42. Sự Đóng Đinh

Bởi vì quan án xử ban đêm là không đúng luật, Hội Đồng gặp lại một lần nữa sau bình minh để thông qua các hành động hợp pháp để thử thách Chúa Giê-xu. Ngài phải rất mệt mỏi lúc đó. Ngài đã không ngủ cả đêm trước, và họ đã đánh Ngài rất nghiêm trọng chủ yếu là để Ngài biết rằng ai là người đang cầm quyền.

Thế là toàn thể hội đồng đứng dậy giải Chúa Giê-xu qua cho Phi-lát. Lu-ca 23:1 (BPT)

Bôn-ti Phi-lát

Bôn-ti Phi-lát, người thống trị Giu-đê, có tất cả quyền lực của đế quốc Rô-ma sau lưng người. Vì hầu như ở trong các tình huống quan án Do Thái không thể áp đặt hình phạt tử hình, họ cần sự đồng ý của người Rô-ma. Phi-lát là người đàn ông của họ. Các người lãnh đạo đền thờ đã biết rằng ông rất thiếu quyết tâm, cho nên việc thuyết phục nhỏ đã được thực hiện.

Chúng bắt đầu tố cáo Ngài rằng, “Chúng tôi bắt quả tang tên nầy mê hoặc dân chúng. Hắn bảo chúng ta không nên nộp thuế cho Xê-xa và dám tự xưng mình là Đấng Cứu Thế, là vua.” Lu-ca 23:2 (BPT)

Chúa Giê-xu chưa bao giờ cấm những người theo Ngài trả tiền thuế. Thực ra, Chúa Giê-xu đã nói ngược lại. Đây hoàn toàn là một lời nói dối. Nhưng với rất nhiều luật đã bị bỏ qua, ai có thể theo sát được? Ngược lại, đúng rằng Chúa Giê-xu đã xưng mình là Đấng Mê-si-a.

Phi-lát hỏi Chúa Giê-xu, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?” Lu-ca 23:3 (BPT) Chúa Giê-xu đáp, “Quốc gia của tôi không thuộc về hạ giới nầy. Nếu nước tôi thuộc về hạ giới thì các đầy tớ tôi sẽ chiến đấu để tôi khỏi bị giải giao cho các người Do-thái. Quốc gia của tôi ở nơi khác.”                       Giăng 18:36 (BPT)

Triều đại của Chúa Giê-xu bắt đầu trong tấm lòng. Ngài không có tham vọng chính trị gì.  

Phi-lát liền hỏi, “Thế anh là vua à?” Chúa Giê-xu đáp, “Đúng vậy. Chính ngài nói tôi là vua. Sở dĩ tôi được sinh ra và đến trần thế là để làm chứng về chân lý cho dân chúng. Người nào thuộc về chân lý thì nghe tôi.” Phi-lát thắc mắc, “Chân lý là cái gì?”      Giăng 18: 37-38 (BPT)    

Người ta vẫn hỏi câu hỏi như vậy ngày hôm nay. Nhưng Phi-lát không đang ở trong tâm trạng muốn lắng nghe, ông thậm chí đã không đợi câu trả lời.

Nói xong, Phi-lát bước ra ngoài tuyên bố với người Do-thái, “Tôi chẳng thấy người nầy có tội gì.    Giăng 18:38 (BPT)

Phi-lát đã không tin các thầy tế lễ. Là một người thống trị Rô-ma, ông biết rằng ông bị ghét bỏ bởi người Do Thái và có lý do để tin rằng các thầy tế lễ đã không suy nghĩ về lợi ích của Xê-xa trong tâm trí mình. Hội đồng phải có những ý định khác khi muốn Chúa Giê-xu chết đi.

Phi-lát bảo các giới trưởng tế và toàn thể dân chúng, “Tôi chẳng thấy người nầy làm điều gì quấy.” Họ khăng khăng, “Nhưng tên Giê-xu nầy đã sách động dân chúng, dạy dỗ khắp miền Giu-đia. Hắn bắt đầu từ Ga-li-lê rồi bây giờ đến đây.” Phi-lát nghe thế mới hỏi có phải Ngài là gốc Ga-li-lê không. Vì Chúa Giê-xu ở dưới quyền Hê-rốt nên Phi-lát giải Ngài sang cho Hê-rốt, lúc ấy đang có mặt ở Giê-ru-sa-lem. Lu-ca 23: 4-7 (BPT)

Phi-lát có quyền lực để lắng nghe trường hợp về Chúa Giê-xu, nhưng tình huống càng trở nên không thoải mái hơn. Chúa Giê-xu bị ghép tội về việc khuyến khích những người khác nổi loạn. Ngài sẽ phải giải thích cho những người cấp cao ở tại Rô-ma nếu Chúa Giê-xu đã kích thích một sự nổi loạn hay không? Việc thả cả mớ lộn xộn trên đùi của Hê-rốt thì sẽ hơn. Bên cạnh đó, Hê-rốt không phải là một người bạn của Ngài, cho nên Phi-lát chuyển trách nhiệm sang cho người khác.

Hê-rốt Antipas

Hê-rốt Antipas là con trai của Hê-rốt Vĩ Đại. Giống như là một con rối của Rô-ma, ông ta đã được ban cho quyền lực pháp lý trên quê nhà của Chúa Giê-xu tại thị trấn của Ga-li-lê. Ông đã đến Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Vượt Qua hàng năm.

Jerusalem map 2

➍➎➍ Sáng Thứ Sáu: Phi-lát gửi Chúa Giê-xu đến Hê-rốt, ông gửi Ngài lại cho Phi-lát. ➌➍ Sáng Sớm Thứ Sáu: Chúa Giê-xu bị mang đến pháo đài Rô-ma để đối mặt với Bôn-ti Phi-lát. ➊➋ Khuya tối thứ Năm: Chúa Giê-xu áp giải đến tại vườn Ghết-sê-ma-nê và bị mang đến nhà của thầy tế lễ cả thượng phẩm. Có ý kiến cho rằng họ đã đi vòng quanh bức tường phía Bắc để tránh lượng giao thông ở Đền Thờ.

Khi thấy Chúa Giê-xu, Hê-rốt mừng lắm, vì nghe tiếng Ngài từ lâu nên ông ta rất mong gặp Ngài. Ông muốn xem Ngài làm phép lạ.  Hê-rốt hỏi Ngài nhiều câu nhưng Chúa Giê-xu không trả lời.         Lu-ca 23: 8-9 (BPT)

Im Lặng

Chúa Giê-xu đã biết rằng Hê-rốt không có ý định gì trong việc xác định lẽ thật. Vua chỉ mong ước được giải khuây bởi phép lạ, bày tỏ sự không tôn trọng rõ ràng về tính cách Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu đã không chiều theo Hê-rốt. Ngược lại, ông vẫn giữ yên lặng.

Các trưởng tế và các giáo sư luật đứng đó hung hăng tố cáo Ngài. Sau khi Hê-rốt và các tên lính dưới quyền chế giễu Ngài, chúng mặc cho Ngài một áo triều nhà vua rồi trả Ngài về cho Phi-lát.  Phi-lát và Hê-rốt trước kia vốn thù nghịch nhau, nhưng từ hôm ấy lại trở thành bạn. Lu-ca 23: 10-12 (BPT)

Đóng Đinh Ngài

Từ khi Chúa Giê-xu bị áp giải, Ngài đã trải qua năm công đoạn xét xử: Ba người Do Thái, hai Rô-ma. Thử thách thứ sáu này sẽ là thử thách sau cùng của Ngài. Đến lúc này, lời này đã lan rộng ra ở khắp thành phố. Thầy Tế Lễ Cả Thượng Phẩm và Hội Đồng không còn là những người kết tội Chúa Giê-xu. Họ đã tham gia vào một đám đông hay thay đổi, những người mà một vài ngày trước đây tung hô lên “Hô-sa-na”, nhưng người này bây giờ lại hét lên cách kịch liệt “Đóng Đinh Ngài!”Phi-lát đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Ông càng phải đối mặt với Chúa Giê-xu chừng nào, thì ông càng bị thuyết phục rằng có một điều gì đó không bình thường ở người đàn ông này!

Phi-lát triệu tập dân chúng lại cùng với giới trưởng tế và các lãnh tụ.  Ông nói, “Các anh giải người nầy đến với tôi, bảo rằng ông ta sách động quần chúng, nhưng tôi đã tra hỏi ông ta trước mặt mấy anh mà tôi không thấy ông ta phạm tội gì theo như mấy anh tố cáo.  Ngoài ra, Hê-rốt cũng không thấy ông ta có tội gì cho nên đã trả ông ta về đây. Mấy anh thấy đó, ông nầy không phạm tội gì đáng chết cả.  Cho nên tôi sẽ phạt ông ta xong rồi thả ra.” Lu-ca 23: 13-16 (BPT)

Cả Hê-rốt và Phi-lát cũng không tìm được những tội nào mà Chúa Giê-xu đã làm để xứng đáng với việc tử hình. Thật ra, dường như là không ai có thể ghép tội cho Ngài về bất cứ tội gì. Với hy vọng là để làm dịu đám đông, Phi-lát đưa ra một sự thỏa hiệp nhún nhường. Sự thỏa hiệp này bao gồm hai phần: 1. Ông sẽ quất roi vào Chúa Giê-xu:   Đây không phải l;à việc đánh đập bình thường. Dây quất bao gồm một cái cây với nhiều sợi dây da đính vào một đầu. Mỗi sợi dây da có các móc hình con bướm được làm từ xương hoặc kim loại đính vào đầu. Người bị kết tội sẽ bị cột tay cao quá đầu vào một cái trụ khiến cho toàn thể lưng của người ấy đều bị phơi ra cho người trừng phạt. Mỗi lần roi quất nện xuống, miếng xương hoặc miếng kim loại sẽ đâm xuyên qua da thịt. Khi kéo dây quất ra có nghĩa là kéo thịt trên da lưng ra khỏi. Kiểu đánh đập này cũng khá nghiêm trọng nên thường thì nạn nhân chết. Theo luật thì sự trừng phạt này chỉ có thể xảy đến với một tù nhân bị kết tội. Bản thân Phi-lát chỉ mới nói rằng Chúa Giê-xu là vô tội. Bởi vì cách đánh đập kiểu người Rô-ma là một cách thử tội kinh khủng, có thể cho rằng Phi-lát hy vọng rằng những lằn roi đó có thể làm dịu đi những người kết tội chúa Giê-xu để mà họ có thể chấp nhận được ý kiến của ông sau đó. whipping 2. Ông sẽ thả Chúa Giê-xu ra:   Phong tục của người Rô-ma địa phương là thả người bị kết tội vào ngày lễ Vượt Qua như là một hành động của việc lành. Phi-lát cho rằng Chúa Giê-xu sẽ được thả ra- sau khi Ngài đã bị bánh đập. Đám đông đã nhất trí trong câu trả lời của họ:

Nhưng dân chúng đồng thanh hét lên, “Diệt tên nầy đi! Hãy tha Ba-ra-ba!” Phi-lát muốn thả Chúa Giê-xu nên bảo cho dân chúng biết. Nhưng quần chúng lại la hét lần nữa, “Đóng đinh hắn đi! Đóng đinh hắn đi!” Phi-lát hỏi chúng lần thứ ba, “Tại sao? Ông ta phạm lỗi gì? Tôi chẳng thấy ông ta có tội gì đáng chết. Cho nên tôi sẽ phạt ông ta rồi tha ra.” Lu-ca 23: 18, 20-22 (BPT)

Sau đó Phi-lát ra lệnh mang Chúa Giê-xu đi và cho đánh đòn Ngài.  Giăng 19:1 (BPT)

Các quân lính không hài lòng với mức độ độc ác trong việc trừng phạt này. Họ quyết định thêm vào những lời chế giễu.

Bọn lính đan một mão triều bằng cành gai đội lên đầu Ngài và mặc cho Ngài một cái áo choàng tím.  Rồi chúng bước đến gần Ngài và hô mấy lần: “Vua dân Do-thái vạn tuế!” xong tát Ngài mấy cái. Giăng 19: 2-3 (BPT)

Sự hạ nhục không phải là một phần của án phạt từ Phi-lát. Áo choàng tím thường được mặc bởi vua chúa. Những cái gai đó là một sự nhái lại độc ác của một mão gai của vua. Điều này là điều sỉ nhục tồi tệ nhất. Cách lúc này khoảng 700 năm, tiên tri Ê-sai đã viết:

Người bị dân tộc ghét bỏ. Người chịu nhiều đau đớn và khốn khổ. Dân chúng không thèm nhìn người. Người bị ghét, thậm chí chúng ta cũng không để ý đến người. Ê-sai 53:3 (BPT) Phi-lát lại đi ra một lần nữa và tuyên bố với quần chúng, “Đây nầy, tôi mang ông ta ra cho các anh để các anh biết tôi không tìm thấy ông ta có tội gì cả.” Chúa Giê-xu đi ra đầu đội mão gai, mình mặc áo choàng tím. Phi-lát bảo họ, “Ông ta đây!” Giăng 19: 4-5 (BPT)

Sâu thẳm trong tấm lòng, Phi-lát phải biết rằng ông đang để sang một bên tất cả những điều công bình. Không nghi ngờ gì Ngài đã có hy vọng rằng người đàn ông bị tan nát, đội mão gai, người đầy máu có thể tạo nên sự thương xót. Khi các giới trưởng tế và các tên lính thấy Ngài thì đồng thanh hét lớn, “Hãy đóng đinh hắn! Đóng đinh hắn lên cây thập tự đi!”

Phi-lát bảo, “Mấy anh hãy tự tay bắt ông ta mà đóng đinh đi, vì tôi chẳng thấy ông ta có tội tình gì.” Giăng 19: 6 (BPT)

Phi-lát đã biết rất rõ rằng họ không thể làm được điều đó. Quan tòa Do Thái không thể áp đặt án tử hình.

Con Của Đức Chúa Trời

Dân Do-thái trả lời, “Chúng tôi có luật, chiếu theo luật đó hắn phải chết vì hắn dám tự xưng mình là Con Trời. Phi-lát nghe vậy càng đâm ra sợ hãi.  Ông ta trở vào dinh và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh từ đâu đến?”  Giăng 19: 7-9 (BPT)

Phi-lát vừa chỉ mới nghe rằng Chúa Giê-xu đến từ Ga-li-lê, đó là lý do cho việc gửi Ngài đến với Hê-rốt. Bây giờ, một lần nữa, Ngài hỏi Chúa Giê-xu rằng Ngài đến từ đâu? Không nghi ngờ gì Ngài cảm thấy khá lo lắng về một người tự xưng mình là Chúa! Người Hy-lạp tin rằng các chúa đến từ núi Olympus để làm thân với con người. Có lẽ Phi-lát đang tự hỏi nếu chúa Giê-xu rơi vào trong hạng mục đó. Rõ ràng đây không phải là một tội thông thường. Chỉ qua cách ông giải quyết tình huống trong quan tòa chứng minh sự bình an và tự tin của ông đã bị náo động. Giê-xu, Người thực sự từ đâu đến?

Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào.  Ông ta trở vào dinh và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh từ đâu đến?” Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào. Phi-lát bảo, “Anh không đối đáp gì hết với tôi sao? Anh không biết rằng tôi có quyền thả anh và cũng có quyền đóng đinh anh sao?” Chúa Giê-xu đáp, “Nếu Thượng Đế không cho thì ngài chẳng có quyền gì trên tôi cả. Cho nên người giải giao tôi cho ngài lại càng nặng tội hơn.” Từ lúc ấy trở đi, Phi-lát tìm cách thả Chúa Giê-xu. Nhưng người Do-thái la hét, “Nếu ngài thả tên nầy thì ngài không phải là bạn của Hoàng đế! Ai tự xưng là Vua tức nhiên phản nghịch lại với Hoàng đế!” Khi Phi-lát nghe họ nói, ông cho mang Chúa Giê-xu ra và ngồi nơi ghế xử án, chỗ gọi là “Thềm Đá,” tiếng Do-thái gọi là Ga-ba-tha.  Lúc ấy khoảng giữa trưa của Ngày Chuẩn Bị cho tuần lễ Vượt Qua. Phi-lát bảo người Do-thái, “Vua của các anh đây!” Giăng 19: 9-14 (BPT)

Ngày Chuẩn Bị đó là khi Chiên Con của Lễ Vượt Qua bị giết.

Lúc ấy khoảng giữa trưa của Ngày Chuẩn Bị cho tuần lễ Vượt Qua. Phi-lát bảo người Do-thái, “Vua của các anh đây!” Họ gào thét, “Giết hắn đi! Diệt hắn đi! Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi!” Giăng 19: 14-15 (BPT)

Đây là sự lần chối bỏ cuối cùng về Chúa Giê-xu là Vua của người Y-sơ-ra-ên. Họ đã chọn Sê-sa người Rô-ma thay cho vị trí của Chúa.

Phi-lát đành giao Chúa Giê-xu cho chúng để đóng đinh. Bọn lính liền bắt Chúa Giê-xu mang đi. Chúa Giê-xu vác cây thập tự đi đến một nơi gọi là “Đồi Sọ,” tiếng Do-thái gọi là Gô-gô-tha.  Họ đóng đinh Ngài tại đó. Họ cũng đóng đinh hai người nữa, mỗi người một bên, còn Chúa Giê-xu ở chính giữa.  Giăng 19: 16-18 (BPT)

Sự Đóng Đinh                                                                 

Sự đóng đinh là hình thức xử tử của người Rô-ma được dùng cho những người nô lệ và tội phạm của những tội lỗi thấp hèn nhất. Đó là một phương pháp hành hình thjoong thường, lịch sử tường thuật lại hàng trăm người bị đóng đinh cùng một lần. Nghiên cứu cho rằng đã có nhiều hình thức cho việc này:

Cây đang đứng: Phạm nhân đơn giản là bị cột lên trên cái cây, theo như hình dạng mà nhánh cây có sẵn. Giô-sép, nhà lịch sử học người Do Thái ở thế kỷ thứ nhất, ghi lại rằng quân lính Rô-ma tiêu khiển họ bằng cách đóng đinh nạn nhân ở các tư thế không bình thường.

Hình chữ I: Một cây thẳng đơn giản cắm xuống đất. Hai tay được đóng đinh ở phía trên đầu.

Hình chữ X: Cụ thể là hai cây được đóng lại với nhau theo một góc ở giữa. Thân thể của nạn nhân dang rộng ra về phía bốn góc, hai tay và hai chân được đóng vào bốn góc.

Hình chữ T: Một cây dài với một cây ngắn nằm ngang ở phía trên. Hình thức này có lẽ là hình thức thông thường nhất, gần với kiểu cây. Hai tay dang rộng ra trên cây nằm ngang.

Hình chữ t: thường dành riêng cho những tội phạm nổi danh. Một tấm giấy mô tả tội của người đó sẽ được đính lên ở phía trên của thập từ. Loại này là loại mà Chúa Giê-xu chịu đóng đinh. Phạm nhân thường bị dang ra hoàn toàn trần truồng. Hai tay và chân được giữ bằng đinh đóng xuyên qua cổ tay và xương cổ chân. 1000 năm trước đó, Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Vua Đa-vít viết về một bài Thi Thiên hoàn toàn về cách mà Chúa Giê-xu sẽ chịu chết.

Trong đó, Đa-vít tường thuật lại lời Đức Chúa Trời phán rằng… Chúng cắn xé tay và chân tôi. Tôi có thể đếm được các xương cốt tôi; mọi người nhìn chăm vào tôi. Thi-thiên 22: 16-17 (BPT)

Điều này đã được viết từ rất lâu trước khi người Rô-ma đã đến để nắm quyền, và khoảng 800 năm trước khi người Rô-ma tiếp nhận việc đóng đinh là một trong những phương thức chính thức của hình phạt tử hình. Cho đến ngày hôm nay hình phạt đóng đinh được xem là một trong những hình phạt độc ác nhất. Chết chậm chậm. Thỉnh thoảng mất nhiều ngày. Cuối cùng thì người đó chết vì bị ngạt thở. Bị treo lên với cánh tay dang rộng ra, áp lực lên cơ hoành khiến cho người đó không thể thở được. Người đó chỉ có thể thở vào bằng cách tự nâng mình lên, bằng cách nâng tay và đẩy chân lên để cho cơ hoành có thể hoạt động. Tất nhiên, việc kéo lên và đẩy lên này được thực hiện ngược lại với sự kéo lại đau đớn bởi những đinh đóng. Sự chết xảy ra khi sự kiệt sức và cú sốc khiến cho người đó không thể nào nâng nổi cơ thể mình lên để thở nữa. Các đinh đóng và sự tra tấn ngạt thở không chỉ là điều duy nhất đang đến sự đau đớn. Người đó cũng chịu khát và trần truồng. Nhiều người đến để nhìn và trong trường hợp của Chúa Giê-xu, họ phỉ báng.

Phi-lát viết một tấm bảng treo trên thập giá, bảng đề: giê-xu người na-xa-rét, vua dân do-thái.  Bảng ấy viết bằng tiếng Do-thái, La tinh, và Hi-lạp. Có nhiều người Do-thái đọc thấy vì nơi Chúa Giê-xu bị đóng đinh không xa thành phố bao nhiêu. Giăng 19: 19-20 (BPT) Sau khi bọn lính đã đóng đinh Chúa Giê-xu, chúng lấy áo xống Ngài và chia làm bốn phần, mỗi tên lính lấy một phần. Chúng cũng lấy áo dài của Ngài, áo đó không có đường may vì dệt bằng một tấm vải nguyên, từ trên xuống dưới. Chúng bàn nhau, “Đừng xé áo nầy ra mà hãy bắt thăm, ai trúng nấy được.” Như thế để thực hiện lời Thánh Kinh viết: “Chúng chia áo xống ta, và bắt thăm áo dài ta.” Đó là việc bọn lính làm. Giăng 19: 23-24 (BPT)

Việc bắt thăm là một sự sao lãng từ một nhiệm vụ đẫm máu. Khi các lính ngồi ở dưới thập giá của Chúa Giê-xu, có lẽ đang lăn xúc xắc trong cái mũ, họ không cách nào biết rằng họ đang làm trọn lời tiên tri thuở xưa.

“Đừng xé áo nầy ra mà hãy bắt thăm, ai trúng nấy được.” Như thế để thực hiện lời Thánh Kinh viết: “Chúng chia áo xống ta, và bắt thăm áo dài ta.” Đó là việc bọn lính làm.                                    Giăng 19: 24 so sánh với Thi Thiên 22:8 (BPT)

Dân chúng thì đứng nhìn. Các nhà lãnh đạo chế giễu Ngài bảo rằng, “Hắn đã cứu kẻ khác. Hắn hãy cứu mình đi nếu quả thực hắn ta là Người Được Chọn của Thượng Đế, là Đấng Cứu Thế.”  Lu-ca 23:35 (BPT)

Mười thế kỷ trước, Vua Đa-vít đã tiên đoán viết rằng Đấng Giải Cứu Giáo Ước sẽ bị phỉ báng.

Nhưng tôi là loài sâu bọ chứ không phải con người. Ai cũng khinh chê và ganh ghét tôi. Ai thấy tôi đều chê cười. Chúng trề môi, lắc đầu. Thi Thiên 22: 6-7 (BPT)

Thậm chí những lời chế giễu cũng được ghi lại bởi Đa-vít.

Chúng giễu, “Hãy kêu CHÚA cứu giúp đi. Có thể Ngài sẽ cứu ngươi. Nếu Ngài thích ngươi, Ngài sẽ giải cứu ngươi!” Thi Thiên 22:8 (BPT) Bọn lính cũng chế giễu Ngài rồi lại gần cho Ngài uống giấm.  Chúng thách, “Nếu ông là vua dân Do-thái hãy tự cứu mình đi!” Một trong hai tên tù đang bị treo trên thập tự giá cũng bắt đầu sỉ nhục Ngài: “Anh là Đấng Cứu Thế à? Hãy tự cứu mình đi và cứu chúng ta nữa.” Nhưng tên kia mắng hắn, “Mầy phải kính sợ Thượng Đế! Mầy cũng bị hình phạt giống như người nầy. Chúng ta bị trừng phạt xứng đáng với tội phạm của chúng ta, chứ còn người nầy chẳng có làm điều gì quấy.” Rồi anh ta xin, “Chúa Giê-xu ơi, khi Ngài vào trong nước mình xin nhớ đến con.” Chúa Giê-xu bảo anh ta, “Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở với ta trong thiên đàng.” Lu-ca 23: 36-37, 39-43 (BPT)

Chúa Giê-xu đảm bảo rằng ngay sau khi cả hai chết đi, linh hồn của họ sẽ gặp nhau lại Paradise. Chúa Giê-xu có thể nói điều này bởi vì họ đã biết rằng người đàn ông này tin cậy nơi Ngài để giải cứu ông khỏi những hậu quả của tội lỗi- từ hình phạt đời đời.   

Lúc ấy khoảng giữa trưa, cả xứ bỗng trở nên tối mịt cho đến ba giờ chiều…                                                               Lu-ca 23:44 (BPT)

Đến ba giờ chiều Chúa Giê-xu kêu lớn, “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bách-tha-ni.” Nghĩa là, “Thượng Đế của tôi ơi, Thượng Đế của tôi ơi, sao Ngài bỏ tôi?” Mác 15:34 (BPT)

Một lần nữa, một ngàn năm trước đó, vua Đa-vít đã viết về Đấng Mê-si-a sẽ nói những lời đó.

“Thượng Đế của tôi ơi, Thượng Đế của tôi ơi, sao Ngài bỏ tôi?” Giăng 22: 1 (BPT)

Không phải là không có lý do mà Chúa Giê-xu kêu lớn điều này ra. Chúng ta sẽ nhìn xem ý nghĩa của nó trong một chương tiếp theo. Điều đáng chú ý đến những giây phút cuối cùng của Chúa Giê-xu trên thập tự giá không thể được nhấn mạnh đủ. Kinh Thánh viết…

Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn, “Cha ơi, con giao sinh mạng trong tay Cha.” Nói xong Ngài tắt thở.     Sau khi Chúa Giê-xu nếm giấm liền nói, “Sứ mạng đã xong!” Rồi Ngài gục đầu xuống và tắt hơi. Lu-ca 23: 46 và Giăng 19:30 (BPT)   

         Cái màn trong đền thờ bị xé toạc làm đôi từ trên xuống dưới. Mác 15: 38 (BPT)

Chúa Giê-xu đã chết. Việc này không khó để tưởng tượng cả vương quốc độc ác đang rất ngất ngây. Sa-tan và các quỉ của nó đã thành công vượt qua các ước mơ điên cuồng của chúng. Từ góc nhìn của chúng, chúng đã giết chết Đức Chúa Trời. Đấng Giải Cứu Giao Ước đã chết! Nhưng có hai điều không tốt lắm với Sa-ran. Tại sao bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai- từ trên xuống dưới? Và tại sao Chúa Giê-xu kêu lớn lên “Sứ mạng đã xong!” với sự mãnh liệt như vậy? Bức Màn Bị Xé Làm Hai Hãy nhớ rằng, Đền Thờ là một bản sao cố định của một Đền Thờ Gốc. Bức màn chia cắt Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Đó không phải là một vấn đề nhỏ khi bức màn này bị xé làm hai. Đầu tiên, Kinh Thánh nói rằng bức màn che chắn Nơi Chí Thánh khỏi tầm nhìn của con người. Để có thể nhìn vào phía trong bức màn thì sẽ bị chết. Đức Chúa Trời đã nói với Môi-se nhiều thế kỷ trước rồi…

“Hãy bảo anh ngươi là A-rôn rằng không bao giờ được phép đi ra sau bức màn để vào Nơi Chí Thánh, tức nơi để Rương Giao Ước. Nếu người đi vào đó trong khi ta hiện ra trong đám mây phủ trên nắp Rương, người sẽ chết.       Lê-vi 16:2 (BPT)

Điều thứ hai, để xé bức màn bằng bất cứ cách nào cũng là một nhiệm vụ vĩ đại. Kinh Thánh nói rằng bức màn cao tới mười tám mét và rộng 9 mét, độ dày cỡ bằng bàn tay của một người- khoảng 10 cm. Điều thứ ba, để có thể xé bức màn ra từ phía trên xuống chỉ có thể có nghĩa một điều: Đức Chúa Trời đã xé bức màn, chứ không phải là con người. Theo sự dự đoán của người Do Thái, Chúa Giê-xu chết vào giờ thứ chín, có nghĩa là vào lúc 3 giờ chiều. Đền thờ phải có đầy những thầy tế lễ đang thực hiện các nghi thức thánh lễ. Đây cũng là lúc để dâng của lễ vào buổi tối, một chiên con đã bị giết chết. Đó cũng là một ngày Lễ Vượt Qua. Tin tức về bức màn bị xé đã không thể che đậy được. Có quá nhiều người có mặt ở đó, và sự kiện quá loạng choạng để có thể quên được. Sự đáng kể của cả sự kiện này sẽ được giải thích sớm thôi.

“Sứ mạng đã hoàn thành!”

Cụm từ “Sứ mạng đã hoàn thành” được dịch ra từ một từ Hy Lạp duy nhất tetelestai. Tetelestai có rất nhiều cách dùng khác nhau, nhưng ba cách dùng sau đây có ý nghĩa lớn trong cấu chuyện.

    1. Tetelestai được dùng bởi một người hầu việc tường thuật lại cho chủ của mình về việc hoàn thành một nhiệm vụ: “ Công việc Chủ đưa cho tôi đã được hoàn thành!”.
    2. Tetelestai cũng là một thuật ngữ quen thuộc trong cuộc sống công nghiệp Hy Lạp. Điều này đóng dấu một sự hoàn tất của một sự giao dịch khi một khoản nợ đã được trả hoàn toàn. Khi khoản nợ cuối cùng được trả, một người có thể nói “Tetelestai” có nghĩa là, “Nợ đã được trả hết”. Các hóa đơn xưa cho các khoản thuế được tìm thấy với Tetelestai – đã trả hết- được viết dọc qua chúng.
    3. Sự chọn lựa một con chiên để làm sinh tế trong đền thờ luôn là thời điểm quan trọng. Bầy sẽ được tìm kiếm để tìm một con chiên không hư vết, một người có thể nói với một giọng lớn là “Việc đã hoàn thành!”.

Điều đáng chú ý đó là sỹ quan, một người chỉ huy khoảng 100 binh sỹ, người ngay lập tức bình luận về tiếng khóc của Chúa Giê-xu. Chắc chắn ông, một người trong quân đội, đã biết được sự khác biệt giữa một việc thở hổn hển thất bại và một tiếng kêu hô của sự thành công.

Hôm ấy là Ngày Chuẩn bị, và hôm sau là ngày Sa-bát đặc biệt. Các người Do-thái không muốn để xác chết còn trên cây thập tự trong ngày Sa-bát, nên họ xin Phi-lát ra lệnh đánh gãy chân những người bị đóng đinh để mang xác xuống.

Giăng 19:31 (BPT)

Đập gãy chân

Đó là vào tuần Lễ Vượt Qua và ngày hôm nay là đỉnh điểm, là khi con chiên bị giết đi. Thầy tế lễ cả Thượng Phẩm muốn công việc đóng đinh này xong và hoàn thành, để mà không gây ảnh hưởng xấu đến lễ tiệc. Họ muốn chân của Chúa Giê-xu bị đập gãy. Điều này có nghĩa là một người bị đóng đinh sẽ không thể nào nâng mình lên để thở nữa, dẫn đến việc bị ngạt thở nhanh chóng, trừ khi cơn sốc về những xương gãy giết chết người đó trước.

Vì thế bọn lính đến đánh gãy chân người thứ nhất rồi người thứ nhì là hai người bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giê-xu.  Nhưng khi họ đến nơi Chúa Giê-xu thì thấy Ngài đã chết nên không đánh gãy chân Ngài.  Tuy nhiên có một tên lính phóng cây giáo đâm qua hông Ngài thì máu và nước liền tuôn ra. Người chứng kiến chuyện nầy là người kể lại cho chúng ta và điều gì người kể là thật. Người biết mình nói thật và thuật lại để các ngươi tin.  Những sự việc nầy xảy ra để hoàn thành lời Thánh Kinh: “Sẽ không có một cái xương nào của Ngài bị gãy.” Và cũng có lời Thánh Kinh nữa viết, “Họ sẽ nhìn thấy người mà họ đã đâm.”        

Giăng 19: 32-37 (BPT)    

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *