúa Trời đã có ba lời hứa, và chúng vô điều kiện; vì thế nếu chúng đã chưa bao giờ được thực hiện trọn vẹn thì phải có một thời điểm nào đó trong tương lai khi chúng sẽ được hoàn thành. (2) Đức Chúa Trời đã có ba lời hứa đó, nhưng con cháu của Áp-ra-ham đã không vâng lời Chúa và Chúa thay đổi suy nghĩ của mình- những lời hứa đó sẽ được hoàn thành về mặt tâm linh. (3) Đức Chúa Trời có đã có lời hứa đó, nhưng con cháu của Áp-ra-ham đã không vâng lời và do đó, lời hứa đã bị rút lại, chúng sẽ không bao giờ được hoàn thành. Các quan điểm được trình bày trong các trang trước bắt nguồn từ việc cho rằng sự lựa chọn đầu tiên là đúng.

Đức Chúa Trời Sẽ Hoàn Thành Lời Hứa Của Ngài Với Áp-ra-ham Theo Nghĩa Đen

Những người giữ điều xác tín này được biết đến như thần học Tiền Thiên Hi Niên (premillennialists) [những người tin rằng Chúa sẽ trở lại trước một nghìn năm Bình An]. Họ tin rằng Chúa Christ đến trên thế gian sẽ đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoạn nạn và kết quả là lập nên vương quốc của mình trên khắp thế giới và cai trị nó trong một nghìn năm. Trong vòng một nghìn năm bình an có ba trường phái tư tưởng; mỗi trường phái đặt để thời điểm cho sự Cất Lên Của Hội Thánh khác nhau so với thời kỳ hoạn nạn- Sự tái lâm của Chúa Giê-xu trong không trung mang Hội Thánh của Ngài cùng với với chính Ngài.

(1) Tiền Đại Nạn Tiền Thiên Hi Niên (Premillennial pretribulational)- Hội Thánh, thân thể của Đấng Christ, sẽ không đi qua hoạn nạn chút nào bởi vì sự Sự Cất Hội Thánh lên sẽ xảy ra trước khi bản án hoạn nạn được đổ ra trên đất. Chúa Giê-xu sẽ trở lại với trái đất bảy năm sau đó để kết thúc cuộc khổ nạn và thành lập vương quốc của mình trên trái đất.

(2) Trung Đại Nạn Tiền Thiên Hi (Premillennial midtribulational)- Hội Thánh sẽ trải qua giai đoạn nửa đầu của thời kỳ hoạn nạn vì việc Hội Thánh Được Cất Lên sẽ xảy ra vào giữa kỳ hoạn nạn, với Chúa Giê-xu đến thế gian ba năm rưỡi sau đó để thiết lập vương quốc của Ngài.

(3) Hậu Đại Nạn Tiền Thiên Hi (Premillennial posttribulational)- Hội Thánh sẽ đi qua các thời kỳ hoạn nạn qua bảy năm, vào cuối kỳ Đấng Christ sẽ đến và mang Hội Thánh của Ngài để ở cùng với chính Ngài trong khi sự phán xét được đổ ra trên mặt đất. Khi điều đó hoàn tất, Chúa Giê-xu sẽ trở lại thế giới với Hội Thánh của Ngài để thiết lập vương quốc của Ngài.

Tất cả những điều này đồng cho rằng các lời ban cho Áp-ra-ham phải được hiểu theo nghĩa đen-sẽ có một vương quốc dòng Đa-vít nghìn năm qua trên thế giới này mà Đức Chúa Giê-xu Christ sẽ ngự trị. Sự khác biệt của chúng liên quan đến mối quan hệ của Hội Thánh đối với thời kỳ hoạn nạn. Các quan điểm được trình bày trong các trang trước là Tiền Đại Nạn Tiền Thiên Hi Niên.

Đức Chúa Trời Sẽ Làm Trọn Lời Hứa Của Mình Với Áp-ra-ham Về Mặt Thuộc Linh

Những người không tin rằng Đức Chúa Trời theo nghĩa đen sẽ thực hiện lời hứa của mình với Áp-ra-ham để tạo nên một quốc gia theo nghĩa đen bắt nguồn từ Ngài được biết về mặt thần học là Vô Thiên Hi Niên (amillennialists) [những người này tin rằng sẽ không có một nghìn năm trị vì của Đấng Christ theo nghĩa đen]. Các tín hữu nắm giữ quan điểm này bị chia rẽ về các vấn đề đó là Đức Chúa Trời đã rút lời hứa của mình hoàn toàn do của sự không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên hoặc điều này là kết quả của sự không vâng lời của Y-sơ-ra-ên, Ngài chỉ đơn giản là thay đổi suy nghĩ của mình và đã chọn việc thực hiện lời hứa của mình về mặt thuộc linh, trong một dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, Hội Thánh thuộc linh . Đối với tất cả các mục đích thực tế, kết quả cuối cùng là như nhau.

Vô Thiên Hi Niên (Amillennialism) [việc không tin vào một nghìn năm trị vì của Đấng Christ theo nghĩa đen] bắt nguồn từ việc xác định cần thiết giữa dân Y-sơ-ra-ên và Hội Thánh-Y-sơ-ra-ên tức là dân thời Cựu Ước của Đức Chúa Trời và Hội Thánh là người Tân Ước của Đức Chúa Trời. Những lời hứa được ban cho Áp-ra-ham là theo nghĩa đen nhưng vì sự bất tuân của dân Y-sơ-ra-ên sẽ không được làm trọn theo nghĩa đen, nhưng sẽ được làm trọn về mặt thuộc linh trong Hội Thánh. Bước ra khỏi những xác định này, sự tái lâm của Đấng Christ không phải là một việc đến theo nghĩa đen về việc Hội Thánh được cất lên không trung hoặc Đấng Christ đến trên đất để thành lập vương quốc của Ngài, nhưng thay vào đó sự đến trong tấm lòng của người dân trong Tân Ước của Đức Chúa Trời tại điểm cứu rỗi. Sẽ không có lúc nào Đấng Christ sẽ trở lại theo mắt thấy hoặc trong không trung để mang Hội Thánh của Ngài ở với Ngài mãi mãi hay đến thế gian để thiết lập vương quốc của Ngài và cai trị nó. Người tin vào Vô Thiên Hi Niên (Amillennialists) [Những người không tin vào một nghìn năm trị vì của Đấng Christ theo nghĩa đen] là không đúng với ghi chép về các sự kiện trong tương lai mà cuối cùng sẽ bước vào đời đời với Thiên Chúa sẽ ngự trị tối cao.

Lời Hứa Của Đức Chúa Trời Với Áp-ra-ham Là Không Đáng Kể

Những người giữ vị trí này được biết đến là các nhà thần học Hậu Thiên Hi Niên (postmillennialists) [những người tin rằng Chúa Giê-xu sẽ trở lại sau một khoảng thời gian nhưng không nhất thiết là một nghìn năm]. Họ chú ý đến lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham nhưng tập trung vào thực tế rằng những lời tiên tri Cựu Ước cho thấy một Đấng Mê-si sẽ là tiên tri, thầy tế lễ, và vua. Những lời tiên tri cuối cùng được hoàn thành trong Đấng Christ, Đấng là hiện nay đang ngự trị ở trên trời là vua của vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời. Giống như những người theo Vô Thiên Hi Niên, Hậu Thiên Hi Niên xác nhận việc tái lâm của Đấng Christ cho các tín hữu đi vào lòng của họ tại thời điểm cứu rỗi. Nếu có một khổ nạn, đó là quá khứ. Những điều này sẽ tiếp tục trở nên tốt hơn và tốt hơn cho đến khi cuối cùng tình hình trên trái đất sẽ trở nên đủ tốt để Đấng Christ sẽ có thể mang vương quốc trên trời đến trái đất và ngự trị đời đời.

Kết Luận

Nhìn vào ba trường tư tưởng chính về mặt lịch sử, quan điểm thông thường nhất là quan điểm của Tiền Thiên Hi Niên. Quan điểm này dường như là quan điểm của các tác giả Tân Ước, người dự kiến ​​sự trở lại của Đấng Christ trong thời điểm của họ.

Quan điểm thường gặp tiếp theo là quan điểm Vô Thiên Hi Niên, bắt nguồn từ Augustine vào thế kỷ thứ tư. Nói về số lượng, quan điểm đó hầu hết phổ biến giữa các tín đồ Cơ đốc giáo, bởi vì đó là quan điểm của thần học cải cách và thần học Công giáo La Mã giống nhau. Nó cũng quan điểm của hầu hết các giáo phái Tin Lành chính thống.

Cho đến thời điểm gần đây, Hậu Thiên Hi Niên phần lớn được bỏ; Thế chiến thứ I, cuộc Đại Khủng Hoảng của năm ba mươi, và Thế chiến II đã chứng minh sự không kiên định với các khái niệm về một nghìn năm hiện nay. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, một nhánh của Hậu Thiên Hi Niên đã trở nên phổ biến ở một số nhóm nhỏ.

Trong khi quan điểm khác nhau về thời điểm cuối cùng xuất phát từ cách giải nghĩa Thánh Kinh khác nhau, mỗi người giữ quan điểm của mình vì những lý do đủ cho chính họ. Mỗi người giữ các giáo lý căn bản cơ bản về sự truyền cảm của Thánh Kinh, sự sinh ra bởi nữ đồng trinh của Chúa Giê-xu Christ, và sự cần thiết tuyệt đối của việc Chúa Giê-xu chịu chết đối với sự cứu rỗi của nhân loại. Sự khác biệt về quan điểm liên quan đến các sự kiện trong tương lai là không xứng đáng với việc cắt đứt mối tương giao giữa các tín hữu với nhau.

Vương Quốc Nghìn Năm Và Hơn Thế

Đến lúc này chúng ta phải hỏi, điều gì sẽ xảy ra với những tín hữu khi Chúa Giê-xu Christ đến trên thế gian để thành lập vương quốc của ngài? Trong phần học này, chúng ta sẽ xem xét ba sự kiện mà các tín hữu sẽ trải nghiệm khi Chúa Giê-xu Christ trở lại thế gian để thành lập vương quốc Ngài.

Những Tín Hữu Sẽ Đi Cùng Với Chúa Giê-xu Khi Ngài Trở Lại Thế Gian

Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cuỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. (Khải Huyền 19: 11-15)

Khi Đấng Christ đến trên thế gian để thành lập vương quốc của Ngài, Ngài sẽ đến như một người chiến thắng. Ngài sẽ cỡi trên một con ngựa trắng (Khải Huyền 19:11) và bản tính thật của Ngài –Trung Tín và Chân Thật sẽ được nhận ra (Khải Huyền 19:11). Không có nghi ngờ gì về đặc tính của Ngài- Ngài là Chúa Giê-xu Christ, Con của Đức Chúa Trời, đến như một Vị Vua chiến thắng! Ngài là Đấng duy nhất hoàn toàn trung tín: Ngài là đấng duy nhất hoàn toàn chân thật.

Mô Tả Về Đấng Christ

Qua ngôn từ mô tả của Giăng về Đấng Christ khi Ngài trở lại thế gian để thành lập vương quốc của Ngài chúng ta có thể học được ít nhất năm điều. Đầu tiên “Mắt Ngài như ngọn lửa” (Khải Huyền 19:12a) – Ngài sẽ thấy mọi thứ cách rõ ràng; không có gì có thể thoát khỏi sự để mắt của Ngài. Sẽ không còn có nguy cơ án xử không công bình xảy ra bởi vì Ngài sẽ thấy mọi điều như chúng thật là vậy. Cũng sẽ không có trường hợp khiến Ngài bỏ qua bất cứ điều gì hoặc ai đó xứng đáng chịu án phạt, bởi vì sẽ không có việc thoát khỏi án phạt. Đối với những người xứng đáng nhận nó, sẽ không có việc họ thoát khỏi án phạt đó. Thứ hai “trên đầu Ngài có nhiều mão triều thiên” (Khải Huyền 19:12b). Sẽ không có sự nghi ngờ nào cho việc Ngài lấy quyền ở đâu để phán xét, vì những mão triều thiên trên đầu Ngài ngụ ý rằng Ngài là Vua của các vua và có uy quyền để thực hiện việc phán xét. Uy quyền của Ngài sẽ không bị nghi vấn hay thách thức. Thứ ba, “Ngài có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được” (Khải Huyền 19:12c). Ngôn ngữ của Giăng ngụ ý rằng mặc dầu họ biết Ngài là ai và không nghi vấn về uy quyền của Ngài để phán xét, Ngài vẫn không thể mô tả được cho những người không tin. Mặc dầu họ nhận ra án phạt họ nhận là công bình, nhưng về phần họ thì không có nổ lực để ăn năn và trở nên đúng với Ngài. Họ không biết Ngài. Thứ tư, “Ngài mặc áo nhúng trong huyết” (Khải Huyền 19:13a). Đây là cách nói của Giăng để chúng ta biết rằng khi Ngài trở lại thế gian để thành lập vương quốc của Ngài, Chúa Giê-xu sẽ được mặc lấy trang phục cho việc xử án. Đây là mục tiêu tức thì của Ngài, và Ngài cũng mặc cách thích hợp và đúng đắn cho nhiệm vụ mà Ngài phải thực hiện nhanh chóng thành công. Thứ năm, “Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời” (Khải Huyền 19:13b). Mặc dầu con người không nhận ra Ngài bởi vì họ bị phân cách khỏi Ngài về mặt tâm linh, những người tin biết Ngài là ai và Giăng xác nhận Ngài như cách ông đã từng làm trong sách Phúc Âm ông viết (Giăng 1:1)- Lời của Đức Chúa Trời (Ngôi Lời). Ngài cũng là Đấng có “lúc ban đầu” và đời đời ở trong mối thông công với Đức Chúa Cha và chính Ngài có những tính cách đặc trưng quan trọng của Chúa. Ngài hiện thân tất cả mà Đức Chúa Trời muốn nói với loài người, và hiện thân cho tất cả về chính Đức Chúa Trời.

Ngài là Con đời đời của Đức Chúa Trời Đấng đã trở nên xác thịt, chết trên cây Thập Tự Giá vì tội lỗi của thế giới, Ngài được nhận lại vào trong nước thiên đàng, và bây giờ sẽ trở lại trên thế gian để thành lập vương quốc của Ngài.

Đội Binh Đi Cùng Đấng Christ

Khi Đấng Christ trở lại trên thế gian để thành lập vương quốc của Ngài, Ngài sẽ không đến một mình; sẽ có một đội binh hùng vĩ đi cùng với Ngài. Mô tả của Giăng cho chúng ta biết ba điều về đội binh này. Đầu tiên, có một “đội binh trên trời” (Khải Huyền 19:14a). Những đội binh này ở với Đấng Christ ở trên thiên đàng trong suốt bảy năm ngay trước đó. Nói cách khác, có những người tin kính cách đó bảy năm đã được cất lên trên thiên đàng để được ở cùng với Đức Chúa Trời đời đời. Họ là những tín hữu trong giai đoạn này, những người gộp lại tạo thành thân thể của Đấng Christ, Hội Thánh. Từ được dịch từ các đội binh (armies), tuy đúng nhưng phần nào mang đến một hình ảnh xuyên tạc trong tâm trí của chúng ta. Tốt hơn là sử dụng từ số đông (hosts), vì mục đích của Giăng trong việc sử dụng số nhiều để nhấn mạnh số lượng lớn những tín hữu được bao gồm trong nhóm này. Họ không phải là một đội binh đánh trận, vì Chúa Giê-xu sẽ không cần bất cứ sự giúp đỡ nào để hoàn thành mục đích của Ngài trong việc đổ ra các án xử trên tất cả những người không tin và thành lập vương quốc của Ngài. Khả năng của Ngài thì còn hơn cả nhiệm vụ Ngài làm!

Thứ hai, “các đội binh…cỡi ngựa bạch theo sau Ngài” (Khải Huyền 19:14b). Ngựa bạch là một biểu tượng cho một người chiến thắng vinh quang. Đấng Christ chiến thắng tất cả và được mô tả một cách thích hợp là cỡi trên một con bạch mã (Khải Huyền 19:11). Những tín hữu của thời đại này bao gồm đạo quân lớn trở lại với Ngài cũng được vẻ vang vượt trên tất cả bởi vì mối quan hệ của họ đối với Đấng Christ. Sự công bình của họ được thành lập và cuối cùng họ cũng được hoàn toàn chiến thắng Satan và tất cả mưu đồ của nó. Khi họ trở lại với Đấng Christ trên đất để thành lập vương quốc Ngài, họ được mô tả rõ ràng là cỡi trên bạch mã như những người chiến thắng vinh quang.

Thứ ba, “đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch” (Khải Huyền 19:14c). Ngôn ngữ của Giăng nói cho chúng ta rằng sự công chính của các tín hữu đã được lập nên đời đời ở tại tòa án Đấng Christ được ban cho sự nhận biết thông qua loại vải mà họ đang mặc-vải gai mịn, trắng và sạch. Tội lỗi của họ đã được trả hết bởi sự hy sinh một lần đủ cả của Đấng Cứu Thế. Họ đi cùng với Ngài trong cuộc đua vinh hiển này như là Vua đến để lấy lại vương quốc mình.

Lúc đầu, Đấng Christ sẽ sử dụng “thanh kiếm sắc” như Giăng mô tả là “đi từ miệng Ngài” để thắng hơn các nước”. Ngài thực sự sẽ thi hành sự phán xét chống lại và sẽ thắng hơn các nước trên thế giới được xếp thành các lực lượng chống lại Ngài (thảo luận nhiều về điều này sau). Trọng tâm của Giăng trong việc nói về các “quốc gia” không phải là mô tả các quyền lực chính trị nhưng là mô tả các cá nhân được chọn tạo thành thân thể bao gồm các tín hữu. Mỗi một người không tin sẽ là nhận sự phán xét của Đức Chúa Trời và tóm lại sẽ bị phán xét khi Đấng Christ trở lại trên thế gian. Khi sự phán xét đó được thi hành và vương quốc được thành lập, Đấng Christ sẽ “cai trị bằng một cây gậy sắt”. Đủ để nói rằng vào thời điểm này khi Đấng Christ trở lại trên thế gian để thành lập vương quốc của Ngài, mỗi một người không tin cuối cùng sẽ bị chết. Những người duy nhất sẽ sống sót qua sự phán xét đó sẽ là những người đã nhận Đấng Christ qua những lời chứng của 144,000 người trong suốt thời kỳ hoạn nạn. Những người tin sống sót qua thời kỳ hoạn nạn sẽ là những người được ở trong một nghìn năm cai trị của Đấng Christ trong vương quốc trên đất này. Họ sẽ sinh ra hậu tự giống như con người hôm nay trên đất này. Qua những con người này Đấng Christ sẽ cai trị với một cây gậy bằng sắt. Tức là việc nổi loạn chống nghịch Ngài đồng nghĩa với việc chịu sự đoán xét ngay lập tức.

Giăng mô tả công việc ngay lập tức của Đấng Christ với những từ sau, “Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng.” Ngôn ngữ này mô tả Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn. Trận đánh này phải rất dữ dội thì mới được mô tả giống như là một thùng rượu. Thùng rượu là một hình ảnh bình thường vào thời Giăng sống và vẫn có thể thấy được ở khắp nơi tại Y-sơ-ra-ên thậm chí cho đến ngày hôm nay. Thùng rượu có kích cỡ của một bồn tắm và được đẽo ra từ một tảng đá. Những trái nho chín được quăng vào trong thùng rượu sau đó những người làm rượu giày đạp lên chúng để khiến cho nước chảy ra khỏi thùng rượu và chảy vào trong một thùng nằm ở dưới. Những gì mà những người làm rượu nho này làm đối với những quả nho là một bức tranh hình tượng về điều mà Chúa Giê-xu sẽ làm đối với những người không tin dàn xếp lực lượng chống nghịch lại Ngài. Ngài sẽ giày đạp họ qua việc thi hành sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời và Ngài cũng sẽ làm công việc của Ngài cách hoàn hảo!

Những Tín Hữu Sẽ Chứng Kiến Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn

Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Jêsus sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỉ Sa-tan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả.

(2 Tê-sa-lô-ni-ca 2: 8-9)

Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lỏa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. Vị thiên sứ thứ bảy trút bát mình trong không khí, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến mà phán rằng: Xong rồi! Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy.

(Khải Huyền 16: 15-16)

Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng.                                                                   (Khải Huyền 19:15)

Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn thường được hiểu sai là một trận chiến đỉnh cao dẫn đến lúc tận thế của thế giới. Tuy nhiên, điều đó không đúng. Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn mang đến một Cơn Đại Nạn vào lúc cuối, nhưng thế giới vẫn tiếp tục ít nhất là một nghìn năm nữa trong khi Đấng Christ thành lập vương quốc của Ngài và cai trị nó. Từ những đoạn Kinh Thánh được trích dẫn, có ít nhất năm sự thật chúng ta có thể học được từ Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn.

Thời Điểm Của Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn

Trong khi trận chiến của Ha-ma-ghê-đôn lên đỉnh điểm vào lúc cuối của thời kỳ hoạn nạn trên đất đó là tạo nên sự chuyển động trước khi Đấng Christ trở lại trên đất để thành lập vương quốc của Ngài. Ngay giữa thời kỳ hoạn nạn, nhưng bị thất bại với cố gắng mang đến những điều chống nghịch lại những tín hữu tại tòa án Đấng Christ, Satan bị đuổi ra khỏi thiên đàng đến trên đất (Khải Huyền 12:9). Vì ma quỷ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi. (Khải Huyền 12:12b).

Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn sẽ diễn ra ở tại “một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn” (Khải Huyền 16:16). Tên này thực chất có nghĩa là “Đồi Mê-ghi-đô”. Đây là một địa điểm được biết đến nhiều Đồng Bằng Esdraelon, mở rộng ra hướng đông từ núi Carmel đến thung lũng Giô-đan và xuống hướng nam từ thung lũng Giô-đan qua Giê-ru-sa-lem đến Ê-đôm: một khoảng cách hơn hai trăm dặm. Đây sẽ là cảnh tượng nơi các đội quân- những máy móc quân sự lớn nhất từng được biết tới sẽ tập hợp để lâm trận.

Những Người Tham Gia Trong Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn

Người ta khởi thờ phượng con rồng, bởi nó đã lấy quyền phép cho con thú; và họ cũng thờ phượng chính con thú, mà rằng: Ai sánh được với con thú, ai giao chiến cùng nó được? (Khải Huyền 13:4)

Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt cho thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. (Khải Huyền 19: 19-20)

Kẻ tham dự đầu tiên trong trận chiến Ha-ma-ghê-đôn đó là Sa-tan. Trong khi nó có thể không tham gia trực tiếp trong trận chiến, nó mang đến động lực năng quyền sau lưng con thú. Nó thực sự là quyền lực ở đằng sau cái ngai.

Kẻ tham dự thứ hai đó là con thú. Nó thường được biết đến là kẻ chống đối Đấng Christ [antichrist] (1 Giăng 2: 18,22), nhưng cũng được biết đến như là vua của phía tây. Dr J Dwight Pentecost mang đến một danh sách dày đặc các biệt hiệu mà con thú được biết đến, ông viết:

Nhiều tên và danh xưng cho cá nhân này trong Kinh Thánh. Arthur W. Pink đưa đến một danh sách các tên có thể được dùng cho nó: người đổ huyết và kẻ gian lận (Thi Thiên 5: 6), kẻ ác (Thi Thiên 10: 2-4), loài người của đất (Thi Thiên 55:3),Kẻ thù nghịch (Thi Thiên 74:8-10), Đầu của các nước ( Thi thiên 111: 6), Người hung bạo (Thi Thiên 140:1), Người A-si-ri (Ê-sai 10: 5-12), Vua của Ba-by-lôn (Ê-sai 14:2), Con Trai của Sáng Sớm (Ê-sai 14:12), Kẻ làm hỏng (Ê-sai 16: 4-5; Giê-rê-mi 6:26), Đinh Đóng (Ê-sai 22:15), Nhánh của những kẻ cường bạo (Ê-sai 25:5), Hoàng tử trần tục gian ác của Y-sơ-ra-ên (Ê-xê-chi-ên 21: 25-27), Sừng nhỏ (Đa-ni-ên 7:8), Hoàng tử sẽ đến (Đa-ni-ên 9:26), Kẻ đáng khinh dễ (Đa-ni-ên 11:21), Vua làm theo ý mình (Đa-ni-ên 11:36), Kẻ chăn vô ích (Xa-cha-ri 11: 16-17), Con người tội lỗi (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2: 30), Con của sự hư mất (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3), Kẻ nghịch cùng luật pháp (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8), Kẻ chống nghịch Đấng Christ (Sáng Thế Ký 9:11), Con thú (Khải Huyền 11:7; 13:1). Có thể được thêm vào: Kẻ lấy riêng danh mình mà đến (Giăng 5:43), Vua có bộ mặt hung dữ (Đa-ni-ên 8:23), Sự gớm ghiết tàn nát lập ra (Ma-thi-ơ 24: 15), Kẻ hủy phá (Đa-ni-ên 9:27).

Một danh sách dài các tên cho chúng ta biết rằng cá nhân này đáng chú ý ở trong Kinh Thánh hơn chúng ta thường nghĩ. Nó sẽ tham dự vào trận chiến Ha-ma-ghê-đôn như là vua của phía Tây, nhưng tên của nó, con thú, mô tả nó như cách Đức Chúa Trời xem nó. Nó là đồng bọn của Sa-tan. Nó là vua của Sa-tan.

Kẻ tham dự thứ ba có là tiên tri giả (Khải Huyền 16:13, 19:20, 20:10). Cá nhân này đến với trận chiến từ vùng đất Palestin (Khải Huyền 13:11) và như thế có nhiều khả năng là người Do Thái. Nó cũng giống như con thú được thúc đẩy bởi Sa-tan (Khải Huyền 13:11) và thực hiện chức năng chủ yếu như là một người nói thay cho con thú. Người này sẽ thúc ép con người thờ phượng nó dưới hình thức là sự chết (Khải Huyền 13:15). Người lãnh đạo tôn giáo của nó sẽ nhận sự xác thực bằng những dấu hệu và phép lạ bằng công việc của chính nó, vì thế ‘chứng minh’ cho người của nó là chính nó là Elijah (Khải Huyền 13: 13-14). Nó cùng với con thú và Satan thiết lập thành ba ngôi không thánh khiết thực hiện giống như là bản sao Đức Chúa Cha (Satan), Đức Chúa Con (con thú), và Đức Thánh Linh (tiên tri giả).

Nhóm người tham gia thứ tư vào trận chiến Ha-ma-ghê-đôn là một nhóm rất lớn bao gồm tất cả các vua trên thế giới và đội quân của họ (Khải Huyền 19:19b).

Nhóm thứ năm trong trận chiến Ha-ma-ghê-đôn được bao gồm Chúa Giê-xu và những đoàn dân của Ngài từ trên thiên đàng (Khải Huyền 19:19b). Chúa Giê-xu là một trong những đấng “ngồi trên lưng ngựa”, và những người tin trong từ điểm hiện nay sẽ được gộp vào “đội quân của Ngài” (Khải Huyền 19:19), sẽ được cùng theo Ngài khi Ngài trở lại từ trên thiên đàng “trên các con ngựa bạch” (Khải Huyền 19:14). Đội quân như thế không tham dự vào trong trận chiến Ha-ma-ghê-đôn. Chúa Giê-xu là Đấng duy nhất bước vào trong trận chiến. Ngài không cần sự giúp đỡ của quân đội bao gồm những tín hữu của Ngài. Họ chỉ đơn thuần là chứng kiến trận đấu đầy chết chóc: Chúa Giê-xu chống lại Sa-tan, con thú, và tiên tri giả, vua của phía Bắc, vua của phía Nam và các đội quân của họ.

Kết Quả Từ Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn

Kết quả đầu tiên của trận chiến Ha-ma-ghê-đôn đó là sự phá hủy của các đội quân trong vùng đó lần lượt chống lại nhau và sau đó chống lại chính bản thân Đức Chúa Trời.

Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Thùng ấy phải giày đạp tại ngoài thành; rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng là một nghìn sáu trăm dặm. Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. (Khải Huyền 14: 19-20; 19:21).

Sự cố gắng để giữ cho Chúa Giê-xu không trở lại trên đất để thành lập vương quốc của Ngài sẽ vô ích. Chúa Giê-xu sẽ giết chúng bằng “hơi thở trong miệng Ngài” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8). Những cổ máy quân sự hùng mạnh nhất mà con người có thể tập họp được không phù hợp với sự trở lại vinh quang của Chúa Giê-xu! Sự chết chóc sẽ rất lớn và máu sẽ đổ trên chỗ khớp ngựa dài một quãng là một nghìn sáu trăm dặm của đồng bằng Esdraelon- từ núi Carmel xuống tận thành phố Petra.

Kết quả thứ hai của trận chiến Ha-ma-ghê-đôn là con thú và tiên tri giả sẽ bị bỏ vào trong hồ lửa.

Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt cho thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. (Khải Huyền 19:20)

Con thú và tiên tri giả sẽ không đạt được mục đích của chúng là được tôn là Chúa và tiên tri của Chúa. Mặc dầu chúng thích thú với thành công khá hoàn hảo, chúng sẽ được chứng minh là những kẻ giả tạo và sẽ bị quăng sống vào trong hồ lửa nơi là sẽ không ai khác mà là chính Sa-tan sẽ cùng chúng ở đó cho đến đời đời.

Kết quả thứ ba của trận chiến Ha-ma-ghê-đôn là những người Do Thái không tin sẽ bị giải ra khỏi Y-sơ-ra-ên.

“Đức Giê-hô-va phán rằng: Xảy ra trong khắp đất, hai phần của nó sẽ bị diệt và mất song một phần ba sẽ được còn lại.” (Xa-cha-ri 13:8)

Cụm từ “xảy ra trong” ngụ ý một khoảng thời gian dài giữa các sự kiện của Xê-cha-ri 13:7 đến 12:8. Các sự kiện của 13:7 và 13:8 tách biệt nhau khoảng hai nghìn năm (hoặc hơn). Sự kiện vào thời gian trong câu 13:7 diễn ra vào thời điểm Chúa Giê-xu chịu hy sinh, trong khi sự kiện trong câu 13:8 diễn ra trong thời kỳ hoạn nạn (tribulation period). Trong suốt thời kỳ hoạn nạn hai phần ba dân số của đất nước Y-sơ-ra-ên đã xem con thú là Đấng Mê-si sẽ chết khi Đức Chúa Giê-xu trở lại trên đất. Những người Do Thái không tin sẽ bị loại ra khỏi đất nước Y-sơ-ra-ên.

Kết quả thứ tư của trận chiến Ha-ma-ghê-đôn sẽ là những người Do Thái tin kính sẽ được làm sạch đây là kết quả của các sự kiện trong nửa phần cuối của thời kỳ hoạn nạn và sẽ trở thành những nhân vật trong vương quốc nghìn năm.

Ta sẽ đem một phần ba ấy vào lửa, ta sẽ luyện nó như luyện bạc, thử nó như thử vàng; chúng nó sẽ kêu cầu danh ta, và ta sẽ nhậm lời nó; ta sẽ phán rằng: Ấy là dân ta đây. Và nó sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời tôi. (Xa-cha-ri 13:9)

Câu này nói cho chúng ta rằng giai đoạn hoạn nạn có hai mục đích từ cách nhìn của Đức Chúa Trời. Sự hoạn nạn sẽ phá hủy hai phần ba những người Y-sơ-ra-ên không tin và sẽ làm thánh sạch một phần ba còn lại. Đức Chúa Trời sẽ mang họ đến đức tin cứu rỗi, giữ họ được an toàn khỏi những cố gắng của con thú để giết họ, và mang họ an toàn về vương quốc mà Chúa Giê-xu sẽ thiết lập khi Ngài trở lại trên thế gian. Đây sẽ là sự làm trọn cuối cùng của Giao Ước mới của Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 31: 31-34).

Kết quả thứ năm của Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn là Sa-tan sẽ bị trói buộc.

Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến nghìn năm. Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một nghìn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu. (Khải Huyền 20:1-3)

Từ khi sa ngã Sa-tan đã cố gắng vô ích để bày tỏ rằng nó là chúa bằng việc bực tức với kế hoạch đời đời của Chúa. Công việc của nó chỉ thành công một phần. Nó đã thất bại trong nổ lực chứng minh rằng những người của thời này không thuộc về thiên đàng và bị đuổi vào trong thế giới. Nó đã thất bại với nổ lực của mình để đồng bọn của nó, con thú, được tôn là Chúa, nó đã thất bại trong việc ngăn trở Đấng Christ trở lại trong thế gian. Sa-tan không phải là chúa và Chúa Giê-xu là Chúa, điều này được chứng minh rõ ràng bằng sự thật rằng thiên sứ Đức Chúa Trời đến với xiềng xích và bó buộc Sa-tan, đuổi Sa-tan vào trong hố không đáy.

Sa-tan trở nên không thể tự cứu mình ở trước mặt Đức Chúa Trời và tất cả những quỷ của nó không thể giúp nó. Cái hố không đáy không giống như hồ lửa mà con thú và tiên tri giả đã bị quăng xuống và Sa-tan cuối cùng cũng sẽ bị quăng vào đó vào lúc cuối của giai đoạn cai trị Đấng Christ trên đất. Nó sẽ bị giữ ở đó cho đến lúc cuối cùng và khi nó sẽ được thả ra cùng với những người chỉ có sự vâng lời bên ngoài với Đấng Christ trong một sự nổi loạn cuối cùng. Cuộc nổi loạn đó nhóm lại chủ yếu là bởi Chúa Giê-xu, và Sa-tan sẽ bị quăng vào hồ lửa nơi mà con thú và tiên tri giả ở đó (Khải Huyền 20: 7-10).

Đất Mới

Sự hình thành sự ngự trị của Đấng Christ trên đất là mở đầu cho một tổ chức mới, và một số các sự kiện sẽ diễn ra để thành lập nên sự cai trị đó. Trong mắt của con người những sự kiện đó sẽ diễn ra cùng một lúc, nhưng vì mục đích xem xét của chúng ta, chúng ta sẽ xem chúng một cách có lô-gíc. Sự kiện đầu tiên sẽ diễn ra để thành lập sự cai trị của Đấng Christ trên đất là các người tin sẽ được có chỗ ở trên thành phố thiên đàng, thành Giê-ru-sa-lem mới.

Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. (Khải Huyền 21: 2-4)

Trong khi có nhiều sự khác biệt ở trong suy nghĩ giữa các sinh viên Kinh Thánh liên quan đến thứ tự và sự phiên dịch các sự kiện như chúng được bày tỏ trong sách Khải Huyền, hầu hết mọi người đồng ý rằng chìa khóa cho quyển sách này được tìm thấy ở trong Khải Huyền 1:19 “Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy [1: 4-18], những việc nay hiện có [1:20-3:22] và những việc sau sẽ đến, [4:1- 22:21]”

Theo sau sự bố trí chung của quyển sách, rõ ràng rằng các chương 4-22 giải quyết những điều ở trong tương lai có liên quan đến thời điểm của Giăng. Thời điểm của Giăng và của chúng ta cốt yếu cũng giống nhau; vì thế những điều đã được giải quyết ở trong chương 4-22 cũng là tương lai cho chúng ta nữa. Nói cách khác, chương 4-22 của sách Khải Huyền nói đến chương trình tương lai của Chúa sẽ diễn ra khi chương trình hiện tại của Ngài kết thúc. Để có thể áp dụng nó với các xem xét của chúng ta, Khải Huyền 4-22 nói đến chương trình của Chúa trong tương lai mà nhiều người tin quan tâm đến, sẽ bắt đầu khi Chúa Giê-xu trở lại. Nếu một người xem chương 4-22 sách Khải Huyền như là một chuỗi các sự kiện liên tiếp không ngắt quảng, kết quả sẽ là sự bối rối và hiểu sai. Tuy nhiên, một người phải nhận ra rằng trong các chương 4-22 Giăng được mang đến thiên đàng để xem mọi thứ từ góc nhìn của Chúa (chương 4-5). Trong chương 6-19, Giăng làm dấu đi và làm dấu lại thời kỳ hoạn nạn từ một số cách nhìn khác nhau. Sau đó trong chương 20-22 Giăng làm dấu đi và làm dấu lại những sự kiện theo sau thời kỳ hoạn nạn từ một số các cách nhìn khác.

Với điều đó làm ngữ cảnh, Khải Huyền 21 có thể được xem như sau: 21:1 là một khảo sát nhanh về hồi kết của một nghìn năm và tương lai đời dời. Trong 21:2- 22-5 Giăng tập trung vào trong giai đoạn một nghìn năm và suy nghĩ của ông đã được phát triển lên thành: 21: 2-8 mang đến một tổng hợp chung của một nghìn năm và đoạn 22:9-22:5 viết lại một nghìn năm và mang đến nhiều chi tiết liên quan đến giai đoạn đó. Chi tiết đầu tiên mà Giăng đưa ra về một nghìn năm đó là giai đoạn một nghìn năm Đấng Christ sẽ cai trị trên đất này, là sự giáng xuống của thành phố thiên đàng, thành Giê-ru-sa-lem mới. Đây sẽ là nơi ở của các tín hữu trong thời điểm này trong suốt thời gian Đấng Christ cai trị ở trên thế giới này. Giăng mô tả nó như thế này:

Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con. Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên: phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con. Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành. Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai nghìn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau. (Khải Huyền 21: 9-16)

Trong giai đoạn này các tín hữu sẽ chứng kiến sự xóa đi lời nguyền rủa ra khỏi thế giới.

Bấy giờ muông sói sẽ ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi. Bò cái sẽ ăn với gấu; các con nhỏ chúng nó nằm chung, sư tử ăn cỏ khô như bò. Trẻ con đương bú sẽ chơi kề ở rắn hổ mang, trẻ con thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn lục. Nó chẳng làm hại, chẳng giết ai trong cả núi thánh của ta; vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển. Xảy ra trong ngày đó, rễ Y-sai đứng lên làm cờ cho muôn dân, các nước đều tìm đến Ngài, nơi an nghỉ của Ngài sẽ được vinh hiển. (Ê-sai 11: 6-10)

Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. Thật thế, muôn vật ước ao, nóng nảy mà trông đợi con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra. Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục. Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. (Rô-ma 8: 18-21)

Khi Đấng Christ thành lập nên vương quốc của Ngài trên đất, tất cả những lời nguyền rủa đã được tạo ra bởi vì tội lỗi của A-đam sẽ được xóa bỏ. Sau đó những lời của bài thánh cá Giáng Sinh sẽ là sự thật:

Phước cho nhân loại! Chúa ta ra đời:
Trần gian nghinh Vua vô đối;
Kíp mở cửa lòng tiếp rước Con Trời,
Bầu trời vạn vật hòa thinh,

Phước cho nhân loại! Chúa nay cai trị:
Muôn dân âu ca hoan hỉ,
Hải đảo, sơn hà trỗi bản ca thì,
Đồng hòa vận điệu mừng vui,

Chúa đến tiêu diệt ác khiên bệnh tật,
Tật lê không sinh trên đất;
Chúa đến đem lại suối phước chân thật,
Tràn ngập mọi vùng họa ương,

Lẽ chánh, ơn lành Chúa đem cai trị,
Làm cho muôn dân khai trí,
Thấy rõ vinh quang chính nghĩa trị vì,
Lòng đại từ Ngài lạ thay!
Tất cả những lời nguyền rủa được tạo ra trong Sáng Thế Ký 3 sẽ bị thu lại. Số nhiều những người sống sót trong thời kỳ hoạn nạn lớn sẽ khá nhỏ. Con người sẽ bắt đầu sinh sản trên đất. Tỷ lệ sinh sản sẽ rất cao và tất cả các ca sinh đều sẽ “tự nhiên” và không có sự đau đớn. Lời nguyền rủa sẽ được cất ra khỏi đất. Sẽ không còn những cỏ dại, gai gốc, không còn những thảm họa tự nhiên gây ảnh hưởng đến thực vật trên đất. Sự chết sẽ chỉ là điều ngoại lệ hơn là điều bắt buộc. Chỉ có những người không tin và không vâng lời mới chết trong suốt quá trình Đấng Christ cai trị trên đất. Nếu họ đã được một trăm tuổi vào thời điểm đó thì họ sẽ được khóc than bởi vì họ chết lúc chỉ còn là trẻ con (Ê-sai 65-20). Bởi vì kết quả của lời nguyền rủa khiến con người toát mồ hôi. Khi Đấng Christ cai trị trên dất những thay đổi cơ thể mà không làm vinh quang thân thể con người sẽ qua đi, sẽ không chỉ mang đến một cuốc sống thọ nhưng cũng là một cuộc sống không có sự đổ mồ hôi! Thế giới sẽ được tạo lập lại theo như trạng thái ở vườn Ê-đen để toàn bộ trái đất sẽ giống như là một nhà kính. Vẫn sẽ có các mùa, nhưng cả thế giới sẽ là bán nhiệt đới. Động vật sẽ mất đi tính hung bạo của chúng. Sư tử và chiên con sẽ nằm bên cạnh nhau. Tất cả vương quốc động vật của Chúa sẽ mất đi tính hung dữ của chúng và thậm chí những con rắn chết người cũng sẽ trở nên vô hại.

Sau đó các tín hữu sẽ chứng kiến sự sống dậy của những người đã chết trong thời điểm Cựu Ước và trong thời kỳ hoạn nạn.

Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời. (Đa-ni-ên 12:2)

Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán. (Giăng 5: 28-29)

Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là… Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con. (Khải Huyền 7:9, 14b)

Cả Đa-ni-ên và Chúa Giê-xu đề cập đến hai sự sống lại, một sự sống lại để bước đến sự sống và cái khác bước đến sự chết. Những điều này được tách biệt nhau bằng một nghìn năm cai trị của Đấng Christ trên đất; sự sống lại để bước vào trong sự sống sẽ diễn ra vào giai đoạn đầu của sự cai trị Ngài và sự sống lại để bước vào sự chết diễn ra vào lúc cuối của sự cai trị của Đấng Christ. Đó là sự sống lại để bước đến sự sống của hai nhóm người tin. Nhóm thứ nhất được làm sống lại đó là tất cả những người tin. A-đam sẽ được sống lại và tất cả những người sống trong vương quốc trên đất của Đấng Christ có thể nói chuyện với ông và hỏi ông về tất cả các chi tiết về mọi việc tại vườn Ê-đen. Nô-ê sẽ được làm sống lại và chúng ta sẽ có thể hỏi ông những câu hỏi về những việc đã xảy ra khi ông đứng trước 1.5 tỷ người trên thế giới trong thời điểm của mình. Áp-ra-ham sẽ được làm sống lại và cuối cùng sẽ nhận ra đất nước mà ông đã được hứa ở trong Sáng Thế Ký 12:2-3 nhưng đã chưa bao giờ nhận được. Đa-vít sẽ được làm sống lại và sẽ nhận ra các lời hứa được hứa nguyện cùng ông ở trong 2 Sa-mu-ên và sẽ được tôn vinh là vua của Y-sơ-ra-ên đời đời! Giê-rê-mi sẽ được sống lại và chứng kiến sự thay đổi của cả quốc gia Y-sơ-ra-ên khi mỗi một người Y-sơ-ra-ên sẽ tin vào nơi đấng Mê-si như đã được tiên đoán (31:31-34). Đó sẽ là một ngày tuyệt vời vì tất cả những lời Chúa hứa với những vị thánh trong Cựu Ước được nhận ra. Trong thời điểm của Chúa họ và những của cải của họ sẽ đến cùng với nhau (xem 1 Phi-e-rơ 1: 4-5). Họ sẽ là một lời minh chứng đời đời cho lẽ thật của Đức Chúa Trời. Nhóm thứ hai được sống lại sẽ là những vị thánh trong thời kỳ hoạn nạn, những người đã tin vào phúc âm của vương quốc trong giai đoạn đó (Ma-thi-ơ 24:24) được truyền giảng ra bởi 144,000 người và những người cải đạo. Để họ có thể tin vào ngày đó sẽ đồng nghĩa với việc ký nhận vào giấy đảm bảo sẽ chết vì hầu như tất cả họ sẽ bị giết chết vì đức tin của họ. Khi Đấng Christ thành lập vương quốc của Ngài, họ đều sẽ được làm sống lại. Số lượng của họ sẽ quá lớn đến nỗi không người nào có thể đếm hết (Khải Huyền 7:9). Những tín hữu trong thời kỳ hoạn nạn được làm sống lại sẽ thưởng thức cuộc sống như là những con người được vinh quang trong vương quốc Đấng Christ cùng với những tín hữu thời Cựu Ước. Họ cũng là những lời chứng đời đời cho Đức Chúa Trời và sự thành tín lớn lao của Ngài.

Vào thời điểm này các tín hữu sẽ chứng kiến sự biến đổi của trái đất và thiên đàng của chúng ta. Bởi vì những sự xét đoán kinh khiếp của Đức Chúa Trời được đổ ra trên đất và vùng trời, chúng cần được khôi phục lại trạng thái của vườn Ê-đen. Trong suốt thời kỳ hoạn nạn, một phần ba mặt trời sẽ trở nên tối đi, chiến tranh sẽ trút những tai họa trên đất, động đất sẽ làm thay đổi bề mặt của trái đất. Tóm lại, trời và đất sẽ phải gánh chịu sự tàn phá không thể so sánh được. Tất cả những điều này sẽ không còn nữa khi trời và đất được biến đổi thành trạng thái của nó ở thời Ê-đen.

Sử dụng sự khác biệt về khoảng cách thời gian trong Đa-ni-ên 12:7 và 12, rõ ràng là sẽ mất khoảng bảy mươi lăm ngày từ ngày Đấng Christ trở lại trên đất cho đến khi vương quốc của Ngài thực sự được thành lập cách chính thức. Từ lúc đó cho đến cuối của giai đoạn một nghìn năm, mọi thứ sẽ tiếp tục giống như vậy. Bốn sự kiện sẽ biểu thị rõ đặc điểm các hoạt động của các tín hữu trong suốt giai đoạn này.

Đầu tiên, các tín hữu sẽ cai trị cùng với Đấng Christ (Khải Huyền 20:6). Đấng Christ là Vua là Chúa sẽ nắm quyền và cai trị trên trái đất. Các tín hữu của giai đoạn này là những người tin trước khi Đấng Christ trở lại để thành lập vương quốc của Ngài sẽ được Ngài cưới, sẽ nắm quyền và cai trị với Ngài như những người đồng quản trị. Đây là điều Phao-lô muốn nói khi ông hỏi những người Cô-rinh-tô “Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao?” (1 Cô-rinh-tô 6:2a). Phao lô tiếp tục và hỏi những người Cô-rinh-tô một câu hỏi thứ hai, “Anh em chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao? Huống chi việc đời nầy!” (1 Cô-rinh-tô 6:3). Là một phần của việc cai trị cùng với Đấng Christ các thiên sứ cũng được khiến nằm dưới quyền chúng ta, và chúng ta sẽ xét đoán họ. Phao-lô chỉ tuyên bố một sự thật mà không tạo nên sự phân chia trong lời phát biểu của họ.

Thứ hai, những người tin sẽ sống ở tại một thành phố trên thiên đàng, thành Giê-ru-sa-lem mới. Thành phố đẹp đẽ này được mô tả ở trong Khải Huyền 21: 10-27. Thêm vào những mẫu vàng đẹp và những đá quý được dùng để xây dựng nên thành phố, thành phố đó sẽ không cần có mặt trời, mặt trăng hay các ngôi sao bởi vì ánh sáng của nó sẽ được cung cấp bởi vinh quang của Chúa. Chúa Giê-xu, Chiên Con của Đức Chúa Trời, cũng sẽ tạo nên ngôi nhà của mình trong đó. Những người tin không được tôn vinh trên đất cũng sẽ có thể thăm xem nơi đẹp đẽ đời đời của những người tin trong thời điểm này. Sẽ không có điều gì tội lỗi hoặc tham nhũng ở đây. Sẽ có một môi trường hoàn hảo cho những người vinh quang!

Thứ ba, các cánh cửa cho thành phố thiên đàng thành Giê-ru-sa-lem mới sẽ không bao giờ đóng (Khải Huyền 21:25), ngụ ý rằng sẽ không có giới hạn cho việc đi vào thành phố. Các tín hữu khác trong giai đoạn này sẽ di chuyển không giới hạn, có lẽ với tốc độ của ánh sáng. Cũng đẹp giống như một số nơi ở trên trái đất của chúng ta bây giờ, những nơi trên thiên đàng còn đẹp hơn thế nữa bởi vì những dấu vết của sự nguyền rủa sẽ được hủy bỏ ra khỏi bức tranh. Sẽ không còn những cây cối nào chết hoặc vùng đất nào mang vết thương. Không còn những con sông thối rửa, không còn sự ô nhiễm ở bất cứ kiểu nào nữa. Trái đất này sẽ là một nơi tuyệt đẹp.

Thứ tư, tất cả tín hữu sẽ là những bằng chứng sống cho Đấng Christ. Các tín hữu của thời đại này sẽ được bày tỏ ra trong suốt quá trình Đấng Christ cai trị trên đất. Họ sẽ là những bằng chứng thấy được về những điều mà Đức Chúa Trời có thể làm cho một người tôi lỗi đã được cứu bằng ân điển của Ngài và được vinh quang.

Sự cai trị của Đấng Christ trên đất sẽ là một thời gian tuyệt vời mà một người có thể có thể mong muốn rằng nó sẽ tồn tại mãi mãi. Sự thật là nó sẽ vẫn tồn tại mãi mãi, những sự biến đổi phải được diễn ra để chuyển từ khoảng thời gian có giới hạn như chúng ta biết đến khoảng thời gian trường tồn vô hạn. Bốn sự kiện sẽ không làm hạ xuống bức màn cai trị một nghìn năm của Đấng Christ trên đất.

Thứ hai, các tín hữu sẽ chứng kiến cố gắng cuối cùng của Sa-tan để đánh bại Chúa. Các tín hữu sống sót sau cơn đại hoạn nạn và bước vào trong vương quốc của Đấng Christ trong tình trạng không được vinh quang sẽ có con cái. Các con cái của họ sẽ có bản tính của A-đam và sẽ cần phải tin nơi Chúa Giê-xu Christ là Đấng Cứu Rỗi đã cứu chúng ra khỏi tội lỗi. Hầu hết họ sẽ được tự sinh sôi và nắm lấy Chúa Giê-xu Christ, những người này sẽ cai trị với một cây roi sắt. Tuy nhiên nhiều người sẽ bày tỏ ra sự vâng lời ở bên ngoài, và một số sẽ bày tỏ ra sự không vâng lời ở bên ngoài và chúng cùng nhau sẽ bị giết chết.

Thứ ba, các tín hữu sẽ chứng kiến sự bị đánh bại cuối cùng của Sa-tan. Vào lúc cuối cùng của một nghìn năm cai trị của Đấng Christ sẽ có một con số lớn những người không tin phải được loại bỏ ra khỏi bức tranh để chuẩn bị cho một tương lai đời đời. Sa-tan sẽ được thả lỏng ra khỏi tù để nó có thể đến và tập hợp những người đó lại với nhau cho một sự tấn công chống lại Đấng Christ cuối cùng với sự cố gắng vô ích để thắng hơn Ngài (Khải Huyền 20: 7-9a).

Thứ tư, những người tin sẽ chứng kiến sự đoán xét đời đời của Sa-tan. Sa-tan cùng đội binh của nó cùng nhau sẽ bị xử tội. Đội quân của nó sẽ bị giết chết và nó sẽ bị tách biệt ra và quăng vào trong hồ lửa nơi mà có con thú và tiên tri giả đã bị quăng vào một nghìn năm trước đó (Khải Huyền 20: 9b-10). Đây là số phận đời đời của nó. Nó không bao giờ được cho phép để thách thức Đức Chúa Trời và chương trình của Ngài nữa.

Lúc cuối của giai đoạn một nghìn năm ngự trị của Đấng Christ trên đất không làm hư hỏng kế hoạch của Chúa và chương trình cho các tín hữu trong giai đoạn này. Điều này tiếp diễn cho đến đời đời. Các tín hữu sẽ chứng kiến sự đoán xét tại tòa trắng lớn.

Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. Đoạn, Sự Chết và A.  Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (Khải Huyền 20: 11-15).

Đó là một tòa trắng lớn mà mỗi người không tin đã không từng sống trên đất từ thời Ca-in trở xuống sẽ được làm sống lại. Đây sẽ là sự phục sinh thứ hai. Đa-ni-ên gọi nó là sự phục sinh đó là sự phục sinh đến “kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời” (Đa-ni-ên 12:2b) trong khi Chúa Giê-xu gọi nó là “ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán” (Giăng 5:29b). Tất cả những người chết không tin (những người bị phân cách về mặt tâm linh ra khỏi Đức Chúa Trời) sẽ đứng trước Quan Xét, là Chúa Giê-xu Christ. Tất cả những tường thuật sẽ ở đó và tất cả chúng sẽ bị kiểm tra. Sẽ không có lời van xin nào. Họ sẽ bị xét đoán theo như công việc mình để xác định mức độ nghiêm trọng của sự trừng phạt của họ (Lu-ca 12: 46-48). Không có nghi ngờ gì về số phận của họ, đó sẽ là hồ lửa nơi họ sẽ ở đó cùng với Sa-tan, con thú, và kẻ chống đối Đấng Christ mãi mãi. Đây là sự chết thứ hai, điều này có thể nói rằng đây là một sự phân cách đời đời của họ khỏi Đức Chúa Trời và tất cả lợi ích của người đó. Đó sẽ là lúc sách sự sống sẽ được kiểm tra không phải để xem nếu bất kỳ tên nào trong số họ có ở trong các trang nhưng để xác nhận rằng không có tên nào trong số các tên sẽ có ở đó. Đó không phải là một khung cảnh tuyệt vời, nhưng các tín hữu của giai đoạn này sẽ chứng kiến được điều đó. Các tín hữu sẽ chứng kiến Đấng Christ mang vương quốc lên với Đức Chúa Cha.

Kế đó, cuối cùng sẽ đến là lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã phá diệt mọi đế quốc, mọi quyền cai trị, và mọi thế lực;… Khi muôn vật đã phục Ngài, thì bấy giờ chính mình Con sẽ phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, hầu cho Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự. (1 Cô-rinh-tô 15: 24, 28).

Khi đã thắng hơn Sa-tan, con thú (kẻ chống đối Đấng Christ), tiên tri giả và tất cả những người không tin, và đã quăng chúng vào trong hồ lửa đời đời, Đức Chúa Trời và kế hoạch của Ngài cuối cùng đã được chứng minh. Kế hoạch của Ngài cho thế giới đã được hoàn thành. Ngài đã chứng minh khả năng của mình để cai quản và ngự trị và giữ tất cả mọi thứ theo thứ tự tuyệt đối trong vòng một nghìn năm- không còn điều gì để hoàn thành nữa. Vào lúc đó, Chúa Giê-xu sẽ giao vương quốc của mình lên Đức Chúa Cha và Ngài có thể là “muôn sự trong muôn sự”. Mặc dầu Đấng Christ đã chứng minh sự tối cao của Ngài vượt trên tất cả mọi loài và mọi thứ không phải là Chúa, sự khác nhau có ích giữa các ngôi trong Ba Ngôi sẽ tiếp tục cho đến đời đời. Đức Chúa Cha là “muôn sự trong muôn sự”-hoàn toàn tối cao. Đức Chúa Con sẽ phục theo Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh sẽ phục theo Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Các tín hữu của thời kỳ này sẽ chứng kiến nghi thức “thay đổi mệnh lệnh” Các tín hữu sẽ chứng kiến sự phá hủy của trời và đất hiện tại.

Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chết bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả.  Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào, trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi!

(2 Phi-e-rơ 3: 10,12)

Với sự thất bại của mỗi đối thủ và với việc vương quốc đã được giao cho Đức Chúa Cha, việc Chúa sử dụng giai đoạn này để thực hiện các kế hoạch về sự cứu rỗi của Ngài đã đạt được mục đích của nó. Bản thân nó thì vô dụng và chỉ xứng đáng với sự hủy diệt. Vì thế Đức Chúa Trời hủy diệt nó. Ngôn ngữ mà Phi-e-rơ sử dụng để mô tả sự hủy diệt này nghe giống như là ngôn ngữ của việc phân nguyên tử hạt nhân. Từ việc nổ của quả bom đầu tiên, con người đã sợ rằng Ngài sẽ phá hủy trái đất trong một số chiến tranh nguyên tử hoặc tai nạn hạt nhân. Một tai nạn như vậy sẽ không bao giờ xảy ra. Đức Chúa Trời bảo tồn quyền và đặc ân của việc phá hủy trời và trái đất cho chính Ngài. Ngài tạo nên nó và Ngài sẽ phá hủy nó, nhưng những tín hữu của thời đại này sẽ có được đặc ân của việc chứng kiến sự phá hủy đó. Một người có thể tự hỏi điều gì sẽ xảy ra đối với những người đã tin nhận Đấng Christ trong suốt quá trình cai trị của Ngài trên đất và điều gì sẽ xảy ra đối với Cựu Ước vinh quang và các tín hữu trong thời kỳ hoạn nạn đã sống trên đất trong suốt quá trình Đấng Christ cai trị đến khi sự hủy diệt này xảy đến. Đức Chúa Trời không nói cho chúng ta cụ thể, nhưng điều này mang đến thêm một lý do cho việc tin rằng thành phố thiên đàng, thành Giê-ru-salem mới, giáng xuống từ thiên đàng vào giai đoạn đầu của sự cai trị Đấng Christ trên đất và nơi ở của các tín hữu thuộc thời kỳ này trong suốt giai đoạn cai trị của Đấng Christ trên đất. Chúng ta đã thấy trước đây là 1500 dặm vuông với mười hai “tầng” cách nhau 120 dặm. Có nhiều phòng rộng hơn cho tổng số lượng mỗi cá nhân đã từng được sinh ra hoặc có thể sẽ được sinh ra. Tất nhiên, sẽ không có người không tin nào ở đó, nên họ không cần có phòng giữ lại cho họ. Trong suốt thời gian mà Đức Chúa Trời hủy diệt trời và đất trong hiện tại, có thể là tất cả các tín hữu ở Cựu Ước, tín hữu trong thời kỳ hoạn nạn và những người trong giai đoạn một nghìn năm có chỗ ở tạm thời trong một thành phố trên thiên đàng, thành Giê-ru-sa-lem mới, cho đến khi trời và đất mới xuất hiện. Những người tin của giai đoạn này sẽ chứng kiến tất cả những sự kiện đặc biệt này. Những người tin sẽ chứng kiến sự đến của trời mới và đất mới.

Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. (Khải Huyền 21:1)

Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở. (2 Phi-e-rơ 3:13)

Trời và đất mới sẽ là nơi ở đời đời của tất cả những người đã tin vào sự mặc khải của Đức Chúa Trời và có mối quan hệ đúng với Ngài ngoại trừ những người tin Ngài trong suốt thời điểm hiện tại. Các tín hữu ở trong giai đoạn này sẽ ở đời đời tại thành Giê-ru-sa-lem mới. Các tín hữu của giai đoạn này sẽ chứng kiến sự đến của trời mới và đất mới. Trời mới và đất mới sẽ không bao giờ bị hư hại bởi tội lỗi vì sự công bình ngự trị trong chúng.

[Chúa] Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ, hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ. ( Ê-phê-sô 2:6-7)

Những người học lớp một nghĩ rằng họ đã biết tất cả những gì họ cần biết cho đến cuối năm học – họ mới thấy rằng có thêm lớp hai nữa. Sau trường cấp một có trường cấp hai, rồi cấp ba, rồi cao đẳng, rồi đại học và sau đại học, và tiếp tục. Một người thực sự có thể đi học cả cuộc đời mình trên đất. Như vậy với lẽ thật của Đức Chúa Trời. Chúng ta không bao giờ có thể hoặc sẽ không bao giờ có thể học tất cả những gì cần biết về lẽ thật này trong cuộc sống. Bất cứ điều gì chúng ta khác chúng ta có thể làmđời đời, chúng ta sẽ học nhiều hơn về “tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Đời đời các tín hữu trong giai đoạn này sẽ học điều Đức Chúa Trời đã hoàn tất trong việc mang đến sự cứu rỗi cho chúng ta. Sự vĩnh cữu sẽ không bao giờ làm kiệt quệ đối tượng trong đó! Các tín hữu trong thời đại này không phải là tất cả những người đã từng tin vào sự mặc khải của Đức Chúa Trời và nhận sự công bình của Ngài. Có năm nhóm người tin: (1) Người tin Cựu Ước trước Y-sơ-ra-ên (từ A-đam đến Áp-ra-ham), (2) những người Y-sơ-ra-ên tin kính trong Cựu Ước ( từ Áp-ra-ham đến ngày Đức Thánh Linh giáng lâm), (3) Tín hữu của giai đoạn hiện tại (từ ngày thành lập của Hội Thánh vào ngày Lễ Ngũ Tuần tới việc Đấng Christ thăng thiên cho những người đã tin Ngài), (4) Các tín hữu trong thời kỳ hoạn nạn, và (5) Các tín hữu trong hàng nghìn năm trị vì của Đấng Christ trên đất. Tất cả trong số này có những đặc tính phổ biến cho việc tin vào sự mặc khải của Đức Chúa Trời (mặc dù nội dung của sự mặc khải đó không phải luôn luôn giống nhau) và đã được ban cho sự công bình của Đức Chúa Trời. Tất cả họ gộp lại tạo thành “gia đình” của Đức Chúa Trời, nhưng họ giống như năm người con khác nhau trong gia đình đó. Tất cả đều có sự công chính của Đức Chúa Trời, và tất cả sẽ được ở bên Ngài mãi mãi và tận hưởng sự thông công với tất cả các tín hữu khác. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa họ sẽ không bao giờ bị mất đi. Các tín hữu của thời đại này khác biệt ở chỗ họ sẽ cư trú tại thành phố thiên đàng đời đời, thành Giê-ru-sa-lem mới. Bốn nhóm tín hữu khác sẽ sinh sống ở đất mới. Tất cả sẽ tôn thờ Đức Giê-xu Christ đời đời cùng với Ngài sẽ thờ phượng Đức Chúa Cha đời đời. Tất cả sẽ bày tỏ theo cách đặc biệt của riêng mình cách Đức Chúa Trời có thể làm con người vinh quang trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chúng tôi đã đối mặt với tương lai mà Thiên Chúa đã hoạch định cho người tin trong giai đoạn này. Chúng ta đã thấy rằng điều tốt nhất vẫn chưa đến! Chúng tôi sẽ có mối liên đời đời với Đức Chúa Trời và các tín hữu vinh quang khác của tất cả các giai đoạn. Câu hỏi duy nhất còn lại là, mối quan hệ của bạn với chương trình trong tương lai mà Đức Chúa Trời dành cho những người tin vào Chúa Giê-xu Christ là gì? Bạn sẽ là một phần của nó hoặc bạn sẽ bỏ lỡ nó và thay vì trải nghiệm sự phán xét của Đức Chúa Trời và bị ngăn cách đời đời khỏi Ngài và khỏi tất cả các quyền lợi của mình? Bạn có thể biết bây giờ! Nếu bạn sẽ nhận Chúa Giê-xu Christ là Đấng Cứu Rỗi cá nhân của bạn ra khỏi tội lỗi, tương lai huy hoàng của các tín hữu sẽ là của bạn.

Lời Chứng Của Người Do Thái: Chúa Giê-xu Có Phải Là Con Trai Của Một Trinh Nữ Thuộc Dòng Dõi Đa-vít?

Chúa Giê-xu người Na-ra-rét có phải là ‘Đấng Christ’ được tiên báo ở trong Kinh Thánh Cựu Ước Hê-bơ-rơ? Đó là một câu hỏi đáng để suy nghĩ trong suốt mùa Giáng Sinh. Tôi dùng Thi Thiên 132 để nêu lên nguồn gốc của lời tiên tri rằng Đấng Christ phải đến từ dòng dõi của vua Đa-vít. Bạn có thể thấy rằng điều này không phải là một ý tưởng của người tin mà bắt nguồn từ các Thi Thiên tiếng Hê-bơ-rơ hoặc Do Thái được viết 1000 năm trước khi Chúa Giê-xu được sinh ra cùng với nhiều tranh luận xoay quanh Ngài được bày tỏ ra cho thế giới này.

10 Vì cớ Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài,
    xin đừng từ bỏ vua mà Ngài đã bổ nhiệm.
11 Chúa đã hứa cùng Đa-vít,
    lời hứa chắc chắn không thay đổi. Ngài hứa rằng,
    “Ta sẽ đặt một người trong dòng dõi ngươi làm vua kế vị ngươi…
13 Chúa đã chọn Giê-ru-sa-lem;…

17 Ta sẽ chọn ra một vị vua từ gia tộc Đa-vít.   Ta sẽ chọn trong dòng dõi người một người làm vua để kế vị Đa-vít.  (Thi Thiên 132)

Chúa Giê-xu có thật sự đến từ dòng dõi của vua Đa-vít không?

Nhưng Tân Ước tuyên bố về sự “làm trọn” lời tiên tri này dường như có thể bị hoài nghi. Lý do mà Ma-thi-ơ và Lu-ca bao gồm trong gia phả của Chúa Giê-xu trong các phúc âm được ghi lại là điều mà họ muốn chúng ta thấy sự làm trọn về lời tiên tri của người Do Thái về Chúa Giê-xu. Những ai nói rằng họ đã không tự bịa đặt ra gia phả của chính mình để đạt được sự “làm trọn”? Điều đó sẽ là cách giải thích tự nhiên hơn là sự làm trọn “Thánh”. Nhiều người trong chúng ta đối mặt với câu hỏi này chỉ lờ nó đi và thậm chí việc tin hay không phụ thuộc vào quan điểm thiên vị trước đó. Nhưng hãy giữ lời nói của bạn! Tình huống này không được nghe thấy đầy đủ và ban hội thẩm cũng nên đứng ra ngoài.

Việc cố gắng tìm kiếm những điều ‘đã thật sự’ xảy ra’ giúp cho việc tìm kiếm lời chứng từ những người làm chứng đối lập. Một người chứng đối lập có thể tìm thấy trong lúc đó có thể hỏi nhưng không đồng tình với lòng tin chung hoặc kết luận và vì thế có tác động chống đối hoặc bác bỏ các bước bạn bước đi để đi đến kết luận của bạn. Tuy nhiên việc cho rằng người A nói rằng anh ấy đã thấy người B nhắn tin ngay trước khi xảy ra tai nạn. Người B không có ý định gì trong việc đồng ý với người A về việc này, và nếu người đó chấp nhận rằng anh ấy đã nhắn tin ngay trước khi vụ tai nạn xảy ra sau đó người xét xử và quan tòa có một lý do xác đáng để ít nhất là thách thức người B đã nhắn tin vì những bên chống đối và người làm chứng chính thức đã đồng ý về điểm này, và người B không thể đạt được điều gì và chỉ thua cuộc bằng việc đồng ý với quan điểm này.

Cũng tương tự như vậy, việc sàng lọc qua các nguồn lịch sử chống đối có thể giúp mang chúng ta đến nơi xa hơn về điều thật sự đã xảy ra trong các tranh luận và các sự kiện về Chúa Giê-xu. Theo cách như thế tôi thấy điều thú vị là khi tôi nghiên cứu về các ghi chép và phân tích của học giả F.F. Bruce trong tác phẩm Chúa Giê-xu và và nguồn gốc của Cơ Đốc Nhân ở ngoài sách Tân Ước (Jesus and Christian Origins outside the New Testament. (1974  215 pp.). Trong nghiên cứu đó, ông phân biệt và phân tích những điều có thể tham khảo về các Thầy Do Thái về Chúa Giê-xu trong sách Talmud và Mishnah. Ông ghi chú những lời bình luận của các thầy dạy đạo về Chúa Giê-xu:

Ulla nói: Bạn có tin vào bất cứ lời bào chữa nào đã được tìm kiếm tích cực về phía Ngài (Chúa Giê-xu) không? Ông là một người lừa dối và người rất nhân từ nói rằng: “Ngươi hẳn phải giết nó, tay mình phải tra vào mình nó trước hết đặng giết đi’[Phục Truyền 13:9] Điều đó rất khác với Chúa Giê-xu bởi vì Ngài gần với vương quyền”. p. 56

F. Bruce đã viết ra lời bình luận về lời phát biểu của thầy dạy đạo.

Sự miêu tả đó là họ đang cố gắng để tìm một điều để bào chữa cho Ngài ( một lời biện hộ chống nghịch lại với các Cơ Đốc Nhân đã được xóa đi ở đây). Tại sao họ lại cố gắng để biện hộ cho một người với những tội như vậy? Bởi vì ngài “gần với vương quyền’ ví dụ về Đa-vít. P.57

Nói cách khác, những thầy dạy người Do Thái đã không tranh cãi với những người viết Phúc Âm rằng Chúa Giê-xu thật sự đã thuộc về dòng dõi của Đa-vít. Mặc dầu họ đã không chấp nhận lời tuyên bố chung của Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si và đã chống nghịch với Phúc Âm đã tuyên bố về ngài, họ vẫn xác nhận rằng chúa Giê-xu thuộc về dòng dõi vua chúa của Vua Đa-vít. Như vậy chúng ta biết rằng những người viết Phúc Âm đã không đơn giản là đã bịa đặt ra điều đó để có được sự “làm trọn”. Những người làm chứng chống đối đã đồng ý với điểm này.

Còn về việc được sinh ra bởi một trinh nữ?

Bây giờ chúng ta có thể không phản ứng lại mạnh mẽ về lời tuyên bố rằng Chúa Giê-xu đến từ dòng dõi của vua Đa-vít. Cuối cùng thì, sẽ luôn có một khả năng thống kê đặc biệt cho rằng điều này “tình cờ” đúng thôi. Nhưng việc được sinh ra bởi một trinh nữ?! Việc này đã không thể nào  xảy ra cách “tình cờ”. Điều này thuộc về một trong các điều sau: một sự hiểu lầm, một sự bịa đặt, hoặc một điều Thánh xảy đến- không có sự lựa chọn nào khác tồn tại.

Lu-ca và Ma-thi-ơ tuyên bố khá rõ ràng rằng Ma-ri thụ thai Chúa Giê-xu trong khi bà là một trinh nữ. Và Ma-thi-ơ đã dấy lên sự đánh cược bằng việc trích dẫn và tuyên bố rằng điều này là một sự làm trọn của lời tiên tri từ Ê-sai (750 Trước Công Nguyên) nói rằng:

Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên. (‘Đức Chúa Trời ở với chúng ta’) Ê-sai 7:14 ( và được trích dẫn ở trong Ma-thi-ơ 1:23 như là một sự làm trọn)

Lịch sử Dòng thời gian với Đa-vít, Ê-sai và nhà tiên tri khác trong Cựu Ước

Lịch sử Dòng thời gian với Đa-vít, Ê-sai và nhà tiên tri khác trong Cựu Ước

Trinh nữ hay Thiếu Nữ

Cho đến thời điểm này lúc mà những lời giải thích tự nhiên đến trong tâm trí. Nếu như bạn đi sâu một chút (giống như một số người làm) bạn sẽ biết tiếng Hê-bơ-rơ (הָעַלְמָ֗ה được phiên âm là haalmah) có nghĩa là “trinh nữ” ở phía trên Tiếng Anh cũng có nghĩa là ‘thiếu nữ’, ví dụ như một người phụ nữ trẻ chưa có gia đình. Có lẽ điều đó là tất cả những gì mà Ê-sai đã có ý muốn nói, quay lại với năm 750 TCN, và nêu lên một số “nhu cầu” ngoan đạo về phần của Ma-thi-ơ và Lu-ca để tôn kính Chúa Giê-xu họ đã hiểu nhầm ý của tiên tri Ê-sai đối với từ “trinh nữ” khi ông thực sự có ý là ‘một người phụ nữ trẻ’. Và việc mang đến sớm (nhưng thuận với “lời tiên tri được làm trọn”) về sự mang thai của Ma-ri trước ngày kết hôn, và điều này đã phát triển lên một cách tốt đẹp thành một “sự làm trọn Thánh’, tức là điểm chính trong câu chuyện hạ sanh của Chúa Giê-xu.

Nhiều người đã tường thuật lại những lời giải thích đó một cách chi tiết thông qua các năm, và theo một cách mà tôi không thể khước từ lời giải thích này- sau khi tất cả những bằng chứng về một người có là một trinh nữ hay không thì cũng khó khăn hoặc là không thể để ghép vào được. Nhưng, có một sự thật, câu chuyện này thì không đơn giản đến như vậy. Bởi vì chúng ta đã thấy rằng Septuagint là bản dịch Do Thái từ Tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy-Lạp được ghi chép vào năm 250 BC- hai trăm năm mươi năm trước khi Chúa Giê-xu được sinh ra. Làm thế nào để các thầy dạy đạo Do Thái có thể dịch Ê-sai 7:14 từ Tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy Lạp? Có phải họ đã dịch là “người phụ nữ trẻ” hay là “trinh nữ”? Điều khiến tôi ngạc nhiên đó là mặc dầu số lượng những người đã nói về điều này dường như biết đủ về sự thật rằng tiếng Hê-bơ-rơ gốc có nghĩa là ‘phụ nữ trẻ’ hoặc ‘trinh nữ’, không một ai ở giữa những người này đã là một nhân chứng cho Septuagint. Khi nhìn vào đó bạn thấy rằng từ đó đã được nêu lên cách rõ ràng và tuyệt đối như là παρθένος  (được phiên âm ra là parthenos), có nghĩa là ‘trinh nữ’. Nói cách khác, những thầy dạy đạo Do Thái dẫn đầu vào năm 250 TCN đã hiểu rằng lời tiên tri của Ê-sai trong Hê-bơ-rơ có nghĩa là ‘trinh nữ’, chứ không phải là ‘người phụ nữ trẻ’- hơn hai nghìn năm trước khi Chúa Giê-xu bước vào trong cảnh tượng này.

Tôi thấy điều này rất thú vị bởi vì tại sao một nhóm người (bảy mươi người trong số họ theo truyền thống) bao gồm những học giả dẫn đầu khiến cho điều này dường như là một sự tiên đoán buồn cười và khó tin, rằng một trinh nữ sẽ có một con trai. Nếu bạn nghĩ rằng điều này là vì họ mê tín và không có khoa học vào thời đó thì nên suy nghĩ lại. Những người ở trong thời đại đó là những người nông dân. Họ biết tất cả về việc sinh sản. Hàng trăm năm trước khi Septuagint, Áp-ra-ham và Sa-ra sẽ biết rằng sau một độ tuổi nhất định tiền mãn kinh bắt đầu và việc sinh con thì không thể. Không! Các học giả vào năm 250 TCN đã không biết về tuần hoàn của chu kỳ hoặc cả quá trình cơ học, nhưng họ đã hiểu được cách động vật và con người sinh sản. Họ đã biết về điều đó là việc ngoài tầm, ngược với tự nhiên để tiên đoán một sự hạ sinh từ một trinh nữ. Nhưng họ đã không rút đi, họ đã không bắt cá hai tay và khiến nó trở thành “một người nữ trẻ’ trong Septuarint. Không họ đã tô nó với mực đen và trắng rằng một trinh nữ sẽ có một đứa con trai.

Và bây giờ cân nhắc về phần làm trọn của câu chuyện này. Mặc dầu không thể chứng minh rằng Ma-ri là một trinh nữ, bà đang ở trong giai đoạn ngắn và duy nhất của cuộc sống mà ít nhất có thể duy trì một câu hỏi mở. Đây là một thời điểm của các gia đình lớn. Gia đình với mười con thì không phải là không bình thường. Cho dù vậy, thật không phải là một sự tình cờ khi Chúa Giê-xu là con đầu lòng? Nếu Ngài đã có các anh hoặc chị khác thì chúng ta có thể biết được Ma-ri không phải là một trinh nữ. Vào thời đại của chúng ta mỗi gia đình chỉ có 2 đứa con thì cơ hội là 50-50, nhưng vào thời điểm đó gần với tỉ lệ cơ hội là 1-10. Nói cách khác, cơ hội là khoảng 9 trên 10 cho ‘việc làm trọn’ có thể bị bác bỏ bởi sự thật đơn giản là Chúa Giê-xu đã có một người anh hoặc chị lớn hơn- nhưng (ngược lại với điều đó) Ngài đã không có anh chị lớn hơn nào.

Và bây giờ thêm vào thời điểm đáng chú ý về lời hứa hôn trong việc này. Nếu bà đã kết hôn chỉ trong một vài ngày trước đó thì việc ‘làm trọn’ về trinh nữ có thể bị bác bỏ một cách đơn giản. Nói cách khác, nếu bà đã không đính hôn và bị phát hiện là có thai bà lại có thể là đã không có một vị hôn thê để chăm sóc cho mình. Trong văn hóa đó, một người phụ nữ mang thai nhưng không đính hôn phải tự bảo vệ cho chính mình- nếu bà được cho phép để được tiếp tục sống.

Ngữ cảnh của Ma-ri

Những sự ‘trùng hợp’ đáng chú ý và không có nhiều khả năng xảy ra đã khiến cho sự giải thích về trinh nữ không thể bác bỏ, điều này khiến tôi lấy làm kinh ngạc. Như tôi bày tỏ ở trên về những sự trùng hợp này là không được mong đợi, nhưng chúng bày tỏ ý nghĩa về sự cân bằng và thời điểm, đặc biệt là việc mang đến sự tiên đoán về trinh nữ trong Septuagint, điều này bày tỏ kế hoạch và ý định- đó là Tâm Trí.

Nếu ma-ri đã kết hôn được một khoảng thời gian trước khi Chúa Giê-xu sinh ra, hoặc nếu Ngài đã có những anh hoặc chị lớn hơn thì những nhân chứng chống đối ở phía đối lập chắc chắn phải nhắc đến điều ấy. Thay vào đó nó dường như là họ trì hoãn những người viết phúc âm về điểm nàymột lần nữa. FF. Bruce chú thích điều này khi ông giải thích cách mà Chúa Giê-xu được nhắc đến ở trong các bài viết của thầy dạy đạo:

Chúa Giê-xu được biết đến trong một văn phẩm của các thầy dạy như là Chúa Giê-xu ben Pantera hoawch Ben Pandira. Điều này có thể có nghĩa là “con trai của con báo”. Một sự giải thích có thể đó là một sự hư hại của một parthenos, từ Hy Lạp cho từ “trinh nữ” và được dấy nên từ các tham khảo về Cơ Đốc Nhân xem Ngài như là con trai của một trinh nữ (trang 57.58)

Ngày nay, cũng giống như lúc xưa vào thời điểm của Chúa Giê-xu, có rất nhiều sự đối lập đối với Chúa Giê-xu và sự tuyên bố của lời phúc âm. Vì thế giống như bây giờ, cũng có một sự thù oán lớn đối với Ngài. Nhưng sự khác biệt trong sự đối lập này là vào lúc đó họ cũng đã là những người nhân chứng, và là những nhân chứng đối lập nên họ đã không khước từ chính điểm này mà ngài phải nên làm, những điểm này chắc đã được bịa ra hoặc có sự nhầm lẫn nào đó.

Nhưng câu chuyện thậm chí không được dừng ở đó. Thậm chí những người chống đối lại những lời tuyên bố siêu nhiên về Chúa Giê-xu ngưỡng mộ Ngài vì cách Ngài sống trên phương diện hoàn toàn là một con người. Nhiều người có thể tranh luận về thần tính của Ngài nhưng họ ít khi tranh luận về đạo đức của Ngài. Và vào thời điểm này, một lần nữa một sự chấp nhận bất đắc dĩ của những bên đối lập này có thể khiến chúng ta dừng lại và hỏi: Ngài đã có được đạo đức này từ đâu? Lối sống đạo đức được tôn lên đó cũng là một dấu ấn tranh luận về sự được hạ sinh từ người nữ đồng trinh.

(Câu chuyện Kinh Thánh về sự hạ sinh của Chúa Giêsu- ở đây)

Còn Về Khoa Học Thì Sao?

Một số người muốn lờ đi cam kết của chính mình với Đấng Christ bằng cách lên tiếng kết luận rằng nếu bạn không thể chứng minh một số điều cách khoa học thì điều đó không đúng hoặc không xứng đáng để được chấp nhận. Khi một người không thể chứng minh cách khoa học về thần tính của Chúa Giê-xu hoặc sự sống lại, thì các cá nhân ở thế kỷ hai mươi nên biết tốt hơn là nên chấp nhận Đấng Christ là Cứu Chúa hoặc tin nơi sự sống lại.

Thường thì trong lớp học triết lý hoặc lịch sử tôi đối mặt với thách thức, “Bạn có thể chứng minh điều đó theo khoa học không?” Tôi thường nói, “Ừ thì, không, tôi không phải là một nhà khoa học”. Sau đó bạn có thể nghe cả lớp cười khúc khích và thường một số giọng nói vang lên “Đừng có nói với tôi về điều đó” hoặc “Thấy chưa, bạn ấy phải dùng đức tin để nói về tất cả” (có hàm ý là đức tin mù lòa).

Gần đây trên một chuyến đi đến Boston tôi nói chuyện với người hành khách ngồi sát bên tôi về việc tại sao bản thân tôi tin Đấng Christ là như Ngài đã tuyên bố. Người phi công khi đến chào thăm tất cả hành khách chung, đã nghe được cuộc nói chuyện của chúng tôi. “Anh có một vấn đề”, người phi công nói. “ Điều đó là gì?” Tôi hỏi. “Anh không thể chứng minh được điều đó bằng khoa học”, người phi công đối đáp.

Cách suy nghĩ mà con người hiện đại đã tụt hậu khá thú vị. Bằng cách nào đó, ở đây vào thế kỷ hai mươi chúng ta có rất nhiều người có suy nghĩ rằng nếu bạn không thể chứng minh điều gì đó cách khoa học thì điều đó không đúng. Ồ, điều đó mới là không đúng! Có một vấn đề đối với việc chứng minh bất cứ điều gì đó về một con người hoặc thậm chí ở cả trong lịch sử. Chúng ta cần phải hiểu sự khác biệt giữa những bằng chứng khoa học và những gì mà tôi gọi là bằng chứng lịch sử đúng đắn. Để tôi giải thích hai điều trên.

Bằng chứng khoa học dựa vào việc chỉ ra điều gì đó là một sự thật bằng cách lặp đi lặp lại sự việc đó ở trong hiện tại lúc người đó đang nghi vấn về sự thật đó. Có một môi trường được điều khiển trong đó các sự quan sát có thể được thực hiện, những thông tin được lấy ra, và các giả thuyết được đưa ra theo kinh nghiệm được xác thực.

“Tuy nhiên, phương pháp khoa học được định nghĩa là có liên quan đến phép đo lường của một hiện tượng và một sự thử nghiệm hoặc sự quan sát được lặp đi lặp lại”. Tiến sĩ James B. Conant, là hiệu trưởng trước đây của Đại Học Havard viết “Khoa học là một tổng hợp các khái niệm liên kết lẫn nhau và các hệ thống khái niệm mà được phát triển như là một kết quả của một thí nghiệm hoặc một quan sát, và có kết quả hơn đối với những thí nghiệm ra quan sát xa hơn.”

Thử nghiệm về sự thật của một giả thuyết bằng việc sử dụng những thí nghiệm được điều khiển là một trong những kỹ thuật chìa khóa của phương pháp hoa học hiện đại. Ví dụ, một người nào đó nói, “xà phòng màu ngà không nổi trên mặt nước”. Cho nên tôi mang một người vào trong bếp, đổ khoảng 8 inch nước vào trong bồn ở nhiệt độ 82.7°, và sau đó thả cục xà phòng vào. Rơi xuống. Quan sát đã được thực hiện, dữ liệu đã được ghi lại, và một giả thuyết theo kinh nghiệm đã được xác thực: Xà phòng màu ngà nổi trên mặt nước.

Bây giờ nếu phương pháp khoa học là cách duy nhất để chứng minh điều gì đó, bạn không thể chứng minh rằng bạn đi đến lớp học trong một giờ đồng hồ đầu vào buổi sáng hoặc bạn đã ăn trưa ngày hôm nay. Không có cách nào để bạn có thể lặp lại những sự việc này trong một tình huống được điều khiển.

Bây giờ đây là điều được gọi là bằng chứng lịch sử đúng đắn, tức là được dựa trên việc bày tỏ một điều gì đó là một sự thật vượt quá sự nghi ngờ cách hợp lý. Nói cách khác, một nhận định đạt được dựa trên nền tảng trọng lượng của một bằng chứng. Điều đó là, không có cơ sở hợp lý cho việc nghi ngờ một quyết định. Điều đó phụ thuộc vào ba kiểu chứng minh: chứng minh bằng lời, chứng minh bằng bài viết, và bằng vật trưng bày (giống như là súng, đạn, một quyển tập). Sử dụng phương pháp hợp pháp trong việc xác định điều gì đã xảy ra, bạn có thể chứng minh khá tốt vượt trên sự nghi ngờ hợp lý rằng bạn có ở trong lớp sáng hôm nay: các bạn của bạn đã thấy bạn, bạn có những lời ghi chú của mình, và giáo sư nhớ bạn.

Phương pháp khoa học có thể được dùng chỉ để chứng minh những điều có thể lặp lại, nó không đúng trong việc chứng minh hoặc không chứng minh nhiều câu nghi vấn về một người hoặc một sự kiện trong lịch sử. Phương pháp khoa học thì không thích hợp với việc trả lời những câu hỏi như là: “Ông Geoge Washington đã từng sống hay không?” “Có phải ông Martin Luther King là một người lãnh đạo về nhân quyền không?” “Chúa Giê-xu người Na-ra-zét là ai?” “Ông Robert Kennedy có phải là chưởng lý của nước Mỹ không?” “Chúa Giê-xu Christ đã thật sống lại không?” Những câu hỏi vượt xa phạm vi của bằng chứng hợp pháp. Nói cách khác, phương pháp khoa học dựa trên việc quan sát, tập hợp dữ liệu, đưa ra giả thuyết, rút ngắn, và thí nghiệm xác thực để tìm ra và giải thích sự thường xuyên theo kinh nghiệm ở trong tự nhiên, không có những câu trả lời cuối cùng cho những câu hỏi như là “ Bạn có thể chứng minh được sự sống lại không?” hoặc “Bạn có thể chúng minh rằng Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời không?” Khi con người phụ thuộc vào phương pháp lịch sử hợp pháp, họ cần phải kiểm tra độ đáng tin cậy của những lời chứng đó.

Một điều mà đặc biệt gây cuốn hút đối với tôi đó là niềm tin Cơ Đốc không phải là một niềm tin mù quáng và ngu muội nhưng đó là một niềm tin khôn ngoan. Mỗi lần trong Kinh Thánh khi có một người được gọi để hành động theo niềm tin của họ, đó là một niềm tin khôn ngoan. Chúa Giê-xu nói ở trong Giăng 8, “Ngươi sẽ biết lẽ thật”, đừng bỏ qua nó. Đấng Christ đã được hỏi, “Điều răn lớn nhất của tất cả là gì?” Ngài trả lời, “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu Chúa là Thượng Đế của ngươi”. Một vấn đề đối với nhiều người đó là họ dường như dừng lại ở tấm lòng của họ. Các sự thật về Đấng Christ không bao giờ đi vào trong tâm trí họ. Chúng ta được ban cho một tâm trí, được thêm vào bởi Đức Thánh Linh để biết về Chúa, cũng như là một tấm lòng để yêu mến Ngài và một lý trí để chọn Ngài. Chúng ta cần phải thực hiện chức năng ở cả ba khía cạnh để có thể có được mối quan hệ lớn nhất với Chúa và để làm vinh quang danh Ngài. Tôi không biết về người đọc, nhưng tấm lòng của tôi không thể vui mừng với những điều mà tâm trí tôi từ chối. Tấm lòng và tâm trí tôi được tạo nên để cùng làm việc thuận hòa cùng nhau. Không bao giờ một người được gọi để dâng ý tưởng tự tử trong tâm trí của mình lên với niềm tin là Đấng Christ là Đấng Giải Cứu và là Đức Chúa Trời.

Trong bốn chương tiếp theo chúng ta sẽ cùng xem bằng chứng cho mức độ đáng tin cậy của những tài liệu được viết và sự đáng tin của những lời chứng và nhân chứng về Chúa Giê-xu.

Điều Gì Khiến Cho Chúa Giê-xu Rất Khác?

Gần đây tôi đã nói chuyện với một nhóm người tại Los Angeles. Tôi hỏi họ, “Theo ý kiến của các anh ai là Chúa Giê-xu Christ?” Câu trả lời đó là Ngài là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Tôi đồng ý với điều đó. Chúa Giê-xu Christ là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Nhưng tôi tin rằng Ngài còn hơn thế nữa.

Con người qua nhiều năm đã phân rẻ nhau bởi vì một câu hỏi, “Chúa Giê-xu là ai?” Tại sao có nhiều tranh luận chỉ vì một cá nhân? Tại sao tên của Ngài, hơn là tên của bất kỳ người lãnh đạo tôn giáo nào khác, gây sự khó chịu? Tại sao khi bạn nói về Ông Trời thì không ai thấy phiền hà gì, nhưng khi bạn đề cập đến hai chữ Giê-xu, nhiều người rất muốn dừng ngay cuộc nói chuyện lại? Hoặc họ trở nên phòng thủ. Tôi đã đề cập về điều gì đó về Chúa Giê-xu với một người lái taxi ở Luân Đôn, và ngay lập tức người tài xế nói “tôi không thích thảo luận về tôn giáo, đặc biệt là Chúa Giê-xu”.

Chúa Giê-xu khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác như thế nào? Tại sao những cái tên như là Phật, Mô-ha-mát, Khổng Tử không làm người khác khó chịu? Lý do đó là những người khác đã không tuyên bố mình là Chúa (Trời), nhưng Chúa Giê-xu đã tuyên bố vậy. Điều đó là điều khiến cho Ngài rất khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác. Không mất nhiều thời gian để những người đã biết Chúa Giê-xu nhận ra rằng Ngài đã đưa ra những lời tuyên bố đáng kinh ngạc về bản thân Ngài. Điều này đã trở nên rõ ràng hơn khi các tuyên bố của chính Ngài khiến Ngài hơn là một nhà tiên tri hoặc một người thầy. Ngài rõ ràng đang đưa ra những lời tuyên xưng về thần tính. Ngài đang bày tỏ chính Ngài là một con đường duy nhất để đến với mối quan hệ với Đức Chúa Trời, là nguồn duy nhất để đến với sự tha thứ cho tội lỗi, và là cách duy nhất để được cứu rỗi.

Đối với rất nhiều người đây là điều quá tách biệt, quá nông cạn để họ muốn tin điều đó. Thế nhưng vấn đề không phải là chúng ta muốn nghĩ hay tin điều gì, nhưng mà, Chúa Giê-xu đã tuyên bố là ai?

Những tài liệu về Tân Ước đã nói gì với chúng ta về điều này? Chúng ta thường nghe câu “thần tính của Đấng Christ”. Điều này có nghĩa rằng Chúa Giê-xu Christ là Chúa.

A.H. Strong trong sách Thần Học Hệ Thống định nghĩa Đức Chúa Trời là “thần vô hạn và hoàn hảo, nơi Ngài bắt nguồn tất cả các nguồn, sự ủng hộ và nơi kết thúc”. Định nghĩa này về Đức Chúa Trời đúng với tất cả người theo thuyết có thần, bao gồm cả người Hồi Giáo và Do Thái. Thuyết có thần dạy rằng Đức Chúa Trời là cá nhân và cả vũ trụ được lên kế hoạch và tạo ra bởi Ngài. Đức Chúa Trời giữ gìn và cai quản nó trong hiện tại. Những người Cơ Đốc Nhân theo thuyết có thần thêm vào một chú thích đối với định nghĩa ở trên: “và Đấng đã hiện thân qua Chúa Giê-xu đến từ Na-za-rét.”

Chúa Giê-xu thật ra là một cái tên và một danh hiệu. Cái tên Giê-xu được bắt nguồn từ Tiếng Hy Lạp của tên Jeshua hoặc Giô-suê có ý nghĩa “Giê-hô-va- Đấng Giải Cứu” hoặc “Đức Chúa Trời cứu rỗi. “Danh Hiệu Đấng Christ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cho từ Mê-si-a (hoặc Tiếng Hê-bơ-rơ- Mashiach- Đa-ni-ên 9:26) và có nghĩa “Đấng được sức dầu”. Hai cán bộ, vua và thầy thế lễ cũng liên quan đến việc sử dụng danh hiệu “Đấng Christ”. Danh hiệu của Ngài xác nhận rằng Chúa Giê-xu là một thầy tế lễ giao ước và Vua của các tiên tri trong Cựu Ước. Sự xác nhận này là một trong những mặt chính trong việc đạt được một sự hiểu biết đúng đắn về Chúa Giê-xu và Cơ Đốc Giáo.

Tân Ước rõ ràng bày tỏ rằng Đấng Christ là Chúa. Các danh xưng của Ngài được dùng cho đấng Christ ở trong Tân Ước là những điều mà họ có thể dùng chỉ cho duy nhất một Đấng đó là Chúa. Ví dụ, Chúa Giê-xu được gọi là Đức Chúa Trời trong câu này, “đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Tít 2:13; so sánh với Giăng 1:1, Hê-bơ-rơ 1:8; Rô-ma 9:5; 1 Giăng 5:20-21). Kinh Thánh cho rằng những thuộc tính về Ngài mà có thể đúng chỉ với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu được bày tỏ là Đấng tự tồn tại (Giăng 1:4, 14:6); toàn tại [có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc] (Ma-thi-ơ 28:20, 18:20); toàn tri (Giăng 4:16, 6:64; Ma-thi-ơ 17: 22-17); toàn năng (Khải Huyền 1:8, Lu-ca 4: 39-55, 7: 14-15; Ma-thi-ơ 8:26-27), và được hưởng sự sống đời đời (1 Giăng 5: 11-12, 20, Giăng 1:4).

Chúa Giê-xu nhận được sự tôn kính và tôn thờ mà chỉ duy có Đức Chúa Trời mới đáng nhận. Trước sự đối mặt với Sa-tan, Chúa Giê-xu đã phán, “Được viết rằng, ‘ngươi phải tôn thờ Đức Chúa Trời là Chúa ngươi, và phục vụ chỉ duy Ngài thôi” (Ma-thi-ơ 4:10). Thế nhưng Chúa Giê-xu đã nhận sự tôn thờ như là Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 14: 33, 28:9) và đôi khi thậm chí được yêu cầu để được tôn thờ như là Đức Chúa Trời ( Giăng 5: 23; so sánh với Hê-bơ-rơ 1:6, Khải Huyền 5: 8-14).

Hầu hết những người theo Chúa Giê-xu sùng kính người Do Thái, những người tin cậy làm một Đức Chúa Trời chân thật. Họ là những người tin vào thuyết một thần, thế nhưng họ nhận ra rằng Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời.

Bởi vì việc dạy dỗ về thầy dạy đạo rất sâu sắc, Phao-lô thậm chí cũng không cho rằng Chúa Giê-xu có thần tính, để mà tôn thờ một con người đến từ Na-ra-rét và gọi người đó là Đức Chúa Trời. Nhưng đây chính xác là điều mà Phao-lô đã làm. Ông nhận thức được Chiên Con của Đức Chúa Trời (Chúa Giê-xu) là Đức Chúa Trời khi ông nói, “Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình” (Công vụ các sứ đồ 20:28).

Phi-e-rơ xưng tội, sau khi Đấng Christ hỏi ông là ai: “Si-môn Phi -e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống” (Ma-thi-ơ 16:16). Chúa Giê-xu đã đáp lại với lời xưng tội không chỉ bằng sữa chữa kết luận của ông bằng việc nhận thức được giá trị và nguồn gốc của nó: “Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.” (Ma-thi-ơ 16:17)

Ma-tha, một người bạn thân của Chúa Giê-xu đã nói với Ngài, “Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (Giăng 11: 27). Và sau đó có Na-tha-na-ên, người đã không nghĩ là có bất cứ điều gì tốt đến từ Na-ra-rét. Ông nhận ra rằng Chúa Giê-xu là “thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!” (Giăng 1:49).

Trong khi Ê-tiên bị ném đá “Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi!” (Công vụ các sứ đồ 7:59). Người viết sách Hê-bơ-rơ đã gọi Đấng Christ là Đức Chúa Trời khi ông viết, “Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia” (Hê-bơ-rơ 1:8). Giăng Báp Tít tuyên bố về việc đến của Chúa Giê-xu bằng việc nói rằng “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” (Lu ca 3:22).

Sau đó tất nhiên chúng ta thấy Thô-ma xưng tội, được viết đến là “Người hay nghi vấn”. có lẽ ông là một sinh viên tốt nghiệp. Ông nói, “nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.” Tôi có thể hiểu được Thô-ma. Ông nói “Một tuần sau, các môn đệ đang nhóm nhau trong phòng, lần nầy có mặt Thô-ma. Cửa đang khóa chặt thì Chúa Giê-xu bỗng hiện đến đứng giữa họ và nói rằng, “Bình an cho các con.” Rồi Ngài bảo Thô-ma, “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn kỹ bàn tay ta. Hãy đến đặt bàn tay con vào hông ta. Đừng ngờ vực nữa mà hãy tin!”

Thô-ma kêu lên, “Lạy Chúa và Thượng Đế của con!”

Chúa Giê-xu bảo Thô-ma, “Bây giờ con tin vì mắt con đã thấy ta. Ai không thấy mà tin là người có phúc thật!” (Giăng 20:26-29 BPT). Chúa Giê-xu chấp nhận sự nhận thức của Thô-ma về Ngài là Đức Chúa Trời. Ông khiển trách Thô-ma vì sự không tin của ông, chứ không phải là sự thờ phượng của ông.

Vào lúc này một nhà phê bình có lẽ xen vào rằng tất cả những lời ám chỉ này về Đấng Christ, không phải từ bản thân chính Đấng Christ. Sự buộc tội trong lớp học mà những người vào thời điểm của Đấng Christ đã hiểu sai về Ngài như là chúng ta hiểu sai về Ngài hôm nay. Nói cách khác, Chúa Giê-xu thật sự đã không tuyên bố mình là Đức Chúa Trời.

Thật ra thì, tôi nghĩ là Ngài đã tuyên bố như vậy, và tin rằng thần tánh của Đấng Christ được bắt nguồn trực tiếp từ các trang của Tân Ước. Có rất nhiều lời tham khảo và ý nghĩa của chúng thì rất rõ ràng. Một người doanh nhân xem xét kỹ lưỡng Kinh Thánh để xác nhận Đấng Christ có tuyên bố là Đức Chúa Trời không đã nói, “Đối với những người đọc sách Tân Ước và không kết luận rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố trở thành thần, người ấy chắc phải như một người bị mù đứng ngoài cửa trong một ngày sáng sủa và nói rằng người ấy không thể thấy mặt trời”.

Trong Phúc Âm Giăng chúng ta thấy có một sự giáp mặt giữa Chúa Giê-xu và một số người Do Thái. Họ cảm thấy khó chịu vì Chúa Giê-xu đã chữa lành một người bị què vào ngày Sa-bát và nói với người đó hãy vác giường mà đi. “Và vì lý do này người Do Thái đàn áp Chúa Giê-xu bởi vì Ngài đã làm những việc đó vào ngày Sa-bát. Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Cha ta luôn luôn làm việc, cho nên ta cũng làm việc.”

Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5: 16-18)

Bạn có thể nói, “Hãy nhìn kìa Josh tôi có thể nói, ‘Cha chúng ta làm việc cho đến bây giờ, và bản thân tôi cũng đang làm việc.’ Như vậy thì đã sao? Điều này chẳng chứng minh được điều gì.” Bất cứ khi nào chúng ta nghiên cứu về một tài liệu, chúng ta phải xem xét về ngôn ngữ, văn hóa, và đặc biệt là một người hoặc những người được nhắm đến. Trong trường hợp là văn hóa Do Thái và những người được nhắm đến là những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Hãy cùng xem cách mà người Do Thái hiểu được lời nhận xét của Chúa Giê-xu cách đây 2000 năm trong văn hóa của chính họ. “Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5:18). Tại sao lại có một phản ứng quyết luyệt như vậy?

Lý do như Chúa Giê-xu đã nói “Cha ta”, không phải là “Cha chúng ta”, và sau đó thêm vào “làm việc cho đến bây giờ”. Chúa ‘Giê-xu’ sử dụng hai cụm câu này để khiến cho bản thân Ngài ngang bằng với Đức Chúa Trời, ngang bằng với các hoạt động của Đức Chúa Trời. Người Do Thái đã không ám chỉ đến Đức Chúa Trời là “Cha Tôi”. Chúa Giê-xu cũng ám chỉ rằng trong khi Đức Chúa Trời đang làm việc, Ngài, Con Trai, cũng đang làm việc vậy. Một lần nữa, người Do Thái đã hiểu được sự ám chỉ rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Như là một kết quả của lời tuyên bố này, sự thù ghét của người Do Thái càng lớn mạnh hơn. Thậm chí họ đang tìm kiếm, chủ yếu là để áp bức Ngài, sau đó họ đã bắt đầu mong muốn để giết Ngài.

Không chỉ Chúa Giê-xu tuyên bố sự ngang bằng với Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, nhưng ngài cũng khẳng định rằng Ngài với Cha là một. Trong suốt bữa tiệc về sự Cung Hiến tại Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đã kết thúc lời bình luận của mình rằng “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30). Nhưng Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ta đã làm nhiều điều phúc đức từ Cha mà các ngươi đã thấy. Điều phước đức nào khiến các ngươi muốn giết ta?” Người Do-thái đáp, “Không phải chúng tôi giết ông vì những việc phúc đức ông làm mà vì ông phạm thượng. Ông chỉ là người mà dám tự cho mình là Trời!” (Giăng 10: 31-33 BPT).

Một người có thể sẽ tự hỏi vì sao có những sự phản ứng mạnh mẽ đến những điều Chúa Giê-xu đã nói về việc trở nên một với Cha. Một sự liên hệ thú vị về câu này đã dấy lên khi được học về người Hy-lạp. Một học giả người Hy-Lạp A. T. Robertson đã viết rằng một “người” là từ trung gian, không có ý nghĩa là nam giới, trong Tiếng Hy-lạp, và không hàm ý một người hay một mục đích nhưng có là một trong “bản chất hoặc tự nhiên”. Robertson sau đó thêm vào: “Câu nói quả quyết này là một lời tuyên bố đỉnh cao của Đấng Christ về mối quan hệ giữa Đức Chúa Cha và bản thân Ngài (Đức Chúa Con). Họ làm người Pha-ri-si nổi lên cơn giận không thể kiểm soát được”.

Điều này được chứng minh rằng trong tâm trí của những người đã nghe về câu nói này không nghi ngờ gì rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời. Vì thế, Leon Morris, hiệu trưởng trường Ridley College, Melbourne, viết rằng “Người Do Thái có thể xem lời của Chúa Giê-xu là lời báng bổ, và họ tiến triển để mang lấy sự xét đoán về trong tay của chính họ. Điều đó được viết lại trong Luật rằng sự báng bổ sẽ bị trừng phạt bằng việc ném đá ( Lê-vi-ký 24:16). Những người đàn ông đó không được phép những tiến trình luật pháp đó được thực hiện. Họ đã không chuẩn bị một sự truy tố để mà các cơ quan chức năng có thể thực hiện những hành động cần thiết. Trong sự giận giữ của mình họ đã sẵn sàng để là các người phán xét và đồng là những người xử tội.”

Chúa Giê-xu bị đe dọa với việc bị ném đá do tội “nói lời bổ báng.” Những người Do Thái rõ ràng có thể hiểu được sự dạy dỗ của Ngài nhưng chúng ta có thể hỏi, Ngài đã dừng lại để cân nhắc về các lời tuyên bố của Ngài có đúng hay không?

Chúa Giê-xu tiếp tục nói về bản thân Ngài là cùng một bản chất và bản tính với Đức Chúa Trời. Ngài xác nhận cách rành mạch “Nếu các ngươi biết ta thì hẳn phải biết Cha ta nữa.” (Giăng 8:19); “Ai thấy ta cũng thấy Đấng sai ta” (Giăng 12:45); Ai ghét ta cũng ghét Cha ta (Giăng 15:23); để mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến” (Giăng 5:23); etc. Những lời tham khảo này chắc chắn ám chỉ rằng Chúa Giê-xu rất gần hơn hoặc mật thiết hơn với Đức Chúa Trời hơn những người khác cần phải suy nghĩ về lời tuyên bố này “mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.”

Khi tôi đang giảng dạy trong một lớp học văn chương vào trường Đại Học West Virginia, một giáo sư ngắt ngời tôi và nói rằng chỉ có Phúc Âm và trong đó Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời đó là Phúc Âm Giăng, và đó là Phúc Âm được viết sau cùng. Sau đó Ngài đã khẳng định rằng Mác, Phúc Âm sớm nhất, không có một lần nào đề cập đến lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời. Điều rõ ràng đó là người đàn ông này đã không đọc sách Mác, hoặc không chú tâm nhiều vào điều ông đọc.

Để đáp lại tôi quay lại với Phúc Âm Mác. Ở đó Chúa Giê-xu tuyên bố là có thể tha thứ tội lỗi. “Khi thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại rằng, “Con ơi, tội con đã được tha rồi.”’ (Mác 2:5, xem Lu-ca 7:48-50). Với luật của Do Thái điều này là điều chỉ duy Đức Chúa Trời có thể làm được, Ê-sai 43:25 giới hạn đặc quyền này đối với duy nhất Đức Chúa Trời. Những người sao chép hỏi “Tại sao người đàn ông này có thể nói cách đó? Ông đang nói lời bổ báng; ai có thể tha tội ngoại trừ mình Đức Chúa Trời? (Mác 2:7). Chúa Giê-xu sau đó đã hỏi điều nào sẽ là dễ hơn, để nói “Tội của ngươi đã được tha”, hay nói “Hãy đứng lên vác giường mình mà đi”?

Theo như quyển sách bình luận Wycliffe, đây là một câu hỏi “không thể trả lời được”. Các lời tuyên bố này cũng đơn giản tương tự để phát âm, nhưng để nói là có một sự trình bày thêm vào, đòi hỏi một quyền năng thánh khiết. Là một kẻ mạo danh, tất nhiên, trong việc tìm kiếm để tránh việc bị phát hiện, sẽ thấy điều phía trên dễ hơn. Chúa Giê-xu tiến triển đến việc chữa lành những bệnh tật mà con người có thể biết đến và Ngài có quyền lực để giải quyết với nguyên nhân của nó”. Vào điều này ông bị buộc tội về việc phỉ báng bởi những người lãnh đạo tôn giáo. Lewis Sperry Chafer viết ra rằng “không ai trên đất có thẩm quyền hoặc quyền để tha tội. Không ai có thể tha thứ tội lỗi để cứu Đấng mà tất cả mọi người đều đã phạm tội nghịch cùng. Khi Đấng Christ tha thứ tội lỗi, như Ngài chắc chắn đã làm vậy, Ngài đã không sử dụng những đặc quyền của một con người. Bởi vì không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi, kết luận đó là Đấng Christ, bởi vì ngài đã tha thứ tội lỗi, và Chúa.”

Khái niệm về sự tha thứ này khiến tôi lo lắng trong một lúc bởi vì tôi đã không hiểu được điều đó. Một ngày trong lớp học triết lý, trả lời câu hỏi về thần tính của Đấng Christ, tôi trích dẫn các câu ở phía trên ở trong sách Mác. Một người trợ giảng đã tốt nghiệp thách thức kết luận của tôi rằng sự tha tội của Đấng Christ được mô tả ở trong thần tính của Ngài. Ngài nói rằng Ngài có thẻ tha thứ một người nào đó và điều đó không chứng minh rằng Ngài tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Khi tôi suy nghĩ về điều mà người trợ giảng của tôi nói, tôi cảm thấy choáng vì sao các nhà lãnh đạo tôn giáo phản ứng chống lại Đấng Christ vậy. Vâng, một người có thể nói “tôi tha thứ cho bạn”, “nhưng điều đó có thể nói bởi người đã phạm tội nghịch cùng. Nói cách khác, nếu bạn phạm tội nghịch cùng tôi, tôi có thể nói, “Tôi tha thứ cho bạn. Nhưng đó không phải là điều Đấng Christ làm. Những người bị tê liệt đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, sau đó là Đức Chúa Giê-xu, dưới thẩm quyền của chính mình, đã nói “Tội lỗi của ngươi được tha”. Vâng, chúng ta có thể tha thứ cho những sự tổn thương nghịch lại chúng ta, nhưng không có cách nào để bất cứ người nào có thể tha thứ những tội chống nghịch lại chính Chúa ngoại trừ bản thân chính Ngài. Đó là điều mà Chúa Giê-xu đã làm.

Không nghi ngờ gì người Do Thái đã phản ứng mạnh khi một người thợ mộc từ Na-za-rét tuyên bố lời rõ ràng như vậy. Quyền lực này của Chúa Giê-xu để tha thứ tội lỗi là một ví dụ đáng ngạc nhiên về việc thực hiện đặc quyền thuộc về một mình Đức Chúa Trời. Cũng như ở trong sách Phúc Âm Mác chúng ta thấy được sự thử thách của Chúa Giê-xu (14: 60-64). Những tiến triển của thủ thách này là một trong những lời tham khảo rõ ràng nhất đới với lời tuyên bố của Chúa Giê-xu về thần tính của Ngài. Sau đó thầy tế lễ tối cao đứng trước mặt họ và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh không trả lời gì hết à? Anh không trả lời những điều người ta tố cáo anh sao?” Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào. Thầy tế lễ tối cao hỏi Ngài một câu nữa, “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” Chúa Giê-xu đáp, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế. Trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng quyền uy và sẽ ngự đến giữa mây trời.” Nghe câu ấy, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Chúng ta đâu cần nhân chứng nữa! Các ông đã nghe hắn nói phạm thượng, nghịch với Thượng Đế rồi. Các ông nghĩ sao?” Tất cả đồng thanh nói rằng Ngài có tội đáng bị xử tử.”

Vào lúc ban đầu Chúa Giê-xu đã không trả lời, như vậy Đấng Tối Cao đã đặt Ngài ở dưới một lời thề. Bị bắt phải nói dưới một lời thề Chúa Giê-xu đã phải trả lời (và tôi rất mừng Ngài đã làm điều đó). Ngài đã trả lời cho câu hỏi “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” bằng việc trả lời, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế.

Một sự phân tích về lời chứng của Đấng Christ chỉ ra rằng Ngài đã tuyên bố vậy (1) Con Trai của Thượng Đế đáng chúc tụng (Đức Chúa Trời); (2) Đấng ngồi phía bên tay phải quyền năng, và (3) Con của Người đã đến trên các tầng mây của Thiên Đàng. Mỗi sự xác nhận lại này là một lời phân biệt riêng biệt về Đấng Mê-si. Hiệu ứng cộng dồn của cả ba điều này là rất đáng ngạc nhiên. Tòa án Do Thái, Sanhedrin, nắm bắt được cả ba điểm này, Đấng tối cao đã trả lời bằng việc xé áo choàng của mình và nói, “Chúng ta có những nhu cầu nào khác về các nhân chứng?” Họ cuối cùng đã nghe điều đó từ chính Ngài. Họ bị kết án bởi những lời từ chính miệng của họ.

Robert Anderson viết rõ rằng: “Không có bằng chứng được xác nhận nào hơn những bằng chứng từ những nhân chứng đối lập, và sự thật rằng Đức Chúa Trời đã có được sự tuyên bố về Thần Tính thì được thành lập không thể chối cãi được bằng hành động của các kẻ thù của Ngài. Chúng Ta phải nhớ rằng người Do Thái không phải là một bộ tộc của những người man rợ, nhưng là những người có văn hóa cao và có tôn giáo mạnh mẽ, và vì chính điều này mà, không có lời trái quan điểm, sự chết của Ngài được ra sắc lệnh bởi hội đồng Sanhedrin- Hội Đồng quốc gia vĩ đại của họ, bao gồm những người lãnh đạo tôn giáo xuất sắc nhất, bao gồm cả người đàn ông thuộc loại Gamaliel và những học sinh ưu tú nhất của ông, Sau-lơ của Ta-sớt.

Rõ ràng là, đây là một lời chứnng mà Chúa Giê xu muốn nghe từ chính họ. Chúng ta cũng thấy rằng người Do Thái hiểu được lời trả lời của ngài như là một lời tuyên bố về Ngài là Đức Chúa Trời. Có hai sự thay thế khác nhau cần phải được đối mặt, rằng những lời khẳng định là những lời báng bổ, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời. Những người đoán xét của Ngài thấy được vấn đề một cách rất rõ ràng, thật sự, là họ đã đóng đinh ngài và sau đó quở trách Ngài bởi vì “Hắn tin cậy Thượng Đế … Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” (Ma-thi-ơ 27:43)

H.B.Swete giải thích rằng về sự lớn lao của thầy tế lễ cả thượng phẩm xé đi áo choàng của mình: “Luật pháp nghiêm cấm việc thầy tế lễ cả xé áo quần mình vì những vấn đề cá nhân (Lê-vi-ký 10:6, 21:10), nhưng khi hành động như một Quan Xét, thầy được yêu cầu theo phong tục phải bày tỏ theo cách mà sự kính sợ của bất cứ lời báng bổ phát ra trong sự hiện diện của thầy. Nếu những bằng chứng đáng tin cậy không đến trước, sự cần thiết cho điều đó cho đến bây giờ đã bị bỏ đi: Người Tù đã phạm tội”.

Chúng ta bắt đầu thấy được rằng điều này không phải là một sự thử thách bình thường, như luật sư Irwin Linton đưa ra: “đặc biệt ở giữa những thử thách tù tội là điều này không phải là hành động nhưng là sự nhận diện của người bị kết tội là một vấn đề. Sự kết án chống nghịch lại Đấng Christ, sự xưng tội hoặc lời chúng hoặc, hơn nữa, hành động trong sự hiện diện của tòa án, trong điều này Ngài bị kết án, câu hỏi bởi người thống trị Rô-ma và sự khắc dấu và tuyên bố trên thập giá của Ngài vào lúc xử tội tất cả đang quan tâm đến một câu hỏi về hiện thân thật sự và phẩm giá của Đấng Christ. “Bạn nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là con của ai?”

Judge Gaynor, một luật gia hoàn mỹ ngồi trên dãy ghế tại New York, trong sự nhắm đến các thử thách của Chúa Giê-xu, hiểu được rằng sự báng bổ là một điều chống nghịch lại Ngài trước Hội Đồng Sanhedrin. Ông nói rằng: “rõ ràng từ mỗi câu chuyện phúc âm, rằng những tội phạm được gắn cho Chúa Giê-xu Christ và buộc kết án Ngài là lời báng bổ (được trích từ Giăng 10:33). (Sự tham khảo từ Gaynor là “Chúa Giê-xu khiến mình là Chúa” chứ không phải vì những điều mà Ngài nói về đền thờ).

Ở hầu hết các thử thách, con người đang cố gắng để đạt được những gì họ có, nhưng điều này không đúng về Đấng Christ. Chúa Giê-xu chịu thử thách cho việc Ngài là ai.

Sự thử thách của Chúa Giê-xu cần phải đủ để chứng minh một cách thuyết phục rằng Ngài đã xưng nhận về chính thần tính của Ngài, Các Quan Xét là những nhân chứng cho điều đó, Nhưng cũng như vậy, trên đường đi đến sự chịu đóng đinh, các kẻ tù của Ngài nhận ra rằng Ngài tuyên bố là Đức Chúa Trời đã đến trong thân thể” Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão cũng chế giễu Ngài.Họ bảo, “Hắn cứu người khác mà cứu mình không được! Hắn bảo hắn là vua Y-sơ-ra-ên! Nếu hắn là vua thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi thì chúng ta mới tin. Hắn tin cậy Thượng Đế thì hãy để Thượng Đế đến cứu hắn, nếu Thượng Đế thật sự cần hắn. Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng nhiếc móc Ngài. (Ma-thi-ơ 27: 41-43).

 

 

 

 

 

 

 

50. Khi Nào Là Thời Điểm Thuận Tiện Cho Bạn?

Có những người mà sau khi đọc xong Kinh Thánh và hiểu được Kinh Thánh nói về điều gì, quyết định liều lĩnh. Họ quyết định không tin Kinh Thánh. Họ chọn cách:

  • Lờ đi thông điệp.
  • Loại trừ nó ngay.
  • Bận rộn với cuộc sống, và vì thế quên nó đi.
  • Thay đổi thông điệp của nó
  • …và họ hy vọng rằng Kinh Thánh không đúng.

Hê-rốt A-ríp-ba đã liều lĩnh như thế. Và một cháu trai của vua Hê-rốt vĩ đại và cháu của vua Hê-rốt Antipas, ông đã nói chuyện tầm phào về Chúa Giê-xu cách kín đáo ở trong cung điện. Không nghi ngờ gì, những trinh thám đã tường thuật lại từng lời mà tiên tri đến từ Na-ra-rét đã nói. Nhưng Hê-rốt có địa vị, và ông là một người quan trong. Thay vì khiêm nhường bản thân mình trước Vua của các cua, ông tiếp tục sống một cuộc sống cho chính mình. Ông thậm chí đã đạt được sự biết đến bởi là một trong những môn đệ dẫn đầu của Chúa Giê-xu. Nhưng sau đó…

Hê-rốt định gặp họ, cho nên một ngày nọ vua mặc áo triều, ngự trên ngôi và đăng đàn diễn thuyết cho quần chúng.  Dân chúng la lên, “Đó là tiếng nói của thần chứ không phải của con người đâu!”  Vì Hê-rốt không dành vinh hiển cho Thượng Đế nên một thiên sứ Chúa khiến ông ta lâm bệnh, ông bị vi trùng hành hại rồi chết.

Công vụ các sứ đồ 12: 21-23 (BPT)

Đức Chúa Trời trong ân điển của Ngài sẽ khoan dung cho tội lỗi trong một lúc nhưng sau đó với sự công chính của Ngài thì Ngài sẽ đoán xét tội lỗi. Sự đoán xét sẽ đến trong cuộc sống này hoặc nó có thể được giữ lại cho đến sau sự chết, nhưng nó sẽ xảy đến.

Hê-rốt đã chết và ở trong Hồ Lửa đời đời, Câu tiếp theo rất đáng để chú ý…

Lời của Chúa càng ngày càng lan rộng ra đến nhiều người.

Công vụ các sứ đồ 12: 24 (BPT)

Tôi khuyến khích bạn không nên lờ đi những thông điệp Kinh Thánh và trở nên quá bận rộ để tìm hiểu thêm về nó. Nếu bạn không dành thời gian để thực sự khám phá ra tất cả những điều bạn cần để biết về sự sống và sự chết thì quả là điều đáng tiếc.

Một người khác đương thời với Chúa Giê-xu đó là vua Hê-rốt A-ríp-ba II. Là cháu trai của vua Hê-rốt Vĩ Đại, và là con trai của Hê-rốt A-ríp-ba, ông đã biết về Chúa Giê-xu. Kinh Thánh nói rằng vua A-ríp-ba nói rất thuyết phục về mọi điều liên quan đến Chúa Giê-xu. Sứ đồ Phao-lô bị bắt và chứng minh trước Ngài. Để bảo vệ trước A-ríp-ba, Phao-lô đã nói với ông về Chúa Giê-xu. Ông nói…

Vua A-ríp-ba biết rõ những điều nầy và tôi có thể tự do trình bày mọi điều cho vua. Tôi biết vua đã nghe những điều nầy, vì những việc ấy đâu có phải xảy ra nơi xó xỉnh nào? Thưa vua A-ríp-ba, ngài có tin các lời tiên tri không? Tôi biết ngài tin.”

Vua A-ríp-ba bảo Phao-lô, “Anh tưởng chỉ trong chốc lát mà thuyết phục được tôi để trở thành tín hữu Cơ-đốc à?”

Công vụ các sứ đồ 26: 26-28 (BPT)

Vua A-ríp-ba dường như hiểu Phao-lô khá rõ, hiểu nhiều đến nỗi mà ông thậm chí chấp nhận rằng Phao Lô đã hầu như gần thuyết phục ông tin. Nhưng A-ríp-ba đã liều lĩnh. Ông đã không tin. Ông đã đặt câu hỏi qua một bên với nỗ lực để tránh đi việc đưa ra quyết định. Như chúng ta được biết, A-ríp-ba đã không bao giờ tin. Vua đến vùng hiểu biết của mình nhưng lại không tin nó. Đó là sự lựa chọn của vua.

Ít hôm sau, Phê-lít cùng với vợ là Ru-xi-la, người Do-thái, yêu cầu đưa Phao-lô ra gặp mặt. Phê-lít nghe Phao-lô nói về đức tin trong Chúa Giê-xu. Nhưng Phê-lít đâm ra sợ khi nghe Phao-lô nói về cách sống đạo, sự tiết độ và thời kỳ Thượng Đế xét xử thế gian. Ông bảo, “Thôi anh về đi. Khi nào rảnh tôi sẽ gọi anh.” 

Công vụ các sứ đồ 24: 24-25 (BPT)

Phê-lít đã không quyết định. Ông chờ đến một lúc thuận tiện. Rất dễ để chúng ta làm điều đó, nhưng Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rằng bây giờ là lúc để quyết định…

… “Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi đúng lúc. Ta đã cứu giúp ngươi trong ngày cứu rỗi.”

2 Cô-rinh-tô 6:2 (BPT)

Chúng ta đã không bao giờ biết được tương lai sẽ nắm giữ điều gì, hoặc cuộc sống của chúng ta sẽ bị cất đi nhanh như thế nào. Chúng ta cần phải quyết định ngay bây giờ. Tất nhiên Phê-lít sợ hãi, và thỉnh thoảng chúng ta cũng trở nên sợ hãi. Chúng ta tự hỏi người khác có thể nghĩ gì. Điều đó thật sự không thành vấn đề. Điều quan trọng đó là Đức Chúa Trời nghĩ gì. Không có lịch sử Kinh Thánh hay lịch sử thế giới tường thuật điều gì đã xảy ra với Phê-lít, nhưng, theo như những gì chúng ta biết, vua đã không bao giờ tìm thấy một dịp thuận tiện để tin.

Phê-lít đã có những động lực kín đáo. Mối quan tâm đối với Chúa Giê-xu được nói ra đã bị xuyên tạc bởi mong muốn có thêm tiền bạc. Tuy nhiên, ông đã nói thường xuyên với Phao-lô về Chúa Giê-xu. Nhiều người có thể đã tường thuật những cuộc đối thoại này khi Phê-lít đã có một tôn giáo. Một số người trong chúng ta cũng giống như Phê-lít. Họ nói rất nhiều về Kinh Thánh nhưng sau đó họ dùng những thông điệp đó cho những lợi ích của riêng họ. Hầu hết mọi người nhận ra được sự không kiên định, nhưng một số người bị lừa dối. Bởi vì sự giả tạo đó, một số người tuyên bố rằng sẽ không bao giờ tin Kinh Thánh. Nhưng hãy chờ một chút! Thông điệp Kinh Thánh đã thay đổi không? Không, không hề. Lời Kinh Thánh nói một điều không thay đổi dù cho con người có xuyên tạc nó cho mục đích của riêng mình. Nếu bạn là một người bị cám dỗ để từ chối lời Kinh Thánh bởi vì những người như là Phê-lít thì nên suy nghĩ lại một lần nữa.

Nếu bạn thấy bản thân mình do dự, không hiểu, hoặc thẳng thắn từ chối những gì bạn đã đọc, thì tôi khuyên rằng bạn có thể tìm hiểu Kinh Thánh thêm một chút nữa trước khi đóng nó lại. Như chúng ta đã nói ngay lúc ban đầu, Kinh Thánh có rất nhiều điều nói về sự sống…và sự chết.

Đừng ngừng việc tìm hiểu thêm ngay bây giờ.

Cuộc sống của bạn- và cuộc sống sau cái chết- đang lâm nguy.

49. Tôi Phải Làm Gì?

  • Ngay sau thời điểm Chúa Giê-xu sống lại, Ngài dành thời gian với các môn đồ và…

…Ngài hiện ra cùng họ và chứng minh bằng nhiều cách rằng Ngài thật đang sống. Các sứ đồ thấy Chúa Giê-xu trong bốn mươi ngày sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết. Ngài cũng nói cho họ biết về Nước Trời.      Công Vụ Các Sứ Đồ 1:3 (BPT)

Cuối cùng, Chúa Giê-xu mang họ lại với vùng đất quen thuộc, khoảng hai dặm từ Giê-ru-sa-lem.

Chúa Giê-xu dắt các môn đệ ra đến làng Bê-tha-ni. Ngài giơ tay chúc phước cho họ. Trong khi đang chúc phước, Ngài rời họ và được tiếp về thiên đàng.   Lu-ca 24: 50-51 (BPT)

Lúc Ngài đang cất lên thì họ cứ nhìn chăm lên trời. Bỗng có hai người mặc áo trắng xuất hiện đứng cạnh họ. Hai người ấy hỏi, “Các ông Ga-li-lê ơi, sao lại đứng nhìn chăm lên trời? Chúa Giê-xu mà các ông thấy đang được tiếp lên trời, cũng sẽ trở lại như cách các ông thấy Ngài về trời vậy.”                                                                    Công vụ các sứ đồ 1: 10-11 (BPT)

Các Thiên Sứ bảo rằng Chúa Giê-xu sẽ đến lại. Nếu chúng ta học về Kinh Thánh sâu hơn, chúng ta sẽ thấy rằng Kinh Thánh nói rất nhiều về các sự kiện trong tương lai. Giống như Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài liên quan đến các lời tiên tri về việc đến thứ nhất của Ngài, chúng ta được đảm bảo rằng Ngài sẽ giữ Lời Ngài về sự trở lại thứ hai của Ngài. Ngài luôn như vậy.

Phần còn lại của Kinh Thánh tường thuật những sự kiện chung quanh cuộc sống của những môn đồ được biết đến là các sứ đồ. Những người theo Chúa Giê-xu đã nói với vô số người về Ngài.

Lời của Thượng Đế lan rộng. Số tín hữu ở Giê-ru-sa-lem càng ngày càng gia tăng. Cũng có nhiều thầy tế lễ Do-thái tin theo và vâng phục Chúa Giê-xu.   Công vụ các sứ đồ 6:7 (BPT)

Thậm chí các thầy tế lễ là những dụng cụ trong sự chết của Chúa Giê-xu tin điều đó. Nhưng không phải ai cũng được thuyết phục, và giống như các môn đồ đã dự đoán, đã có một sự kháng cự. Một sự kiện cụ thể nóng sốt đó là người ghét Chúa Giê-xu là một người Pha-ri-si trẻ tên là Sau-lơ, người đã giết và bỏ tù các người theo Chúa Giê-xu.

Ở Giê-ru-sa-lem, Sau-lơ vẫn đe dọa giết các tín hữu. Ông đi gặp thầy tế lễ tối cao, xin thư giới thiệu gởi cho các hội đường ở thành Đa-mách để hễ tìm được người theo Đạo Chúa Cứu Thế, bất luận nam nữ, đều bắt giải về Giê-ru-sa-lem.

Cho nên Sau-lơ lên đường đi sang Đa-mách. Khi gần đến thành phố bỗng nhiên có ánh sáng chói lòa từ trời chiếu quanh ông. Sau-lơ té xuống đất và nghe tiếng nói cùng mình rằng, “Sau-lơ, Sau-lơ! Tại sao ngươi tàn hại ta?”

Sau-lơ thưa, “Thưa Chúa, Ngài là ai?”

Tiếng nói đáp lại, “Ta là Chúa Giê-xu, Đấng mà ngươi tàn hại.

Công vụ các sứ đồ 9: 1-5 (BPT)

Điều này là khởi đầu của một cuộc sống đặc biệt. Sau-lơ đã thay đổi rất nhiều. Ông dừng việc giết những người tin và bản thân mình lại trở thành một người tin. Cái bàn đã xoay chuyển và kẻ bắt bớ đã trở thành người chịu bắt bớ. Có một lần, ông bị ném đá và bị thả để cho chết. Ba lần ông bị đánh với roi; năm lần bị quất; ba lần bị đắm tàu (một trong ba lần đó ông nổi trên biển trong vòng hai mươi bốn giờ). Tất cả nhũng điều này xảy ra khi Sau-lơ đang cố gắng để nói với những người khác về lòng tin của chính ông rằng Chúa Giê-xu là Đấng Giải Cứu Giao Ước. Sau-lơ không phải là ai khác mà là người mà chúng ta được biết đến là Sứ Đồ Phao Lô, người viết một phần đáng kể của Kinh Thánh.

Lặp đi lặp lại nhiều lần, chúng ta đã thấy thông qua Lời Kinh Thánh Đức Chúa Trời đã hỏi những câu hỏi khiến mọi người suy nghĩ. Những câu hỏi này được thiết kế để bày tỏ và làm rõ những ý nghĩ sâu xa của một người mà người nghe được có thể nắm bắt được thực tế. Sau-lơ, cũng vậy, được đối mặt bởi Đức Chúa Trời và được hỏi một câu hỏi:

“Sau-lơ, sau-lơ, tại sao người lại bắt bớ ta?”

Trong một cách, Chúa đang nói “ Sau-lơ, tại sao ngươi là kẻ thù của ta trong khi ngươi có thể là bạn của ta?” Câu trả lời của Sau-lơ bày tỏ rằng ông biết chính xác ai là người đang vặn hỏi ông. Ông nói, “Chúa, Chúa Trời.”

Nếu chúng ta rất được may mắn khi được gặp Chúa trực tiếp, tôi không thể không cảm thấy rằng Ngài sẽ bắt đầu cuộc nói chuyện với một câu hỏi. Việc được đối mặt với Chúa tương tự như cách Sau-lơ đã đối mặt thì rất xa vời; trong cả Kinh Thánh nó chỉ xảy đến chỉ với một số ít người trong Kinh Thánh. Như tôi đã nói ngay từ lúc đầu, Kinh Thánh, với chính bản chất của nó, đòi hỏi chúng ta phải đưa ra một sự lựa chọn. Đức Chúa Trời trong bản chất của Ngài đặt ra cho chúng ta một câu hỏi.

Khi chúng ta đọc quyển sách này, chúng ta đã nghe được những sự thật. Chúng ta bây giờ có trách nhiệm với những gì chúng ta biết. Đức Chúa Trời bây giờ có thể hỏi, “Con có nhận và tin nơi Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi của riêng con- là Đấng đã trả hết cho nợ tội của con không?”

Đừng trả lời mà không suy nghĩ, Có lẽ chúng ta đã suy nghĩ điều thông suốt. Mặt khác, có lẽ bạn cần dành một chút thời gian để suy nghĩ về câu hỏi.

Nếu bạn trả lời, “Không, tôi không tin nơi Chúa Giê-xu là Đấng Giải Cứu,” thì phần còn lại của chương này cũng không phù hợp nhiều với bạn. Bạn cũng có thể đọc nó, nhưng tôi khuyên rằng bạn nên bỏ qua phần này và tiếp tục với phần hai có tựa đề là, Một Thời Điểm Thuận Tiện. Kinh Thánh nói rằng nếu chúng ta từ chối thông điệp về thập tự giá, thì phần còn lại của Kinh Thánh sẽ không được hiểu cách đúng đắn bởi vì…

…nếu Tin Mừng mà chúng tôi rao giảng bị che khuất, là chỉ che khuất với những người bị chết mất thôi.  Ma quỉ là kẻ thống trị đời nầy làm mù tâm trí những người không tin. Họ không thể nhìn thấy ánh sáng của Tin Mừng—tức Tin Mừng về sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế, hình ảnh của Thượng Đế.                                                                             2 Cô-rinh-tô 4: 3-4 (BPT)

Nói cách khác, nếu bạn trả lời, “VÂNG, Tôi muốn là một người có thể nói rằng Chúa Giê-xu đã trả nợ tội của tôi”, hoặc “VÂNG, Tôi tin rằng Ngài đã trả nợ tội cho tôi”, sau đó đọc tiếp. Phần còn lại của Kinh Thánh được viết cho những người giống như bạn.

Nếu bạn trả lời, “VÂNG” thì bạn có hiểu rằng Chúa đã tha thứ tội lỗi của bạn, và đã khôi phục lại mối quan hệ với bạn?

Nếu, với tất cả sự chân thật của mình bạn đã trả lời những câu hỏi trên với một tiếngVÂNG, thì dựa trên điều mà Kinh Thánh nói, bạn có thể chắc chắn rằng tội lỗi của bạn được tha thứ và rằng mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời đã được khôi phục.

Các Sự Thật Mà Không Có Thập Tự Giá…

Tôi bị buộc tội và được xem là có tội đối với việc phá vỡ luật hoàn hảo.

Việc bất tuân luật của Đức Chúa Trời tức là phạm tội, và tội lỗi của tôi sẽ tạo ra một nợ tội, một hậu quả tôi phải trả.

Nợ chỉ có thể được trả chỉ bằng sự chết, một sự trả nợ được tạo lập đời đời trong Hồ Lửa.

Không thể nào có thể giữ được luật của Đức Chúa Trời một cách hoàn hảo. Thậm chí khi tôi cố gắng rất nhiều, tôi vẫn thấy mình thất bại. Thêm vào đó, Sa-tan điều khiển thôi làm theo ý muốn của Ngài. Tôi là một nô lệ.

Sinh Ra Là Một Người Không Tin…

Tội lỗi của tôi đã kéo tôi ra xa khỏi Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài. Đức Chúa Trời dường như rất xa và khoảng cách.

Khi tôi được sinh ra trong thế giới này, tôi tham gia vào các thế lực của Sa-tan, những người cũng phạm tội nghịch lại.

Khi chọn con đường của riêng tôi, tôi thấy được bản thân mình ở trong hoang mạc tâm linh, thèm khát lẽ thật. Tôi giống như một con chiên đi lạc.

Tôi Không Tin…

Tôi tin rằng có thể có nhiều cách để được chấp nhận bởi Đức Chúa Trời- nếu có một Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu có thể là một cách. Nếu tôi sống một cuộc sống tốt và cố gắng hết sức, thì Đức Chúa Trời sẽ không từ bỏ tôi.

  

Các Sự Thật Bởi Vì Thập Tự Giá

Đức Chúa Trời, một quan xét hoàn hảo, tuyên bố tôi đúng với Ngài-được bào chữa. Bây giờ Ngài xem tôi là công bình.

…Đó là Một Sự Lựa Chọn Để Tin

Tội lỗi của tôi được giải quyết trên thập tự giá. Nợ của tôi đã hết rồi- được trả tất cả, được xóa bỏ.

Đức Chúa Trời ban cho tôi một cuộc sống mới, kể cả bây giờ và cho đến đời đời ở trên Thiên Đàng.

Lúc trước làm nô lệ, bây giờ đã được mua bằng huyết của Chúa Giê-xu và được thả tự do. Tôi không còn là một nô lệ cho các mục đích của Sa-tan nữa.

…Tôi tin

Tôi tin rằng khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài chết cho chỗ của tôi như là người thay thế, trả nợ tội cho tôi. Tôi tin chỉ duy nhất nơi Ngài có thể cứu tôi khỏi những hậu quả của tội lỗi.

Tôi không chỉ là được sinh ra ở trong gia đình của Đức Chúa Trời, mà còn được Đức Chúa Trời ban cho tôi quyền lợi hoàn toàn của một người con.

Sự chết của Chúa Giê-xu và sự sống lại đã thắng hơn Sa-tan. Tôi không còn thuộc về Ma Quỉ nữa. Tôi có được sự bình an với Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-xu, là Đấng Chăn Hiền Lành, đã tìm thấy tôi và ban cho tôi cuộc sống mới, cuộc sống đời đời, sự tha tội, mục đích của cuộc sống, sự tự do khỏi tội lỗi và nhiều điều khác nữa.

Nếu bạn tin Chúa Giê-xu đã chết cho chỗ của bạn vì tội lỗi của bạn, thì bạn phải có sự tin cậy tuyệt đối với thực tế là Giấy Ghi Nợ đã được trả đủ.

Trước kia, đang khi anh chị em chết về mặt tâm linh vì tội lỗi và nô lệ cho bản chất tội lỗi mình thì Thượng Đế đã làm cho anh chị em sống lại với Chúa Cứu Thế. Ngài cũng đã tha thứ mọi tội lỗi chúng ta. Ngài cũng đã xóa hết nợ, tức những qui tắc mà chúng ta đã vi phạm. Ngài lấy giấy nợ, đóng đinh nó vào thập tự giá.            Cô-lô-se 2: 13-14 (BPT)

Nợ tội của bạn đã bị đóng đinh trên thập tự giá cách đây hai nghìn năm. Bởi vì lòng tin của bạn nơi Ngài, Đức Chúa Trời bây giờ nói rằng…

           “Ta s không nh nhng ti li và điu ác h làm na.”  Hê-bơ-rơ 10: 17 (BPT)

Sự tha thứ của Đức Chúa Trời là hoàn toàn.

Hễ các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tình yêu Ngài dành cho kẻ kính sợ Ngài cũng lớn bấy nhiêu. Phương đông xa phương tây bao nhiêu, thì Ngài cũng mang tội lỗi xa khỏi chúng tôi bấy nhiêu.  2 Cô-rinh-tô 5:17 (BPT)

Bây giờ thay vì sự chết đời đời trong Hồ Lửa, Chúa Giê-xu nói:

Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Lòng các con chớ nên lo âu. Hãy tin Thượng Đế, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở. Nếu không thì ta đã nói cho ác con biết rồi. Ta đi để chuẩn bị chỗ ở cho các con.  Sau khi ta đi và chuẩn bị chỗ ở cho các con rồi thì ta sẽ trở lại đón các con đi để hễ ta ở đâu thì các con cũng ở đó.  Các con biết đường đi đến nơi ta ở.”

Giăng 14: 1-4 (BPT)

Là một người tin, cuộc sống vẫn tiếp diễn, nhưng bây giờ bạn cảm thấy được chắc chắn với một tương lai ở trên Thiên Đàng. Chúa Giê-xu nói rằng Ngài đang chuẩn bị một chỗ ở cho bạn. Với sự tin cậy mà bạn có, bạn có thể nói rằng chúng ta là cư dân trên Thiên Đàng. Mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời đã được khôi phục.

Giống như chúng ta đang được sinh ra trong một gia đình ở trên đất, Kinh Thánh nói rằng bạn đã được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời. Và giống như cha mẹ trên đất vẫn luôn là cha mẹ của bạn mặc cho điều gì xảy ra, như vậy tức là một khi bạn được sinh ra ở trong gia đình của Đức Chúa Trời, bạn không thể nào không được sinh ra lại. Điều quan trọng là hiểu được rằng khi nói đến mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời, số phận đời đời của bạn được ổn định một lần cho tất cả. Bạn thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời mãi mãi.

Ta viết thư nầy cho các con là những người tin nơi Con Thượng Đế để các con biết mình đã nhận được sự sống đời đời.  1 Giăng 5: 13 (BPT)

Tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, thiên sứ, thần linh, việc hiện tại, việc tương lai, quyền lực, những gì bên trên chúng ta, bên dưới chúng ta, hoặc bất cứ biến cố nào trên thế giới, không điều gì có thể phân cách chúng ta khỏi tình yêu mà Thượng Đế đã bày tỏ ra trong Giê-xu, Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta.  Rô-ma 8: 38-39 (BPT)

Thậm chí bây giờ bạn là một phần của Gia đình của Đức Chúa Trời (mối quan hệ), Kinh Thánh nói rằng bạn sẽ vẫn phạm tội. Khi điều đó xảy ra, sẽ có một sự rạn nứt trong mối quan hệ gia đình của bạn.

Mối Quan Hệ Không Thể Phá Vỡ Được

Bạn được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời. Bạn vĩnh viễn là con của Ngài.

Mối thông công có thể bị phá vỡ

Tội lỗi của bạn phá vỡ sự bình yên tươi đẹp mà bạn có với Cha Trên Trời của bạn.

Mối thông công thì khác với mối quan hệ. Ví dụ, nếu một người con trai được cha của mình bảo là phải cắt cỏ, nhưng thay vào đó anh ấy đi câu cá, mọi chuyện sẽ không tốt khi Cha của cậu ấy trở về nhà. Sẽ có một sự cản trở giữa cha và con, và bạn có thể sẽ cảm nhận được nếu bạn ở trong vị trí đó. Vẫn đúng là người con và cha vẫn có một mối quan hệ với nhau- mối quan hệ của họ không thay đổi- nhưng mối thông công trong gia đình đã trở nên không tốt. Tuy nhiên, Kinh Thánh có một giải pháp.

Khi chúng ta phạm tội, chúng ta được bảo là phải nhận thức được sự thật đó về Đức Chúa Trời, và nếu chúng ta đã làm sai với những người lân cận mình, thì chúng ta cần phải tìm kiếm để được hòa giải với Ngài nữa. Đức Chúa Trời đã hứa rằng…

Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là Đấng đáng tin và công bình sẽ xóa tội và tẩy sạch mọi điều ác trong chúng ta.    1 Giăng 1:9 (BPT)

Mối thông công của chúng ta với Đức Chúa Trời sẽ được khôi phục lại ngay lập tức khi chúng ta nhận thức được tội lỗi của chúng ta.

Trách Nhiệm Của Bạn                

Tôi nhớ một lần sau khi học tài liệu này xong với một đôi vợ chồng, người chồng nói với tôi, “Giăng, Tôi biết rằng bạn là một tội nhân không thể tự giúp mình.” Người ấy sau đó nói tóm tắt chung về Kinh Thánh và đảm bảo với tôi rằng ông đã biết ông không thể làm việc gì tốt trong bản thân mình để làm hài lòng Đức Chúa Trời. Ông tóm tắt lại điều đó với một sự giải thích rõ ràng về đức tin của mình trong điều mà Chúa Giê-xu đã thực hiện trên thập tự giá cho ông. Sau đó ông nói, “Giăng, ngươi có một đứa con trai. Giống như tôi đã không phải làm việc gì để trở thành một thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời, con trai của ông cũng không làm việc gì để trở thành một thành viên trong gia đình của ông. Nhưng bây giờ người ấy đã trở thành một thành viên, người ấy có các trách nhiệm: người ấy phải đi đổ rác, giúp với việc rửa chén, và vân vân”. Sau đó người đó hỏi, “Là một phần trong gia đình của Đức Chúa Trời, trách nhiệm của tôi là gì?

Đó là một câu hỏi mà cả phần còn lại của Kinh Thánh trả lời. Kinh Thánh nói rằng cuộc sống mà một người sống được xác định bởi sự chú tâm mà người đó vẫn giữ, sự chú tâm của người đó đặt lên điều gì. Đây không phải là loại trò chơi với tâm trí. Điều này liên quan đến trọng tâm của sự quan tâm của bạn. Nếu bạn quan tâm đến bản thân mình, bạn sẽ tự cho mình là trung tâm. Nếu bạn tập trung nơi Đức Chúa Trời, bạn sẽ tìm thấy cuộc sống của mình sẽ mang đến cho Ngài sự tôn cao và vinh quang mà Ngài đáng nhận được. Vì thế, để là một người tin có trách nhiệm:

  1. Bạn cần phải tập trung vào những gì bạn có bây giờ bởi vì Chúa Giê-xu, điều này bao gồm tất cả những thứ mà bạn thấy được liệt kê ở trang 279. Điều bạn có bây giờ được cho rằng đó là vị trí của bạn nơi Đấng Christ. Đức Chúa Trời muốn bạn vui mừng trong sự thật rằng tội lỗi của bạn được tha và bạn bây giờ có một cuộc sống mới.
  2. Bạn cần phải tập trung vào việc trở nên quen thuộc với Chúa Giê-xu. Sứ đồ Phao-lô viết rằng tham vọng trong cuộc sống của ông là…                                          Phi-líp 3: 8-10 (BPT)

  3. Ngoài ra tôi xem mọi điều như lỗ khi so với điều tuyệt vời trong sự hiểu biết về Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa của tôi. Vì Ngài, tôi mất tất cả. Tôi xem mọi thứ như rơm rác để tôi có thể nhận Chúa Cứu Thế và được liên kết cùng Ngài, không nhờ sự công bình của tôi theo luật pháp mà nhờ sự công bình có được do lòng tin trong Chúa Cứu Thế, tức công bình đến từ Thượng Đế qua đức tin. Tôi muốn biết Chúa Cứu Thế và nhận được quyền năng đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết. Tôi cũng muốn san sẻ những khổ đau của Chúa Cứu Thế và trở nên giống như Ngài trong sự chết Ngài…

Khi bạn đặt để sự tập trung của mình nơi Đức Chúa Trời, bạn không nhìn vào chính bản thân mình nữa. Bạn trở nên mong muốn với việc làm vui lòng Ngài và phục vụ những người khác. Nó giống như một người đàn ông trẻ tuổi với người bạn gái của mình- tất cả đều được dành ra để có thể hiểu biết thêm về người bạn gái ấy.

  1. Bạn cần phải tập trung vào việc tin cậy Ngài hằng ngày, trong mọi tình huống của cuộc sống, vì bạn có thể có sự tin cậy rằng Ngài hoàn toàn có khả năng để giải quyết tất cả mọi lo lắng và mối quan tâm của bạn. Chúa Giê-xu đã nói…

“Hỡi những ai mệt mỏi và nặng gánh, hãy đến cùng ta. Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi.”

Ma-thi-ơ 11: 28 (BPT)

Khi bạn áp dụng những lẽ thật này, bạn sẽ thấy rằng mình sẽ lớn lên từ một em bé tâm linh thành một người trưởng thành về mặt tâm linh. Bạn nên bắt đầu nghĩ rằng tất cả điều này xảy đến như là một kết quả của một vài kiểu kỷ luật nghiêm khắc mà bạn gợi lên trong chính bản thân mình, việc hiểu điều này là rất quan trọng.

…Tôi tin rằng Thượng Đế đã khởi sự làm việc lành trong vòng anh chị em sẽ tiếp tục việc ấy cho đến ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại…  Phi-líp 1:6 (BPT)

Điều này không bình thường hoặc tốt nếu một đứa trẻ sơ sinh vẫn là một em bé trong suốt cuộc đời của nó, thật không đúng nếu một người là con Đức Chúa Trời mới sinh ra vẫn luôn là một em bé về mặt tâm linh. Thật không may mắn, tất cả đều quá thông thường, nhưng một người không cần phải như vậy. Giữ sự tập trung của mình ở một nơi đúng và bạn sẽ lớn lên.

Các Rào Cản

Có nhiều rào cản sẽ phá hủy sự tập trung của bạn và cản trở sự phát triển tâm linh của bạn.

1. Bản tính của con người chúng ta: Nếu có trường hợp bạn là một kẻ thù số một của một ai đó, bạn có thể thấy được bản tính ấy. Kinh Thánh nói rằng bản tính tội lỗi của con người chúng ta sẽ không bao giờ được thỏa mãn. Nó luôn mong ước để có tiền nhiều hơn, nhiều sự quan tâm hơn, một tính cách khác, bề ngoài đẹp hơn, cái này đẹp hơn, cái kia tốt hơn, và mọi cái vô giới hạn cứ tiếp tục. Con người có thể cảm thấy được thỏa mãn ở một phút chốc nào đó, nhưng sau đó nó sẽ mong muốn điều gì khác nhiều hơn thế nữa để lấp đầy lỗ trống tối đen trong cảm xúc và mong muốn. Bản tính con người của chúng ta có một sự tập trung chính- Bản Thân của chúng ta. Kinh Thánh viết…

Hãy sống theo Thánh Linh thì anh chị em sẽ không làm theo ý muốn của con người tội lỗi của mình.   Ga-la-ti 5:16 (BPT)

Như vậy làm thế nào để chúng ta sống bởi Thánh Linh? Điều này quay lại với vấn đề tập trung. Khi chúng ta tập trung vào những điều từ Đức Chúa Trời, các ham muốn của bản tính tội lỗi sẽ được thay thế bằng một mong muốn mạnh mẽ hơn đó là làm vui lòng Đấng Tạo Hóa-Chủ Nhân.

Chúng ta được bảo là phải đối xử với bản tính tội lỗi của mình như là nó đã chết. Chúng ta cũng chủ động và mạnh mẽ lờ đi sự yêu cầu và mong muốn của nó.

Cho nên, hãy cất bỏ những điều ác ra khỏi đời sống anh chị em…Cô-lô-se 3:5 (BPT)

Ví dụ, trước khi tôi kết hôn tôi có nhiều bạn gái. Chúng cùng đều là những mối quan hệ chân thật. Nhưng khi tôi kết hôn, những mối quan hệ trước kia đã kết thúc. Đã Chết. Bây giờ tôi đang ở trong một mối quan hệ mới- tôi mong muốn làm vui lòng vợ tôi. Vợ tôi đã trở thành trung tâm của sự chú ý của tôi. Cũng giống như vậy, trước khi bạn tin, bạn chỉ có bản tính tội lỗi của mình là để thỏa mãn. Nhưng bây giờ bạn là một người tin, Đức Chúa Trời muốn bạn để lại sau lưng bạn và chú tâm vào việc làm vui lòng Ngài và phục vụ những người khác.

…Chúng ta hãy dẹp bỏ khỏi đời sống những chướng ngại vật và tội lỗi dễ trì kéo chúng ta lại.  Chỉ nhìn xem Chúa Giê-xu, Đấng khởi đầu và làm toàn thiện đức tin chúng ta…

                                                                                                    Hê-bơ-rơ 12: 1-2(BPT)

Những lời khuyên trong Kinh Thánh đi ngược lại với những lời khuyên chúng ta nhận được hôm nay. Ngày nay chúng ta được khuyến khích để quay lại trong quá khứ và tìm kiếm câu trả lời cho các vấn đề của chúng ta. Mỗi điều sai cần phải được sửa lại, và nếu chúng ta bị tổn thương, thì chúng ta bị thương hại giống như là các nạn nhân.

Kết quả cuối cùng của tất cả lời khuyên này là chúng tập trung vào chính mình. Chúng ta trở nên rất tự đắc. Ngược lại, Kinh Thánh bảo chúng ta nên quên về bản thân mình, kể cả quá khứ của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự sai, chúng ta cần phải tha thứ, việc này cũng khá khó khăn.

Hãy đối với nhau trong nhân từ và yêu thương, tha thứ nhau như Thượng Đế đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế.    Ê-phê-sô 4:32 (BPT)

Điều này dường như có vẻ lạ, nhưng trong quá trình tha thứ cho người khác, chúng ta kinh nghiệm được trong chính cuộc sống của mình. Chúa Giê-xu, Đấng biết chắc chắn về điều gì đã sai, và nói…

Ta nói những điều nầy với các con để các con có cùng niềm vui của ta và để cho niềm vui của các con được hoàn toàn.  Giăng 15:11 (BPT)

2. Hệ Thống Thế Giới: Kinh Thánh nói rằng hệ thống thế giới có một ảnh hưởng tiêu cực đối với tâm linh chúng ta, chuyển sự tập trung của chúng ta từ Chúa Giê-xu đến những điều đó là điều chóng qua. Chúng ta có trách nhiệm để biết được điều gì có xu hướng kéo chúng ta về cách tội lỗi cũ và tránh những điều khiến chúng ta mất sự tập trung của mình.

…vì ân phúc của Thượng Đế để cứu mọi người đã đến rồi.  Ân phúc ấy dạy chúng ta từ bỏ nếp sống chống nghịch Thượng Đế trước kia và những điều gian ác theo thế gian nhưng phải luôn luôn sống khôn ngoan, đoan chính và thánh thiện để chứng tỏ chúng ta phục vụ Thượng Đế. Chúng ta nên sống như vậy trong khi chờ đợi hi vọng lớn lao và sự hiện đến vinh hiển của Thượng Đế cùng Đấng Giải Cứu là Chúa Giê-xu chúng ta…  Tít 2: 11-13 (BPT)

3. Quỉ: Mặc dầu Sa-tan đã bị thua cuộc, nó vẫn tiếp tục cố gắng để gây ảnh hưởng đến húng ta. Đức Chúa Trời đã không loại bỏ đi tất cả Điều Tội Lỗi khi chúng ta trở thành cách người tin.

Thế nhưng, chúng ta chịu trách nhiệm chống cự lại sự cám dỗ và tìm kiếm năng lực từ duy nhất Đức Chúa Trời.    Cho nên, hãy hiến dâng toàn thân cho Thượng Đế. Hãy chống cự ma quỉ thì nó sẽ bỏ chạy khỏi anh chị em.                       Gia cơ 4:7 (BPT)

Sa-tan sử dụng rất khôn khéo ảnh hưởng của thế giới và bản chất tự đắc tự nhiên của con người để cám dỗ chúng ta, để khiến chúng ta thay đổi sự tập trung của mình. Bạn có thể biết rằng nó gieo sự nghi ngờ trong tâm trí bạn, thậm chí về sự lựa chọn mà bạn có trong việc tin cậy nơi Chúa Giê-xu. Nó sẽ nói rằng đức tin của bạn không đủ lớn hoặc hỏi bạn về việc bạn chưa thực sự hiểu. Hãy nhớ rằng, nó đã làm điều đó với A-đam và Ê-va. Kháng cự lại nó và làm điều Chúa Giê-xu đã làm. Hãy đến với Kinh Thánh để được giúp đỡ.

Điều thú vị ở đây là, khi chúng ta vượt qua được những ảnh hưởng của ba rào cản ở trên, chúng ta có thể giữ sự tập trung của mình, và phát triển rễ tâm linh mạnh mẽ.

Các Nguồn

Kinh Thánh cho chúng ta nhiều nguồn để giúp cho chúng ta giữ được sự tập trung của mình.

1, Chính Đức Chúa Trời: Khi bạn tin cậy nơi Chúa Giê-xu, Kinh Thánh nói rằng Đức Thánh Linh đến trong bạn; Ngài đến để sống trong bạn. Bây giờ Ngài luôn luôn có thể được tiếp cận- để khuyến khích bạn khi bạn cảm thấy buồn rầu, để khích lệ bạn sống cho Ngài cách sốt sắng, để bẻ trách bạn khi bạn di chuyển vào tội lỗi. Đức Thánh Linh là một cộng tác trung thành và Ngài được gọi là Đấng an ủi, Đấng Giúp Đỡ, Đấng Cố Vấn– tất cả những tên trên đều là danh xưng của Chúa.

Nhưng Đấng Trợ Giúp, tức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh ta sai đến, sẽ dạy dỗ các con mọi điều và nhắc các con nhớ hết những gì ta đã bảo các con.       Giăng 14:26 (BPT)

Là cha mẹ, chúng ta vui mừng khi con cái của mình đạt được mục tiêu đã đặt ra, hoặc hành động đúng đắn. Là con cái của Đức Chúa Trời, điều quan trọng là chúng ta làm điều theo cách mà mang đến sự tôn vinh và không phải là sự khinh bỉ cho danh xưng của Cha ở trên Trời. Sự vâng phục bày tỏ ra rằng chúng ta đang dâng lên Đức Chúa Trời sự tôn cao và tôn trọng mà Ngài xứng đáng nhận lấy.

“Lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài đáng được vinh hiển, danh dự và quyền năng, vì Ngài đã tạo nên muôn vật. Mọi vật hiện có đều được tạo dựng theo ý muốn Ngài.”                                                                                 Thi Thiên 4:11 (BPT)

  1. Đức tin: Quá trình phát triển tâm linh thường đề cập đến trong Kinh Thánh là bước đi với Chúa. Điều này xảy ra từng bước một. Giống như khi chúng ta trở thành các thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời bằng đức tin, như vậy chúng ta cũng bước đi với Ngài bằng đức tin.

Vì anh chị em đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Chúa mình nên hãy cứ sống trong Ngài. Hãy đâm rễ sâu và xây dựng đời sống mình trong Chúa. Hãy vững mạnh trong đức tin theo như điều anh chị em đã được khuyên dạy, luôn luôn đầy lòng tạ ơn.

Cô-lô-se 2: 6-7 (BPT)

Hãy nhớ rằng, đức tin được xây dựng trên những lẽ thật được tìm thấy ở trong Kinh Thánh. Điều quan trọng đó không phải là bước đi với Chúa dựa trên cách mà bạn cảm nhận. Bạn có thể dậy sớm vào buổi sáng cảm thấy nghẹt thở và có thể sắp bị cảm. Điều này không có nghĩa là bạn không còn là một phần của gia đình của ba mẹ ban hoặc, vì lý do đó, một phần của gia đình của Chúa. Đôi khi chúng ta có lẽ không cảm thấy tâm linh mạnh mẽ, nhưng điều này không quyết định việc bạn bước đi với Chúa có tốt không. Bước đi của chúng ta với Chúa mỗi ngày được xác định bởi những sự lựa chọn mà chúng ta đưa ra. Nếu chúng ta đưa ra những lựa chọn khôn ngoan, chúng ta sẽ học được sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta đưa ra những lựa chọn ngu ngốc, chúng ta sẽ bày tỏ sự không trưởng thành, và vẫn là những đứa trẻ về mặt tâm linh. Các sự lựa chọn chúng ta đưa ra được hướng dẫn bởi Đức Chúa Trời khi chúng ta đọc Kinh Thánh.

3, Kinh Thánh: Đây là một nguồn của sức mạnh hằng ngày, quyển sách hướng dẫn của chúng ta.

Toàn thể Thánh Kinh đều do Thượng Đế soi dẫn, có ích cho việc dạy dỗ, khiển trách, sửa sai và dạy cách sống ngay thật. Nhờ Thánh Kinh, người hầu việc Thượng Đế sẽ có đủ khả năng làm điều phúc đức.                                                2 Ti-mô-thê 3: 16-17 (BPT)

Có thể so sánh Kinh Thánh với thức ăn tâm linh. Bạn học về Kinh Thánhcàng nhiều, bạn càng trở nên mạnh mẽ hơn về mặt tâm linh. Đức Chúa Trời sẽ nói với bạn thông qua Kinh Thánh-nhưng không phải bằng tiếng nói, nhưng trong tâm trí của bạn. Đó là một trong những chìa khóa trong việc phát triển mối thông công với Chúa. Đọc Kinh Thánh là cách để bạn biết thêm về Ngài. Nếu không có sự nuôi nấng thường xuyên, bạn vẫn chỉ là một em bé tâm linh.

Nếu bạn không có sở hữu một quyển Kinh Thánh, hãy mua một quyển. Bắt đầu bằng việc đọc tất cả quyến sách Phúc Âm Giăng. Sách này được đọc giống như một câu chuyện, vì nó không khó. Sau đó đọc lại quyển sách này, Người Lạ, và xem mỗi tham chiếu với Kinh Thánh. Lúc đầu việc này sẽ chậm một chút, nhưng bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên về việc bạn có thể nắm bắt nhanh như thế nào. Sử dụng một bút chì màu, gạch dưới những câu. Điều này sẽ giúp cho bạn tìm cách câu nhanh hơn, và khiến bạn nhớ lại những gì bạn đã học. Bạn có thể sẽ sẵn sàng để đọc quyển sách Công vụ các sư đồRô-ma sau khi đọc về Người Lạ cho lần thứ hai. Nếu như bạn không hiểu điều gì đó, viết điều này xuống và cứ tiếp tục đọc. Điều này sẽ từ từ đến với nhau.

4Lời Cầu Nguyện: Cầu nguyện đơn giản chỉ là nói chuyện với Chúa. Bạn không cần phải cúi đầu và nhắm mắt, mặc dầu điều này là phù hợp vì nó giúp bạn tránh khỏi sự phân tán. Bởi vì Đức Chúa Trời đã biết những suy nghĩ của bạn và ở khắp mọi lúc mọi nơi, bạn có thể cầu nguyện thầm với Ngài ở bất cứ lúc nào và Ngài sẽ nghe lời đó. Không cần thiết là bạn phải cầu nguyện bằng tiếng.

Đừng lo âu gì hết nhưng trong mọi hoàn cảnh hãy dùng lời khẩn nguyện và tạ ơn mà trình những nhu cầu mình cho Thượng Đế  thì sự bình an của Ngài vượt quá mọi sự hiểu biết của loài người sẽ bảo vệ lòng và trí của anh chị em trong Chúa Giê-xu.           Phi-líp 4: 6-7 (BPT)

Cầu nguyện là một cách để bày tỏ sự quan tâm của chúng ta, những điều đau đớn trong lòng, những lời cầu xin cũng như là những lời tạ ơn đến với Chúa.

5.  Những Người Tin Khác: Kinh Thánh nói cho chúng ta rằng chúng ta đã đạt được sự trưởng thành thông qua mối quan hệ với những người khác tin nơi lời Kinh Thánh. Điều này rất quan trọng.

Chúng ta hãy suy nghĩ đến nhau và tìm cách khuyến khích nhau, bày tỏ tình yêu thương và làm điều thiện. Đừng xao lãng các cuộc nhóm họp, như một số người đang làm, nhưng hãy siêng năng nhóm họp và khích lệ nhau. Khi thấy ngày ấy đến gần chừng nào thì anh chị em hãy càng sốt sắng thêm chừng nấy.                                          Hê-bơ-rơ 10: 24-25 (BPT)

Hầu hết các mối quan hệ với những người tin khác sẽ được xây dựng nên trong môi trường của một hội thánh. Tuy nhiên, một số điều cần phải lưu ý.

Hãy nhớ rằng, Satan đến như là một thiên sứ của sự sáng. Nó rất yêu thích tôn giáo. Bởi vì điều đó, bạn cần phải nhận ra rằng có nhiều người chăn bầy giả và những con chiên giả ngoài kia. Chỉ vì những người nói về Chúa không có nghĩa họ là những người tin thật sự. Các hội thánh đi từ tốt cho đến xấu trong sự hiểu biết của họ và sự thực hành lẽ thật của họ. Kinh Thánh nói rằng cả giáo viên thật và giả đều tồn tại cho đến khi Chúa Giê-xu trở lại lần thứ hai, lúc đó Ngài sẽ giải quyết tất cả mọi việc. Cho đến lúc đó, phải khôn ngoan. Hỏi những câu hỏi sau:

  • Hội Thánh có tin rằng Kinh Thánh là đúng, Là Lời được hà hơi bởi Đức Chúa Trời, không có lỗi gì trong những bản viết? Hãy xem chừng những người nói rằng Kinh Thánh chỉ chứa đựng Lời Của Chúa.
  • Hội Thánh có tin vào Kinh Thánh thật sự không, hay Hội Thánh dạy một số chuyện phiếm hoặc câu chuyện không rõ nghĩa? (Kinh Thánh nói với chúng ta rằng có một Địa Ngục thật, Ma Quỉ thật và Thiên Đàng thật, v.v)

Hội Thánh có tin rằng Chúa Giê-xu hoàn toàn là Chúa cũng như hoàn toàn là con người? Phải cẩn thận đối với những người nói rằng Chúa Giê-xu cũng chỉ là một chúa khác, và

  • chúng ta có nhiều chúa khác nữa. Cũng như vậy, tránh những người nói rằng Chúa Giê-xu chỉ là một thầy dạy vĩ đại.
  • Hội Thánh có tin vào Ba Ngôi không?
  • Hội Thánh có hiểu rằng Chúa Giê-xu đã chết thế cho chỗ của chúng ta vì nợ tội của chúng ta không? Nếu Hội Thánh không rõ ràng về điều này, hoặc nếu cảm thấy rằng bạn cần thêm điều gì khác để được chấp nhận bởi Đức Chúa Trời, giống như là lễ báp têm hoặc những nghi thức lễ đặc biệt khác- hãy coi chừng.

Nếu Hội Thánh có thể nghi ngờ về một trong những mặt trên, thì có khả năng lớn rằng hội thánh đó là có nền tảng dạy dỗ ở những nơi khác nữa. Những câu hỏi này nhắm đến để bày tỏ các triệu chứng của những vấn đề sâu xa hơn. Bạn nên cảm thấy hoàn toàn tự do để hỏi các người lãnh đạo của mình để trả lời những câu hỏi cụ thể này. Bất kỳ sự e ngại nào về phần của họ sẽ bật lên một dấu hiệu cẩn thận. Đừng bị lừa về cách người giảng đạo tốt đẹp như thế nào, hoặc cách người đó nói thuyết phục như thế nào. Hãy nhớ rằng, nhiều hội thánh không làm theo Kinh Thánh. Không có một hội thánh nào hoàn hảo, nhưng những câu hỏi trên sẽ giúp bạn tìm được một nhóm người tin có đồng tâm trí như bạn.

Cả khái niệm về hội thánh có thể tao nên một vài sự chế giễu từ gia đình và bạn bè của bạn. Nó có thể là một kinh nghiệm khó và khiến bạn khiêm nhường. Lòng tự trọng của bạn có thể muốn đến để giải cứu, nhưng hãy nhớ rằng lòng kiêu ngạo từ đâu mà đến, và tìm kiếm một nhóm người cũng tin như vậy. Ý tưởng về việc biết thêm lẫn nhau để có một sức mạnh chung tức là ý tưởng của Đức Chúa Trời. Hãy để tôi đảm bảo cho bạn rằng, việc bạn lớn lên là một Cơ Đốc Nhân là một điều quan trọng. Những người tin khác có thể là một sự giúp đỡ rất lớn trong việc khích lệ bạn trong bước đường tâm linh của bạn.
6.  Âm Nhạc: Vua Đa-vít viết những bài hát đầu tiên hoặc những Thi Thiên với mục đích là khích lệ tấm lòng của chúng ta. Từ đó trở đi, những người tin khác đã viết những lời hát tuyệt vời về Đức Chúa Trời. Một lần nữa, hãy cẩn thận-có cả những âm nhạc tốt và âm nhạc xấu. Sử dụng sự khôn ngoan tương tự để áp dụng vào việc chọn lựa âm nhạc cho một hội thánh. Dựa trên những gì bạn đã học, xác định những lời được hát lên là đúng hay sai. Đức Chúa Trời sẽ giúp bạn.
7. Nói Với Những Người Khác: Các môn đồ đi khắp mọi nơi để nói với những người khác về tin tức tốt lành này. Bạn cũng có thể làm như vậy. Điều rất khích lệ đó là được thấy các bạn cũng đến với sự hiểu biết tương tự. Nhưng hãy nhớ, Đức Chúa Trời đã ban cho con người ý chí riêng, nên tôn trọng điều ấy. Hãy kiên nhẫn với cách tiếp cận và nhạy cảm về điều bạn nên nói. Đừng nhét nó xuống cổ họng của người khác. Kinh Thánh nói với chúng ta là các nhân chứng, không phải là các luật sư. Một nhân chứng giải thích một số điều, một người luật sư biện luận và cố gắng thuyết phục. Đơn giản là đưa quyển sách này đến với các bạn để giúp họ hiểu.

8. Hy vọng Cho Tương Lai: Kinh Thánh nói rằng một ngày nào đó, Chúa Giê-xu sẽ trở lại trên đất.

Thưa anh chị em, chúng tôi muốn anh chị em biết về các tín hữu đã qua đời để anh chị em không quá buồn rầu như những người không có niềm hi vọng. Chúng ta biết Chúa Giê-xu đã chết và sống lại. Cho nên vì Ngài, Thượng Đế cũng sẽ khiến những người trong Chúa Giê-xu đã qua đời được sống lại.  Điều chúng tôi sắp nói với anh chị em đây là lời của chính Chúa. Chúng ta là những người còn sống khi Chúa trở lại sẽ không đi trước những người đã chết. Sẽ có tiếng kêu lớn khi Chúa từ thiên đàng trở lại, cùng với tiếng thiên sứ trưởng và tiếng kèn vang dội của Thượng Đế. Lúc ấy những tín hữu đã qua đời sẽ sống lại trước hết. Sau đó, chúng ta, là những người còn sống, sẽ được tiếp lên cùng với họ trong đám mây để gặp Chúa giữa không trung. Rồi chúng ta sẽ ở với Chúa mãi mãi. Cho nên hãy dùng những điều nầy mà khích lệ nhau.                                                            I Tê-sa-lô-ni-ca 4: 13-18 (BPT)

Có nhiều điều hơn có thể được viết. Nhưng nếu bạn là một trong những người đã đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Trời, điều tốt đẹp để biết đó là Kinh Thánh nói Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn bạn, từng bước một. Bạn đã bắt đầu một hành trình tâm linh. Giữ mắt mình nơi Ngài; hãy để Ngài là trọng tâm của bạn. Học bản đồ của bạn, Kinh Thánh, cách thường xuyên. Con đường không phải lúc nào cũng xuông sẻ, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ở cùng bạn- Ngài đã ban cho bạn lời hưa của Ngài. Hãy có một chuyến đi tốt đẹp.

Tôi cầu Thượng Đế hòa bình ban cho anh chị em đủ mọi điều tốt lành để làm theo ý Ngài. Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu chúng ta sống lại từ trong kẻ chết, Ngài là Đấng Chăn Chiên Cao Cả do huyết Ngài đã đổ ra. Huyết Ngài khởi đầu giao ước muôn đời mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Tôi cầu xin Thượng Đế thực hiện trong chúng ta điều đẹp lòng Ngài, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.

Hê-bơ-rơ 13: 20-21 (BPT)

48. Thông Điệp Trên Đường Đến Em-ma-út

  • Giăng Báp-tít đến Sự Sống Lại-

 

Khi Chúa Giê-xu giải thích một cách có hệ thống cho các môn đồ của Ngài nghe tầm quan trọng của các sự kiện tường thuật trong lời Kinh Thánh, có khả năng là Ngài nhấn mạnh thêm nhiều câu chuyện hơn là chúng ta từng đụng đến ở đây. Không nghi ngờ gì các môn đồ của Ngài đã rất thích thú trong các chủ đề mà họ có các trải nghiệm đầu tiên.

Người Chăn Chiên Tốt

Kinh Thánh nói rằng…

Tất cả chúng ta đều như chiên lạc; ai đi đường nấy. Nhưng Thượng Đế đã đặt sự trừng phạt trên người về điều ác chúng ta làm.                                                                      Ê-sai 53:6 (BPT)

Con người chọn để đi theo đường lối của chính mình, theo con đường mà dẫn người đó đến hoang mạc của tâm linh. Kinh Thánh nói rằng con người bị HƯ MẤT.

Nhưng khi Chúa Giê-xu đến tìm kiếm chúng ta. Trong khi ở trên đất Ngài nói một câu chuyện ngụ ngôn mà mô tả mối quan tâm của Đức Chúa Trời.

“Giả sử một người trong các ngươi có một trăm con chiên, nhưng mất một con. Người đó sẽ để chín mươi chín con ngoài đồng trống rồi đi tìm con chiên lạc cho bằng được. Khi tìm được rồi, vui mừng vác nó lên vai đi về nhà. Sau đó anh ta mời bạn hữu và láng giềng lại nói, ‘Hãy chung vui với tôi vì tôi đã tìm được con chiên đi lạc.’  Cũng thế, ta cho các ngươi biết, trên thiên đàng sẽ rất vui mừng khi một tội nhân ăn năn hơn là chín mươi chín người tốt không cần ăn năn.”                                                                            Lu-ca 15: 4-7 (BPT)

Đức Chúa Trời đã ở trên Thiên Đàng và mãi mãi quay lưng lại với con người, nhưng điều đó không phải là điều vừa mới xảy ra. Kinh Thánh viết rất rõ ràng rằng Chúa Giê-xu chủ động tìm kiếm và sau đó, vì là một người chăn tốt, càng đi xa hơn nữa.

“Ta là người chăn tận tụy. Người chăn tận tụy bằng lòng hi sinh mạng sống vì chiên.”

Giăng 10:11 (BPT)

Đó chính xác là điều mà Chúa Giê-xu đã làm. Ngài đã chết cho chúng ta, trong chỗ của chúng ta, để trả nợ tội. Đó là tình yêu thương trong sự hoàn hảo nhất. Vâng, Đức Chúa Trời là tình yêu thương, nhưng không phải là không trả một giá cao. Khi Chúa Giê-xu ở trên thập tự giá Ngài kêu lên,

 “Thượng Đế của tôi ơi, Thượng Đế của tôi ơi, sao Ngài bỏ tôi?”

Mác 15:34 (BPT)

Chúa Giê-xu đã không chỉ chết về mặt thể xác, nhưng cũng có phần tâm linh ở đó nữa. Tội lỗi đòi hỏi sự chia cách. Trong những giờ phút tuyệt vọng trên thập tự giá đó, Đức Chúa Cha quay lưng lại với Con Trai Ngài. Điều này phải làm trĩu trái tim yêu thương của Ngài nhưng mà đúng với bản tính tự nhiên thánh khiết của Ngài, Đức Chúa Trời đã có thể không nhìn lên Chúa Giê-xu vì Ngài đã gánh tội lỗi của chúng ta lên mình Ngài. Kinh Thánh nói rằng trời trở nên tối tăm mặc dầu lúc đó là giữa ban ngày. Điều đó dường như là Cha đã không muốn thế giới phải thấy sự đau đớn mà Con Một của Ngài phải trải qua, vì Chúa Giê-xu đã bằng lòng mang lấy tội lỗi của chúng ta trên mình Ngài, trở thành Chiên Con thay thế cho chúng ta, và chịu chết. Đức Chúa Trời đã cho phép điều đó; thật sự, Ngài đã lên kế hoạch cho điều đó.

 Một Sự Trao Đổi Lớn

Kinh Thánh nói rằng…

Chúa Cứu Thế vốn không có tội lỗi nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài trở nên tội lỗi vì chúng ta…

2 Cô-rinh-tô 5:21 (BPT)

Câu này không nói rằng Chúa Giê-xu đã trở nên một người có tội. Từ *tội có ý nghĩa của một của lễ chuộc tội. “Đức Chúa Trời làm Chúa Giê-xu là Đấng không có tội, trở nên một của lễ chuộc tội cho chúng ta…” Khi Chúa Giê-xu mang lấy tội lỗi của chúng ta, Đức Chúa Trời đổ lên Ngài tất cả sự tức giận công bình của Ngài đối với tội lỗi. Sau đó Chúa Giê-xu có thể làm một điều gì đó mà chúng ta không thể làm. Ngài nói “Sứ Mạng Đã Hoàn Thành”. Nếu chúng ta đã trả hết nợ tội của mình, chúng ta có thể vẫn tiếp tục phải trả- cho đến đời đời. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể nói được, “Sứ mạng đã hoàn thành”. Nhưng Chúa Giê-xu đã trả hết rồi.

Phần còn lại của câu đọc như thế này:

… để nhờ Ngài mà chúng ta có được các đức tính của Thượng Đế.

2 Cô-rinh-tô 5:21 (BPT)

Chỉ có ở trong Ngài chúng ta tìm được sự công bình! Chứ không phải là một chuyến tham quan. Chúa Giê-xu cất lấy tội lỗi của chúng ta và mang đến cho chúng ta sự công bình của chính Ngài. Đó là một trao đổi vĩ đại nhất của tất cả các loại trao đổi. Chúng ta không cần có huyết của chiên con để bao phủ tội lỗi của mình nữa; chúng ta được mặc với một thứ tốt hơn nhiều, đó là sự công bình của Đấng Christ. Khi chúng ta tin cậy nơi Ngài, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự công bình của chính Ngài! Hãy nhớ lại câu hỏi từ lâu ở trong quá khứ- Làm sao chúng ta có thể xóa bỏ đi tội lỗi và đạt được sự công chính ngang bằng với sự công chính của Đức Chúa Trời để có thể được chấp nhận ở trong sự hiện diện của Ngài?” Câu trả lời hoàn chỉnh có thể được tìm thấy trong một câu này. Đọc câu này một lần nữa.

Chúa Cứu Thế vốn không có tội lỗi nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài trở nên tội lỗi vì chúng ta để nhờ Ngài mà chúng ta có được các đức tính của Thượng Đế.                                                                         2 Cô-rinh-tô 5:21 (BPT)

Sự Sống Lại

Chúa Giê-xu đã chết, vâng, nhưng Ngài không tiếp tục ở tình trạng chết đi giống như nhiều tiên tri ở trong quá khứ. Chúa Giê-xu sống lại chứng minh rằng sự chết không có quyền lực gì trên Ngài. Ngài phán…

Cha yêu ta vì ta bằng lòng hi sinh mạng sống mình để ta có thể nhận lại mạng sống ấy.  Không ai cướp mạng sống ta được. Ta tình nguyện hi sinh mạng sống mình. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Đó là điều Cha ta bảo ta làm.

Giăng 10: 17-18 (BPT)

Người Rô-ma đã bị khiển trách cho việc hành hình Chúa Giê-xu, và các nhà lãnh đạo tôn giáo đã tạo áp lực cho họ để làm việc đó. Qua nhiều thế kỷ, người Do Thái đã đối mặt với rất nhiều sự bắt bớ dựa trên tiên đề rằng tất cả việc đáng tiếc kia là do lỗi của họ. Sự lý giải như vậy là hoàn toàn sai trái. Kinh Thánh viết rõ ràng rằng đó chính là Chúa Giê-xu là Đấng tự nguyện để hạ mạng sống của mình xuống. Không ai ép Ngài chết mà ngược lại với ý muốn của Ngài. Đó là sự lựa chọn của chính Ngài, bởi động lực là tình yêu của Ngài cho chúng ta. Sự thật của vấn đề là tội lỗi của cả thế giới chịu trách nhiệm trong việc đóng đinh Chúa Giê-xu trên thập tự giá.

Sự sống lại là một bày tỏ có năng quyền rằng bản tính công bình của Đức Chúa Trời được thỏa mãn với sự chết của Chúa Giê-xu thay mặt cho chúng ta. Sự trả nợ đã được thực hiện và được chấp nhận là đủ cả! Phần mộ không thể giữ Ngài trong chỗ của nó. Ngài đã vượt qua sự chết cách vinh quang! Chúa Giê-xu đã bẻ gãy sự nắm lấy của tội lỗi, thắng hơn quyền lực của Sa-tan và xóa bỏ sự chết khỏi sự kinh khủng cuối cùng.

Vì con cái là người có thân thể nên Chúa Giê-xu đã trở nên giống như con cái. Như thế để nhờ sự chết Ngài, Chúa Giê-xu có thể tiêu diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ và giải thoát những kẻ suốt đời làm tôi mọi vì sợ chết.

Hê-bơ-rơ 2: 14-15 (BPT)

Một cảm giác buồn rầu quá đỗi chắc phải đến với Sa-tan khi Chúa Giê-xu sống lại. Sa-tan đã nghĩ rằng khi nó dụ dỗ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản bội lại Chúa Giê-xu, nó đã là kẻ chiến thắng. Bây giờ nó đã bị thua ngay ở trong trò chơi của chính mình. Công cụ quyền năng nhất của nó đó là sự chết- đã mất dây của nó rồi.

Được Cứu Chuộc

Qua nhiều thế kỷ, con người đã làm NÔ LỆ cho ý muốn của Sa-tan. Qua những lời nói dối hiển nhiên, sự bắt chước của sự thật, kể cả sự chối bỏ của sự hiện hữu của chính nó, Sa-tan đã điều khiển con người theo mục đích của chính nó. Nhưng thậm chí nếu không có ảnh hưởng của Sa-tan, con người cũng không thể sống một cuộc sống hoàn hảo được. Con người là một NÔ LỆ cho tội lỗi.

Nhưng sau đó Chúa Giê-xu đến và CỨU CHUỘC chúng ta. Điều này thật khó để chúng ta có thể nắm bắt được sự quan trọng kết nối với từ này nếu chúng ta không hiểu được sự liên quan của nó đối với nô lệ thuở xưa.

Một người đàn ông giàu có sẽ đi đến một chợ nô lệ ở mua một người nô lệ. Ở đó ông sẽ thấy những người bị nô lệ bị trói buộc bởi xiềng xích, nhu mì và tan vỡ, mỗi người được bán đi với một số tiền. Người đàn ông này sẽ trả tiền như được yêu cầu và người nô lệ này sẽ thuộc về người ấy. Cho đến đây thì điều này không có gì là không bình thường, nhưng bây giờ câu chuyện có một sự thay đổi thú vị. Vào những dịp hiếm, người chủ mới sẽ mang người nô lệ mới của mình ra khỏi chợ, tháo gỡ xiềng xích ra và thả cho người ấy được tự do. Khi việc này xảy đến, đó là lúc người nô lệ đã được MUA CHUỘC.

Đó là điều mà Chúa Giê-xu đã làm cho chúng ta. Chúng ta bị cột lại bởi xiềng xích của tội lỗi và Sa-tan trong chợ Nô Lệ của cuộc sống. Chúng ta không thể tự giúp mình để được giải thoát. Nhưng sau đó Chúa Giê-xu đến và mua chuộc chúng ta, trả giá cho chúng ta bằng chính huyết Ngài. Sau đó Ngài mang chúng ta ra khỏi chợ, bẻ gãy xiềng xích và khiến chúng ta được tự do.

Trước kia anh chị em sống một cuộc đời vô dụng, theo nếp sống của tổ tiên truyền lại. Nhưng nay anh chị em đã được cứu khỏi cuộc sống vô dụng ấy rồi… nhưng là bằng chính huyết quí báu của Chúa Cứu Thế. Như chiên con tinh sạch hoàn toàn.

1 Phi-e-rơ 1: 18-19 (BPT)

Cũng trong Chúa Cứu Thế, chúng ta được giải thoát do huyết của sự chết Ngài để chúng ta được tha tội, vì ân phúc Thượng Đế thật giàu có vô cùng.

Ê-phê-sô 1:7 (BPT)

pointing2

Chuồng Chiên

Bây giờ, hãy tiếp tục với sự tương đồng mà Chúa Giê-xu đã sử dụng để mô tả chúng ta như là chiên. Hãy nhớ cách mà một người chăn chiên tốt ngủ ở tại lối đi của chuồng chiên để bảo vệ cho bầy? Chúa Giê-xu đã nói…

“Ta là cái cửa. Ai đi vào qua cửa của ta sẽ được cứu.”

Giăng 10:9 (BPT)

Chuồng chỉ có một cánh cửa. Cũng giống như vậy, Chúa Giê-xu là cánh cửa duy nhất dẫn đến sự sống đời đời. Không có cách nào khác để được cứu khỏi hậu quả của tội lỗi.

…Giống như là chỉ có một cách duy nhất mà Ca-in và A-bên có thể đến gần với Đức Chúa Trời;

…giống như là chỉ có một cánh cửa duy nhất để bước vào thuyền lớn vủa Nô-ê;

…giống như là chỉ có một cánh cửa đến Đền Thờ;

…giống như là chỉ có một cánh cửa duy nhất cho một cái chuồng chiên, giống như Chúa Giê-xu là cách duy nhất để đến với Chúa.

Một số người tin rằng bạn có thể đến với Chúa bằng một tôn giáo khác, có lẽ bằng một sự kết hợp của nhiều tôn giáo khác, nhưng Kinh Thánh không cho phép bất kỳ cách nào khác để đến với Chúa. Điều này có thể được xem như là một sự phân biệt trong thời đại phải dùng từ đúng theo chính trị, nhưng lặp đi lặp lại, Kinh Thánh vang vọng chủ đề này: Chúa Giê-xu là con đường duy nhất.

“…Ngoài Chúa Giê-xu ra không ai có thể cứu con người được. Danh Ngài là quyền năng duy nhất trên thế gian đã được ban cho nhân loại để cứu con người. Chúng ta phải nhờ Ngài mới được cứu.”                                                                            Công vụ các sứ đồ 4:12 (BPT)

Một số người không thích điều kinh thánh eo hẹp này, tuy nhiên để đúng với nội dung, tôi phải nói rằng đây là điều mà Kinh Thánh rõ ràng dạy. Kinh Thánh cũng nói rằng nếu chúng ta không chấp nhận với cách đựa lựa chọn của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể từ chối việc ấy. Đức Chúa Trời cho phép chúng ta có sự tự do đó, nhưng chúng ta phải trả nợ của chính mình bằng sự chết của cá nhân cho đến đời đời. Tất nhiên, một người có thể từ chối sự tồn tại của Đức Chúa Trời và bỏ qua thông điệp trong Kinh Thánh cách hoàn toàn, mặc dầu rất rõ ràng, một người cần phải chấp nhận rằng đó là một sự lựa chọn nguy hiểm.

Sự Bao Dung

Mặc dầu Chúa Giê-xu đã chỉ ra rõ ràng rằng không có cách nào khác để đến với Đức Chúa Trời, Ngài đã không ủng hộ sự đàn áp bạo lực của các hệ thống niềm tin khác. Cách tiếp cận của Ngài đó là dạy lẽ thật. Lẽ thật bày tỏ ra các tội lỗi và con người và sau đó được tự do để đưa ra lựa chọn của chính họ.

Khi các môn đồ lắng nghe Chúa Giê-xu dạy luật và các Tiên Tri, họ phải có được sự báo trước của thông điệp của Ngài. Họ sống ở tại Vương Quốc Rô-ma. Người Rô-ma rất hay dung thứ với những tôn giáo khác cho đến một điểm, nhưng họ cũng đã đến với việc tin rằng Xê-xa cũng là một chúa. Người Rô-ma không thể phản đối Chúa Giê-xu trong việc được bày tỏ là một cách khác để đến với Đức Chúa Trời, nhưng dạy những điều mà Chúa Giê-xu đã dạy- rằng NgàiCon Đường Duy Nhất– sẽ gây nguy hại đến cuộc sống của họ. Theo như những nguồn ngoài kinh thánh khác, tất cả mười một môn đồ ngoại trù một người đã chịu chết bởi vì thông điệp của mình. Họ đã chết cho tất cả những gì họ đã biết là đúng. Người thứ mười một bị đày đi.

Người Pha-ri-si

Người Pha-ri-si, đối với tất cả mọi người, là những người theo tôn giáp hoàn hảo. Họ có một danh sách đầy đủ của những việc gì phải làm và không làm.

Ngày hôm nay, một trong những khái niệm sai về cuộc sống đó là con người có thể mua được cách lên Thiên Đàng bằng việc làm đủ những việc làm tốt sẽ khiến việc tốt thắng hơn việc xấu. Dựa trên suy nghĩ như thế, họ đi nhà thờ, cầu nguyện, thắp đèn, ăn năn hối lỗi, làm từ thiện, vâng vâng… hy vọng rằng họ sẽ được chấp nhận bởi Đức Chúa Trời. Đó không phải là điều Kinh Thánh dạy- ở bất cứ nơi đâu. Thực ra, Kinh Thánh nói điều ngược lại.

Người Pha-ri-si là những người theo tôn giáo rất mực, nhưng Chúa Giê-xu khiển trách cả cuộc sống của họ và sự dạy dỗ của họ là sai lầm. Chúa Giê-xu phán rằng cách duy nhất để đến với Đức Chúa trời đó là bằng đức tin nơi Ngài.

Chúng ta đặt đức tin của mình vào thực tế mỗi ngày. Chúng ta có thể áp dụng nguyên tắc đức tin ngay lúc này. Nếu chúng ta đang ngồi trên một cái ghế, chúng ta tin rằng cái ghế đó có khả năng giữ cho chúng ta mà không ngã xuống. Rất hiếm khi bạn ngồi xuống và nghĩ – “Tôi sẽ tin chiệc ghế này là chắc chắn”- nhưng, bạn thực hành niềm tin của mình trên chiếc ghế đó. Mặt khác, bản thân niềm tin có tính trung lập. Điều quan trọng đó là: bạn đặt niềm tin của mình ở điều gì và với ai? Chiếc ghế này có thể ngã xuống-nhưng nó cũng chỉ là cái ghế thôi. Tuy nhiên, nếu bạn đặt niềm tin của mình vào Chúa Giê-xu Đấng đã trả hết nợ tội cho bạn, thì bạn có được sự tin cậy tuyệt đối rằng Ngài đã làm điều đó. Ngài đã hứa.

Tôi muốn nói rằng anh chị em đã được cứu bởi ân phúc do lòng tin. Anh chị em không thể tự cứu mình được. Ơn ấy là món quà tặng của Thượng Đế, không phải do công lao của anh chị em; cho nên chẳng ai có thể khoe khoang được.                                                                            Ê-phê-sô 2: 8-9 (BPT)

Kinh Thánh nói rằng chúng ta được cứu khỏi những hậu quả của tôi lỗi thông qua đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ. Sự Cứu Rỗi này là một món quà từ Đức Chúa Trời. Chúng ta đã không làm điều gì bằng hành động tôn giáo hay việc làm tốt để đạt được nó. Quà tặng là miễn phí. Nếu bạn làm để đạt được quà, thì đó không còn là một món quà nữa.

Quà Tặng Cho Người Không Xứng Đáng

Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta xứng đáng với nó, thì nó không còn là một quà tặng nữa nhưng là một giải thưởng. Cuộc sống vĩnh cửu Đức Chúa Trời cho chúng ta quả là một món quà thật sự bởi vì chúng ta không xứng đáng với việc đó theo cách nào cả.

Người Pha-ri-si được thuyết phục rằng các việc tốt của họ sẽ làm hài lòng Chúa. Nhưng Đức Chúa Trời nói rằng nếu Ngài chấp nhận con người dựa trên những gì bản thân người ấy đã làm, thì con người sẽ khoe khoang về điều tốt đẹp của chính họ. Ngài đã cứu chúng ta khỏi sự đoán xét, không dựa trên việc bạn tốt đẹp như thế nào, nhưng dựa trên nền tảng đó là quà của Ngài cho chúng ta.

Ai phạm tội thì phải lãnh tiền công của tội lỗi—đó là sự chết. Nhưng quà tặng của Thượng Đế là sự sống đời đời trong Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.

Rô-ma 6:23 (BPT)

Chúng ta tin rằng Chúa Giê-xu đã chết thế cho chỗ của chúng ta, cho tội lỗi chúng ta.

Chúng ta tin rằng Đức Chúa Giê-xu Christ đã trả nợ tội cho chúng ta.

Chúng ta tin rằng sự công bình của Đức Chúa Trời được thỏa mãn bởi sự chết đó. Chúng ta tin rằng khi Ngài nhìn vào chúng ta, Ngài không còn thấy tội lỗi của chúng ta nữa, nhưng Ngài thấy chúng ta mặc lên sự công bình của Đức Chúa Giê-xu.

Chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quà tặng cuộc sống đời đời. Tất cả điều đó là niềm tin, nhưng nó không phải là một niềm tin mù lòa.

Đó là đức tin được xây dựng trên những lẽ thật được tìm thấy ở trong Kinh Thánh.

Một số người thêm vào hương thơm tâm linh vào trong niềm tin của mình. Nó trở thành mức độ của niềm tin. Bạn có thể có nhiều đức tin hoặc có ít đức tin. Nhưng cách suy nghĩ đó làm rối loạn vấn đề. Đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu thì giống như một người đang sắp bị chết đuối gật đầu với người cứu hộ khi người đó nói, “Anh có tin thôi sẽ cứu anh không?” Mức độ của cái gật đầu đó thì không định lượng được. Điểm chính ở đây không phải là cái gật đầu. Nhưng điểm chính ở đây là người sắp bị chết đuối đang nhận thức được tình trạng gay go của mình và tin vào người cứu hộ sẽ cứu họ. Nhưng đối với người đang sắp chết đuối sau này tuyên bố rằng cái gật đầu lớn này đã cứu sống anh ấy thì đã rất buồn cười.

Như vậy điều này đã ở lại với chúng ta. Chúng ta cần nhận thức rằng chúng ta là những tội nhân không thể tự giúp lấy mình và sau đó tin cậy nơi Chúa Giê-xu để cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi. Đó không phải là kích cỡ của lòng tin của chúng ta đã cứu chúng ta. Đó chính là Chúa Giê-xu là Đấng làm việc cứu chuộc. Tất cả đều do Ngài và không phải do chúng ta.

Tin Mừng ấy cho thấy Thượng Đế giúp cho con người hòa thuận lại với Ngài—bắt đầu và kết thúc đều qua đức tin. Như Thánh Kinh viết, “Những ai đã hòa thuận lại với Ngài sẽ sống mãi bằng đức tin.”                                                                               Rô-ma 1:17 (BPT)

Để tiếp tục với sự so sánh của người đàn ông đang sắp bị chết đuối, tôi muốn thêm vào để biết được rằng mình đang sắp bị chết đuối cũng là một điều rất quan trọng. Nếu bạn nghĩ bạn đang nổi lên cũng ổn, bạn sẽ từ chối tất cả sự giúp đỡ. Tuy nhiên, thậm chí bạn biết bạn đang sắp chết đuối nhưng bạn quá kiêu ngạo và không cầu xin sự giúp đỡ, bạn cũng sẽ bị chết đuối. Những người khác có lẽ sẽ thấy rằng bạn đang loạng choạng, nhưng họ sẽ không thể giúp bạn cho đến khi bạn cho phép họ. Điều này cũng giống với tâm linh của bạn. Bạn phải thấy được bản thân mình là tội nhân không tự cứu lấy mình trước khi bạn được cứu khỏi nợ tội của chính mình. Đó là điểm bắt đầu.

Kinh Thánh có đầy sự bày tỏ về Đức Chúa Giê-xu là ai và Ngài đã làm những gì. Chúng ta có thể chỉ mang đến sự phỏng đoán bày tỏ về Đức Chúa Giê-xu được sử dụng khi Ngài dạy các môn đồ của Ngài. Không nghi ngờ gì, Ngài đã sử dụng hầu hết những ví dụ mà chúng ta đã chạm đến. Ngài có lẽ đã dùng nhiều hơn. Khi Ngài vừa mới dạy xong, chắc cả phòng trở nên im lặng. Câu hỏi còn lại cho các môn đồ của Chúa Giê-xu cũng chính là câu hỏi còn lại cho chúng ta. Chúng ta đặt niềm tin của mình ở nơi người nào? Ở bản thân mình, tôn giáo mình, ý tưởng mình, công việc tốt mình làm, hoặc trên lẽ thật là Chúa Giê-xu đã chết trong chỗ của chúng ta để trả cho nợ tội của mình?

Mọi thứ chắc phải rõ nghĩa rồi. Nếu một người nào đó hỏi bạn, “Tại sao Chúa Giê-xu phải chết?” bạn sẽ có thể trả lời:

Tội lỗi đòi hỏi sự chết. Thay vì mỗi người trong chúng ta chết vì tội của mình và trả giá cho hậu quả đời đời, Chúa Giê xu đã chết thay cho chỗ của chúng ta, mang lấy những hậu quả này trên mình Ngài. Ngài là sự thay thế của chúng ta.

Nếu người nào đó hỏi bạn, “Làm thế nào để tôi được lên Thiên Đàng?” Bạn có thể trả lời:

Để sống nơi Thiên Đàng chúng ta cần phải trong sạch và hoàn hảo, giống như là Đức Chúa Trời rất thánh khiết và hoàn hảo. Nếu chúng ta đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Trời, tin cậy rằng khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài đã chết cho chỗ của tội lỗi chúng ta, nên Đức Chúa Trời sẽ mặc chúng ta với sự công bình của Ngài và chúng ta sẽ hoàn toàn được chấp nhận.

Chúa Giê-xu cất tội lỗi của chúng ta đi và ban cho chúng ta sự công bình của Ngai.