26. Các Quan xét, Vua, Và Tiên Tri

Chúng ta bây giờ đến với một bài học mà chứa đựng nhiều sự kiện của nhiều thế kỷ chỉ trong một vài trang. Đối với một số người không thích lịch sử, chắc chắn rằng đó là một sự nghiên cứu không khó khăn gì, thậm chí nếu bạn không hiểu được điều gì cả, bạn sẽ nhặt lấy những mảnh nhỏ thông tin hậu trường. Điều này có thể giúp nếu bạn so sánh những tiêu đề của mỗi phần với dòng thời gian ở các trang sau.

Bốn mươi năm đã qua kể từ khi dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai-cập cho đến khi họ đi đến Ca-na-an. Môi-se đã qua đời trước khi bước vào vùng đất hứa và được thay vào bởi một người lãnh đạo tên là Giô-suê.

Sau khi đến vùng đất hứa phải mất một số năm dân Y-sơ-ra-ên mới có thể hoàn toàn ổn định. Vùng đất đã được chia ra theo gia tộc, mỗi gia tộc tương đương với, phần nhiều, một trong mười hai con trai của Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên).

 

Thời Gian Của Các Quan Xét

Trong một giai đoạn dân Y-sơ-ra-ên đã tin nơi Đức Chúa Trời, nhưng sau đó họ bắt đầu trôi dạt khỏi lẽ thật, cuối cùng họ tin vào những thần tượng. Đức Chúa Trời trừng phạt dân Y-sơ-ra-ên về việc họ tôn thờ những thần giả bằng cách cho họ bị các quốc gia ngoại quốc đô hộ và bắt buộc dân Y-sơ-ra-ên phải phục vụ họ và nộp cống cho họ. Sau một thời gian dân Y-sơ-ra-ên ăn năn và kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi những người đàn áp họ. Đức Chúa Trời đã dấy lên một người lãnh đạo, được gọi là Quan Xét, và dân Y-sơ-ra-ên sẽ chiến thắng những kẻ xâm lược. Như vậy bắt đầu một chu trình mà tồn tại gần 300 năm. Chu trình này được lặp đi lặp lại. Trong suốt quá trình này có khoảng mười lăm Quan Xét.

Một số người tin rằng nếu bạn tin nơi Đức Chúa Trời thì bạn sẽ không vấn đề gì. Nhưng trong đầu họ vẫn tin rằng tất cả con đường- tất cả niềm tin- cuối cùng cũng dẫn đến một Chúa giống nhau. Đây không phải là điều mà Kinh Thánh dạy dỗ. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng có rất nhiều thần giả, nhưng chỉ có duy nhất một Đức Chúa Trời chân thật. Dân Y-sơ-ra-ên chịu sự đoán xét khi họ tin cậy nơi một thần giả khác.

 

Thời Gian Của Các Vua

Trong tất cả các quốc gia trên thế giới, dân Y-sơ-ra-ên là dân tộc được phước nhất, bởi vì chính bản thân Đức Chía Trời là Người Lãnh Đạo và là Vua của họ. Nhưng thời gian trôi qua và dân Y-sơ-ra-ên quan sát những dân tộc khác, họ từ chối Đức Chúa Trời và yêu cầu một vị vua là con người. Đức Chúa Trời đã đáp ứng lời yêu cầu của họ, nhưng thiên hướng của họ là đi sai đường và tin cậy nơi những thần giả còn lại khác.

Dân Y-sơ-ra-ên có rất nhiều vua, nhưng chỉ một số vua tin và vâng lời Đức Chúa Trời. Bởi vì điều này, chu trình của những năm trước đó vẫn tiếp tục tiếp diễn, chỉ là thay vì có một Quan Xét, bây giờ họ có một vị vua.

Một số các vị vua đặc biệt đáng được chú ý. Có lẽ vị vua vĩ đại nhất và được biết đến nhiều nhất của vương triều Y-sơ-ra-ên đó là Đa-vít. Không giống như những vị vua khác cai trị Y-sơ-ra-ên, Vua Đa-vít thực sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Ông tin rằng chỉ duy Đức Chúa Trời mới có thể cứu ông ra khỏi những hậu quả của tội lỗi. Đa-vít gọi Đức Chúa Trời là “Chúa Cứu Thế tôi”.

Vua Đa-vít là một nhà Tiên Tri lớn, được gây cảm hứng bởi Đức Chúa Trời để viết xuống lời Kinh Thánh. Ông được chú ý đến bởi những bài hát mà ông viết, ngợi khen Đức Chúa Trời vì tình yêu thương và sự nhân từ của Ngài. Đa-vít biết chủ yếu về Đấng Giải Cứu được hứa, và Đức Chúa Trời đã thề với vua rằng Đấng Được Xức Dầu sẽ đến từ một trong các con cháu của vua. 4 Vua Đa-vít có một tham vọng lớn đó là thay thế lều thánh có thể di chuyển được bằng một cấu trúc kiên cố với thiết kế tương tự như vậy. Nó sẽ được gọi là Đền Thờ. Vua muốn xây dựng đền thờ đó tại thành Giê-ru-sa-lem, nơi mà đã trở thành thủ đô của đất nước trong thời kỳ vua ngự trị. Mặc dầu vua Đa-vít tập hợp được tất cả vật liệu xây dựng, cho đến khi con trai vua, vua Sa-lô-môn mới thực sự thấy công trình đó được hoàn tất.

Vua Sa-lô-môn được biết đến trong hai điều: sự khôn ngoan lớn của vua và Đền Thánh mà ông đã xây dựng. Cấu trúc tuyệt diệu này được dựng nên ở Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-a, có thể là ở trên cùng khu vực nơi mà Áp-ra-ham chuẩn bị để dâng con trai Y-sác của mình.

Sau khi vua Sa-lô-môn qua đời, đất nước bị chia cắt ra làm hai: phía Bắc mười gia tộc lấy tên mình là Y-sơ-ra-ên, trong khi phía Nam hai gia tộc trở thành dân tộc Giu-đa. Sự phân chia này dường như là bước đầu tiên của Y-sơ-ra-ên trong việc tạo khoảng cách với Đức Chúa Trời. Gia tộc phía Bắc dẫn đường. Con người trải nghiệm việc làm theo những điều Đức Chúa Trời phán, nhưng lòng họ thì cách xa Chúa.

 

Các Tiên Tri

Đức Chúa Trời thông qua các tiên tri, không chỉ cảnh báo con người về các đạo đức sai lạc, nhưng mà còn cảnh cáo về sự xét đoán sẽ đến.

Những tiên tri này cũng được hối thúc bởi Đức Chúa Trời để viết nên lời Chúa. Một số người họ mang đến những thông tin cụ thể về việc đến của một Đấng giải Cứu đã được hứa.

Nói chung, các tiên tri không được chào đón nồng nhiệt bởi những người Y-sơ-ra-ên hoặc những vị vua đương thời của họ. Có một lý do. Các tiên tri mang đến thông điệp mà họ không muốn nghe. Ví dụ, tiên tri Ê-sai nói với họ…

Chúa phán: “Dân nầy bảo là rất yêu ta; chúng tỏ lòng tôn kính bằng miệng, nhưng lòng chúng nó rất xa ta. Sự tôn kính chúng phô bày chỉ là qui tắc con người đặt ra thôi.

                                                                                                                Ê-sai 29:13 (BPT)

Phần lớn mọi người không quan tâm đến thông điệp của các tiên tri và từ chối việc tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Họ đàn áp và giết các nhà tiên tri. Để phức tạp hóa vấn đề thêm, những tiên tri giả bị ảnh hưởng bởi Sa-tan khuấy động cảnh tượng thuộc linh. Mặc dầu Đức Chúa Trời đã cung cấp những hướng dẫn rõ ràng để đảm bảo dân của Ngài biết được sự khác nhau giữa lẽ thật và điều sai trái, những tiên tri giả thì nổi tiếng hơn nhiều, bởi vì họ nói với dân đó những điều mà họ muốn nghe.

Sự phân tán của dân Y-sơ-ra-ên

Cuối cùng thì Đức Chúa Trời cũng đã mang đến sự đoán xét. Người A-xi-ri xâm chiếm mười gia tộc ở phía Bắc vào năm 722 TCN và giam cầm họ. Kinh Thánh không tường thuật lại sự quay lại có tổ chức của những người này đến vùng đất của Y-sơ-ra-ên.

Giu-đa bị bắt giữ

Hai gia tộc ở phía Nam tiếp tục một thực thể chính trị riêng biệt cho đến năm 586 TCN, khi người Ba-by-lôn cướp đoạt thành phố của Giê-ru-sa-lem, phá bỏ đi đền thờ lớn của So-lô-môn và mang họ đến sa mạc.

Trong khi bị đày, những người đó bắt đầu được gọi là Do Thái, bằng chứng cho sự thật rằng hầu hết họ đều từ bộ tộc Giu-đa. Với đền thờ không còn tồn tại nữa để thực hiện chức năng là một trung tâm thờ phượng, người Do Thái giới thiệu đến **hội đường như là một nơi để gặp gỡ, dạy dỗ và học lời Kinh Thánh.

Sự lưu đầy tiếp diễn trong vòng 70 năm, nhưng vào năm 536 TCN hai gia tộc phía nam bắt đầu di chuyển dần về với quê hương của họ để ổn định ở đó và ở xung quanh Giê-ru-sa-lem, ở vùng trước đây được sử dụng bởi gia tộc Giu-đa. Đền thờ đã được xây dựng lại, mặc dầu không lộng lẫy như thời kỳ của Sô-lô-môn, và việc dâng của lễ cũng được lập lại.

Sự Ảnh Hưởng của Người Hy-Lạp

Khoảng 400 năm trước công nguyên, các sự tường thuật trong Kinh Thánh dừng lại và yên ắng trong một khoảng thời gian chừng bốn thế kỷ. Mặc dầu lịch sử thì đã không đứng yên. A-léc-xăng-đơ, người lãnh đạo tài năng của Hy-Lạp, đi ngang qua phía Trung Đông trong quá trình nhấn chìm những người Do Thái. Các phái viên của ông giới thiệu ngôn ngữ Hy Lạo và một ngôn ngữ thương mại và văn hóa cổ Hy-Lạp đã trở thành một biểu tượng địa vị cho các thế kỷ sau đó.

Một số người Do Thái cũng hòa nhập vào văn hóa Hy-Lạp cách thoải mái, kết hợp nó với lòng tin của họ về Đức Chúa Trời. Những người này được gọi là những người Xa-đu-xê. Mặc dầu họ chiếm một con số nhỏ, họ là những người giàu có và có ảnh hưởng. Họ có xu hướng điều khiển những thầy tế lễ thượng phẩm, một vị thế mà đã có thể được mua bán. Thật không may mắn rằng họ cũng khước từ một số phần đúng của Kinh Thánh. Người Xa-đu-xê bớt đi lời của Đức Chúa Trời.

Trong vòng khoảng 200 năm, người Do Thái khuất phục trước sự thành công của Hy-Lạp nắm giữ quyền lực và sau đó vào năm 166 TCN họ nổi dậy. Giu-đa Mắc-ca-bê-út dẫn người Do Thái đi đến giai đoạn tự chủ.

Trong giai đoạn này, có hội tôn giáo người Do Thái rất cuồng tín, họ được gọi Người Pha-ri-si, là những người đứng đầu. Người Pha-ri-si tranh đấu với sự ảnh hưởng của văn hóa Hy-lạp và gắn chặt vào luật pháp của Môi-se. Với lòng nhiệt huyết của họ, họ đã tao nên một vòng các luật khác để bảo vệ xung quanh luật của Môi-se để mà không có bất cứ luật thật nào khác sẽ bị xâm phạm. Những luật pháp thêm vào này đã trở nên có quyền lực bởi chính chúng, được cho rằng bình đẳng với các luật của Môi-se. Người Pha-ri-si thêm vào trong Lời của Đức Chúa Trời.

Một thế lực xã hội đáng chú ý khác trong cuộc sống người Do Thái đó là Người sao chép, giống như là máy sao chép (photocopy). Trước thời kỳ in ấn đến, những người này sao chép cực kỳ cẩn thận Lời Của Đức Chúa Trời nhiều lần. Cụm từ (Scribe) Người In Ấn ngụ ý sự hăng hái về sự giáo dục và tôn giáo. Công việc này thì giống với một công việc hơn là một nhóm tôn giáo hay chính trị.

Map

Người Rô-ma

Sự tự do của người Do Thái dưới dự lãnh đạo của Maccabean kéo dài chỉ khoảng được 100 năm. Gót chân sắt của người Rô-ma đạp nát lên sự tự do vào năm 67 TCN khi chỉ huy Pompey đi vào Giê-ru-sa-lem.

Rô-ma khá thoải mái với tôn giáo của người Do Thái miễn là người Do Thái trả tiền thuế và không nổi loạn. Một thế giới được khai hóa đã bước vào một sự bình an không dễ dàng.

Vương quốc Rô-ma quá rộng lớn để có thể cai quản cách hiệu quả từ Rô-ma, cho nên những người lãnh đạo khu vực được bầu chọn để quản lý các khu vực khác nhau. Tại Giu-đê, bây giờ là một địa phận của Rô-ma, một người tên là Hê-rốt được đặt lên giống như là một vị vua bù nhìn. Vua sẽ đến và được biết đến là Vua Hê-rốt vĩ đại. Độc ác không thể tưởng tượng được, Hê-rốt là một người theo tôn giáo Do Thái chỉ trên danh nghĩa thôi. Dưới tổ chức quyền lực Rô-ma, vua cùng các con vua sẽ cai trị thế giới người Do Thái phẫn uất trong vòng một trăm năm tới. Những người đó mong chờ để được giải cứu.-một người có thể mang đến cho họ sự cứu giúp.

Hơn hai ngàn năm đã trôi qua kể từ khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham rằng một trong những con cháu của ông sẽ là một Đấng Giải Cứu Được Hứa. Qua các thế kỷ Đức Chúa Trời đã có những người đó, đôi khi chỉ một vài người, là những người tin Lời Ngài và đúng trước mặt Ngài. Họ đã chờ đợi trong sự mong mỏi về Đấng Được Sức Dầu sẽ đến. Trong những năm trước đây của đế quốc Rô-ma, những người bám vào những lời hứa của Đức Chúa Trời cách bền bỉ vẫn chờ đợi để xem chúng được hoàn thành. Thời điểm đã đến, nhưng họ không nhận ra được điều đó. Sân khấu bây giờ đã được dàn dựng. Các Thiên sứ trên Thiên Đàng phải im bặt. Sa-tan phải rùng mình. Ai là Đấng Giải Cứu Được Hứa này?

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *