13. Trận Đại Hồng Thủy

Rất nhiều người xem Kinh Thánh như là một diễn biến liên tục của các phép lạ. Thực ra, phép lạ chủ yếu là điều ngoại lệ. Nhiều thế kỷ trôi qua trước khi bất cứ điều làm rung chuyển thế giới nào xảy ra. Vào thời điểm này trong câu chuyện của chúng ta, Kinh Thánh thuật lại rằng không ít hơn mười thế hệ trôi qua trước khi sự kiện lớn tiếp theo được mở ra trong lịch sử thế giới. Mỗi một thế hệ trong các thế hệ đó đại diện cho một mức tuổi thọ cao trong suốt thời gian dân số thế giới phát triển cách đáng kể.

Hàng trăm năm trôi qua, nhưng Đức Chúa Trời đã không quên được lời hứa của Ngài trong việc gửi đến một Đấng Giải Cứu Đã Hứa. Mỗi thế hệ có những người tin cậy Chúa. Mặc dầu dân số của thế giới tăng vọt lên, số lượng người tin Chúa không tăng lên với tốc đọ như vậy. Kinh Thánh tường thuật rằng chỉ một số trong tất cả quay lưng lại với Ngài.

Bạo Lực

Loài người đã không chỉ từ chối Đức Chúa Trời nhưng còn có ý định theo Satan với tất cả những người mà có thể tập hợp được. Kinh Thánh nói:

Bấy giờ CHÚA thấy tội ác của loài người quá nhiều trên mặt đất. Lòng người nào cũng mải mê toan tính những chuyện xấu xa tội lỗi.

Khi ấy thế giới đã trở nên băng hoại trước mặt Ðức Chúa Trời, và mặt đất đầy dẫy những bạo ngược. Ðức Chúa Trời nhìn vào thế giới, này, nó đã băng hoại quá mức, và đường lối của mọi loài xác thịt đều sa đọa trên mặt đất.

                                                                                                                       Sáng Thế Ký 6: 5, 11-12

Nếu chúng ta suy xét một số quốc gia trên thế giới mà tin tức hằng ngày chiếm đầy cả màn hình Tivi với các bài tường thuật về tình trạng hỗn loạn, chiến tranh, bạo lực và hiếp dâm, thì chúng ta có thể hiểu được nó như thế nào. Kinh Thánh nói rằng suy nghĩ của con người thì liên tục chứa đầy tội lỗi. Sự đồi bại và lộn xộn ngự trị. Thế giới đã trở nên một nơi đầy chết chóc để sống.

Sống cho Bản Thân

Thêm vào đó, Kinh Thánh tuyên bố rằng xã hội ngày đó chú trọng bào việc sống cho bản thân. 2

Điều Đức Chúa Trời đã nói không còn quan trọng nữa. Con người đã khinh bỉ kế hoạch của Chúa và đã tạo nên một triết lý của cuộc sống mà không bao gồm bất kỳ niềm mong mỏi gì trong việc tìm kiếm Ngài. Con người thậm chí không cố gắng để hàn gắn khoảng cách.

Mặc dầu sự công chính đã ở rất xa khỏi tâm trí của con người, tội lỗi là một vấn đề khác.

Vì dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; ngược lại, đầu óc họ cứ suy luận viển vông, tâm trí điên rồ của họ đã trở nên u tối. Họ cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên điên dại. Họ đã đánh đổi vinh hiển của Ðức Chúa Trời không hề hư nát cho những hình tượng của con người hay hư nát, hoặc chim chóc, súc vật, và rắn rết.

Vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, để họ sa vào những ô uế, làm nhục thân thể của nhau. Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối; họ thờ phượng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng đáng được ca ngợi đời đời. A-men.

 Chính vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Ngay cả phụ nữ của họ cũng đã đổi cách chung đụng xác thịt tự nhiên để theo cách phản tự nhiên. Tương tự, đàn ông cũng đã bỏ cách chung đụng xác thịt tự nhiên với đàn bà mà un đốt sự thèm khát nhục dục với nhau; đàn ông làm những chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải chuốc lấy hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.

Vì họ không coi sự nhận biết Ðức Chúa Trời là trọng, nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại, để làm những điều không nên làm. Lòng họ đầy mọi thứ bất chính, gian ác, tham lam, và hiểm độc. Họ đầy sự ganh tị, giết người, gây gổ, lừa đảo, và xảo quyệt. Họ nói hành, vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, giỏi tạo ra điều ác, không vâng lời cha mẹ, không chút lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương.

Dù họ đã biết rõ luật của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết, thế mà không những chính họ đã làm những điều ấy, họ còn cổ võ những người khác cùng làm những điều ấy nữa.

Rô-ma 1: 21-32

Kinh Thánh nói rằng vào thời điểm ấy trong lịch sử, con người đã phó linh hồn mình cho tội lỗi. Nhưng như chúng ta đã thấy trước đây, tội lỗi có các kết cục của nó. Nó luôn luôn là như vậy. Giống như là đi ngược lại với luật hút của trái đất sẽ dẫn đến các chỗ bầm tím và gãy xương, như vậy bỏ qua lời Chúa có các hậu quả. Chúa không thể bỏ qua tội lỗi. Kinh Thánh nói là Đức Chúa Trời cảm thấy đau buồn về tất cả điều đó.

           Vì thế CHÚA phán, “Ta sẽ xóa sạch loài người Ta đã dựng nên khỏi mặt đất …”

Sáng Thế Ký 6:7

Con người có thể có một triết lý của cuộc sống mà không có Chúa, nhưng Chúa vẫn phải chịu trách nhiệm cho các hành vi của con người.

Nô-ê

Tuy nhiên, một người và gia đình của người đó thì khác nhau. Kinh Thánh nói rằng…

Nhưng Nô-ê lại được ơn trước mặt CHÚA…. Nô-ê là một người công chính; so với những người đồng thời với ông, ông là một người trọn vẹn. Nô-ê bước đi với Ðức Chúa Trời.

Sáng Thế Ký 6: 8-9

Mặc dầu Nô-ê là một người sống tốt, Kinh Thánh vẫn bày tỏ rất rõ ràng là ông vẫn là một tội nhân. Theo như luật về tội lỗi và sự chết, Nô-ê phải chết vì tội của mình. Nhưng Kinh Thánh cũng ám chỉ rằng Nô-ê mang đến một của lễ bằng một con vật để dâng lên cho Chúa, chứng tỏ rằng ông nhận ra nhu cầu của việc có một con vật vô tội thay thế để trả thay hình phạt chết cho ông. Nô-ê tin rằng Đức Chúa Trời sẽ bằng cách nào đó cứu ông khỏi những hậu quả của sự chết. Kinh Thánh nói điều đó bởi vì Nô-ê đã tin cậy nơi Chúa, Đức Chúa Trời xem ông là một người công chính. Nô-ê có một mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời, như được bày tỏ bởi lời, “…ông bước đi với Chúa.”

Ðức Chúa Trời phán với Nô-ê, “Ta quyết định xóa sạch mọi loài xác thịt, vì do chúng mà đất đã dẫy đầy bạo ngược. Nầy, Ta sẽ xóa sạch chúng cùng với những gì trên mặt đất. Hãy đóng cho ngươi một chiếc tàu bằng gỗ trét nhựa chai. Hãy đóng chiếc tàu có nhiều phòng, rồi lấy nhựa đen trét cả trong lẫn ngoài.                                                                                                    Sáng Thế Ký 6: 13-14

Cách Để Thoát Ra

Đức Chúa Trời bảo Nô-ê xây một cái tàu. Đây không phải là thuyền có mái chèo. Nó là một cái tàu lớn, giống như loại tàu chuyên chở đại dương hiện đại. Nó có nhiều khoang, một hệ thống thông khí được xây dựng bên trong và một cái cửa- chỉ một cửa. Chiếc tàu này được xây dựng bằng gỗ và bao bọc bởi một lớp nhựa đen, một cách phổ biến để dán tàu trong quá khứ. 4 Con tàu này vẫn là một con tàu lớn nhất từng được xây dựng cho đến kích cỡ và tỷ lệ đã là gần gấp đôi so với tàu Vương Quốc Anh vào năm 1844. Số đo của tàu vẫn được xem là lý tưởng cho các tàu lớn ổn định khác. Nó không được xây dựng về tốc độ, chỉ là để bảo tồn sự sống. Đức Chúa Trời bảo với Nô-ê:

Còn Ta, Ta sẽ đem nước lụt đến phủ trên mặt đất, để xóa sạch mọi loài xác thịt có hơi thở ở dưới trời; rồi mọi loài trên mặt đất sẽ chết hết. Nhưng Ta sẽ lập một giao ước với ngươi. Ngươi sẽ vào tàu – ngươi, các con trai ngươi, vợ ngươi, và vợ của các con trai ngươi. Ngươi sẽ mang vào tàu các sinh vật của mọi loài xác thịt, mỗi thứ một cặp, để giữ chúng được sống còn với ngươi; mỗi thứ phải có một con đực và một con cái. Các chim trời tùy theo loại, các súc vật tùy theo loại, các sinh vật bò sát mặt đất tùy theo loại, mỗi thứ hai con sẽ đến với ngươi, để ngươi giữ chúng được sống còn. Ngươi cũng hãy đem theo với ngươi mọi thứ có thể ăn được, để dùng làm thực phẩm. Hãy tích trữ chúng trong tàu. Những thứ ấy sẽ được dùng làm thực phẩm cho.  Nô-ê làm y như vậy…                                                                                          Sáng Thế Ký 6: 17-22

Sự Vâng Lời

Bởi vì Nô-ê tin cậy nơi Chúa, ông vâng lời Ngài. Điều đó vẫn không khiến cho các sự hướng dẫn của Chúa trở nên dễ thực hiện hơn. Nô-ê không bao giờ đóng một chiếc tàu trước đây, đặc biệt là với kích cỡ này. Và làm sao ông có thể giải thích khái niệm về trận đại hồng thủy thế giới cho các người hàng xóm của ông?

Chúa đã bảo cho ông biết 120 năm trước khi trận lụt xảy ra. 5 Trong thời gian này Nô-ê không chỉ giám sát cấu trúc của con tàu, nhưng ông cũng khuyến cáo mọi người lắng nghe rằng sự xét đoán sẽ đến. 6

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng trước cơn Lũ Lụt con người sống tới hàng trăm năm. Có nhiều lý thuyết giải thích vì sao nó lại như vậy, nhưng không có lý do nào được đưa ra trong Kinh Thánh.

Nó được phát biểu đơn giản là một sự thật. Suy xét về một thời gian dài mà con người sống, 120 năm để xây dựng một con tàu đã là vượt quá tuổi thọ tối đa bình thường của con người. Sau Trận Lụt, tuổi thọ cao nhất bị giảm xuống đáng kể nên một người sống đến 90 tuổi được cho là già.

Có nhiều quyển sách xuất sắc viết về Trận Lụt nói đến tác động nó mang đến với khí hậu và địa lý của thế giới. Những quyển sách này đưa ra những thuyết dựa trên tường thuật trong Kinh Thánh và các quan sát Khoa Học. Với những nguồn thông tin chi tiết có sẵn như vậy, tôi không cố gắng để sao chép lặp lại chúng. Tuy nhiên, trong những trang tiếp theo tôi sẽ ngụ ý ngắn gọn đến một vài trong số các thuyết đó, với hy vọng rằng chúng sẽ giúp bạn hiểu mà không bị sa lầy.

Bấy giờ CHÚA truyền cho Nô-ê, “Ngươi hãy vào tàu, ngươi và mọi người trong gia đình ngươi, vì Ta thấy rằng giữa thế hệ nầy chỉ có ngươi là ngay lành trước mặt Ta.

Sáng Thế Ký 7:1

Nô-ê làm theo mọi điều CHÚA đã truyền cho ông.

Sáng Thế Ký 7:5

Trong chính ngày ấy, Nô-ê cùng các con trai ông là Sem, Cham, và Gia-phết, vợ của Nô-ê, và ba người vợ của các con trai ông vào trong tàu.

Họ và mọi thứ thú rừng tùy theo loại, mọi thứ gia súc tùy theo loại, mọi thứ sinh vật bò sát mặt đất tùy theo loại, mọi thứ chim trời tùy theo loại, tức mọi thứ chim và mọi loài vật có cánh. Mọi loài xác thịt có sinh khí đều vào trong tàu với Nô-ê, từng đôi từng cặp. Sau khi tất cả sinh vật của mọi loài xác thịt, có đực có cái, đã vào trong tàu, theo như Ðức Chúa Trời đã truyền cho Nô-ê,  CHÚA đóng cửa tàu lại, để ông ở bên trong.

Sáng Thế Ký 7: 13-16

Một Cánh Cửa

Con tàu mất bảy ngày để đưa tất cả vào. Với một vài sự ngoại lệ, Nô-ê chỉ mang một đôi của các loại vào tàu. Thậm chí cho phép những loại bị tuyệt chủng, con tàu có đầy đủ chỗ để chứa tất cả chúng nó, với các loại động vật chỉ chiếm khoảng 60% của chiếc tàu. Những phần còn tại của tàu có lẽ là chở theo thức ăn. Mang theo những động vật con của loại động vật lớn cũng là một cách để tiết kiệm diện tích. Để tiêt kiệm về mặt thức ăn, một số có thể ngủ đông. Tất nhiên, Đức Chúa Trời có thể giữ chúng bằng bất cứ cách nào mà Ngài muốn.

Sauk hi việc đưa lên tàu hoàn thành, Chúa đóng chúng lại. Khi sự phán xét đến và mực nước bắt đầu dâng lên, không có việc gõ đập vào tàu nào mà có thể làm lay chuyển Nô-ê để mở cửa. Nô-ê và gia đình của ông không cần phải lo sợ rằng cánh cửa có thể bị bật mở ra trong cơn đại hồng thủy. Ông phải đóng ở trong những người tin và ở ngoài là những người nổi loạn.

Chúa nhân từ. Ngài đã cho loài người 120 năm để quay lại từ cách sống tội lỗi của họ và sử dụng lợi ích từ sự nhân từ Ngài. Bây giờ thời gian của họ đã kết thúc. Sự phán xét đã đến, y như Đức Chúa Trời đã tiên báo. Con người đôi khi dọa nhưng không làm, nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn giữ lời Ngài.

Vào ngày mười bảy, tháng Hai, năm sáu trăm của đời Nô-ê, trong chính ngày ấy, mọi nguồn nước của các đại vực thẳm vỡ tung, các cửa sổ trên trời mở toang. Mưa tuôn đổ xuống đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.

Các Nguồn Nước Và Cửa

Các phim hoạt hình đã vẽ nên một ông già trên một chiếc tàu nhỏ, bao quanh bởi các động vật, tất cả đều bị ướt đến tận da bởi những trận mưa. Những cố gắng đó mô tả câu chuyện với rất nhiều lỗi. Bạn sẽ phải bị điên-và chết- nếu phải ở ngoài trong một trận lũ lụt văng ra từ đất.

Đầu tiên, trái đất rạn nứt, đẩy lên một lượng nước ngầm lớn. Kinh Thánh nói về các nguồn nước từ những đại vực sâu thẳm vỡ tung. Điều này theo lý thuyết là nước ở dưới ngầm chịu áp lực rất lớn sẽ vỡ tung lên đến tận trời. Sau đó, cùng với những nguồn nước khác ở trong không trung, đổ xuống như các cửa sổ trên trời mở toang. Sự nạn nứt của lớp vỏ hành tinh như vậy phải có sự hoạt động to lớn của núi lửa. Có thể đó là lúc mà cả quá trình được biết đến là trôi dạt lục địa xảy ra. Sử dụng các siêu máy tính, một trong những nhà nghiên cứu dẫn đầu thế giới trong câú trúc kiến tạo đã mô tả trong 3D cả quá trình trôi dạt luch địa xảy ra trong vòng một vài tháng. Vì các vết nứt làm mở toạt lớp vỏ trái đất, nhiều phiến đá khổng lồ trên bề mặt đã bị dồn sâu vào bên trong của trái đất, tái tạo lại mặt biển và các thềm lục địa.

Từ Hê-bơ-rơ để mô tả sự kiện này là Thảm họa Đại Hồng Thủy. Trong Kinh Thánh, từ này chỉ được dùng để mô tả trận lụt này. Không có trận lụt nước nào khác từng đạt đến gần mức độ đó. Mặc dầu có nhiều thứ đã xảy ra trong thảm họa này có thể được giải thích bởi khoa học tự nhiên, chúng ta phải nhớ rằng một Đức Chúa Trời toàn quyền có thể tạo ra các điều kiện cho Trận Lụt và mang đến những hậu quả của thảm họa này mà không bị giới hạn điều gì.

Cơn mưa kéo dài trong vòng 40 ngày, nhưng theo như sự tường thuật dường như nước tiếp tục văng ra từ những mạch ngầm trong vòng 150 ngày.

 Nước lụt tuôn đổ liên tục bốn mươi ngày trên đất. Mặt nước dâng cao, nâng chiếc tàu lên, khiến tàu nổi cao trên mặt đất. Mặt nước cứ tiếp tục dâng cao và gia tăng nhiều vô kể trên đất. Chiếc tàu nổi bồng bềnh trên mặt nước. Nước cứ tiếp tục dâng cao khủng khiếp trên đất, đến nỗi tất cả các ngọn núi cao ở dưới trời đều bị nước phủ ngập.

Sáng Thế Ký 7: 17-19

Tất cả loài vật sống trên cạn và có sinh khí trong lỗ mũi đều chết hết. Ngài xóa sạch mọi sinh vật trên mặt đất, từ loài người đến thú vật, từ loài bò sát đến các giống chim bay trên trời. Chúng thảy đều bị xóa sạch khỏi mặt đất, chỉ còn lại Nô-ê cùng những người và những thú vật ở trong tàu với ông.

Sáng Thế Ký 7: 22-23                                                                          

Ðức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê, cùng mọi thú rừng, và mọi gia súc đang ở trong tàu với ông. Ðức Chúa Trời khiến một trận gió thổi qua mặt đất, nước bèn hạ xuống. Các nguồn vực thẳm và các cửa sổ trên trời đóng lại; mưa từ trời tạnh hẳn. Nước từ từ rút khỏi mặt đất. Sau một trăm năm mươi ngày, nước hạ xuống.

Sáng Thế Ký 8: 1-3

Trước trận lụt các núi được cho rằng không cao như chúng bây giờ. Ngày nay, nếu chúng ta có thể lấy bề mặt của trái đất và làm phẳng nó, mực nước có thể bao phủ trái đất khoảng tầm 2 dặm (3 km). Kinh Thánh nói rằng sau Trận Lụt, các núi chúng ta thấy ngày hôm nay nhô lên và các thung lũng sụp xuống, cho rằng hình hành các nền đại dương.

Ngài đặt các nguồn nước cao hơn các đỉnh núi.  Mỗi khi Ngài quở trách, chúng thất kinh chạy trốn; Núi đồi trồi lên, thung lũng sụp xuống, Ðúng vào những nơi Ngài đã định cho chúng. Ngài đã định những giới hạn để nước không thể vượt qua, Hầu không tràn vào mà phủ ngập mặt đất.

Thi Thiên 104: 6-9

Arc on WaterMột Hành Tinh Khác

Nô-ê và gia đình của ông ở trong chiếc tầu trong vòng 371 ngày trước khi Đức Chúa Trời mở cửa tàu và để cho họ ra ngoài. Từ rất lâu trước đó, các nguồn nước đã rút đi, và chiếc tàu đã đậu tại một vùng núi. Khi họ rời khỏi chiếc tàu, mặt đất không chỉ khô nhưng đã sinh sôi lại. Đó là một hành tinh rất khác so với trước đây. Đó là trái đất mà chúng ta hiện giờ đang sống.

Ðức Chúa Trời phán với Nô-ê, “Ngươi hãy ra khỏi tàu – ngươi, vợ ngươi, các con trai ngươi, và vợ của các con trai ngươi. Hãy đem ra với ngươi mọi sinh vật của mọi loài xác thịt đã ở với ngươi, nào chim chóc, thú vật, và mọi loài bò sát mặt đất, để chúng gia tăng đông đúc trên đất. Chúng phải sinh sôi nảy nở thêm nhiều trên đất.”

Vậy Nô-ê cùng các con trai ông, vợ ông, và vợ của các con trai ông ra khỏi tàu.

Bấy giờ Nô-ê lập một bàn thờ để thờ CHÚA, rồi ông bắt một con trong các thú vật thanh sạch và một con trong các thứ chim thanh sạch làm của lễ thiêu dâng trên bàn thờ. 21 Khi CHÚA ngửi mùi thơm…

Sáng Thế Ký 8: 15-18, 20-21

Một Lời Hứa

Điều đầu tiên mà Nô-ê làm sau khi rời tàu đó là lập một bàn thờ và dâng lên một sinh vật vô tội làm của lễ huyết cho Chúa. Của lễ này không làm xóa đi tội, nhưng nó mô tả điều cần thiết để trả hình phạt- sự đổ huyết trong sự chết. Điều này chứng minh rằng Nô-ê có sự tin cậy nơi Chúa, tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ lời Ngài, và bằng cách nào đó cứu ông và gia đình ông ra khỏi hậu quả của tội lỗi. Chúa lấy làm hài lòng.

Ðức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê và các con trai ông. Ngài phán với họ, “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều và làm đầy khắp đất.

Sáng Thế Ký 9:1

Ta lập giao ước Ta với các ngươi: Ta sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi loài xác thịt bằng nước lụt nữa và sẽ không bao giờ có một trận đại hồng thủy để hủy diệt trái đất nữa.”

Sáng Thế Ký 9:11

Và Đức Chúa Trời phán, ““Bây giờ ta lập ước với con và con cháu của con…Ta đặt cái mống trên các đám mây để làm dấu hiệu giữa ta và địa cầu”

Sáng Thế Ký 9: 9, 11-13.

Đức Chúa Trời hứa là sẽ không bao giờ hủy diệt thế giới bằng nước một lần nữa. Mỗi khi trời mưa, cầu vòng sẽ là một sự nhắc nhở về lời hứa đó. Mặc dầu hàng ngàn năm trôi qua kể từ khi Trận Lụt xảy ra, Đức Chúa Trời vẫn giữ lời hứa của Ngài. Các con của Nô-ê đi ra khỏi tàu đó là Sem, Cham và Gia-phết. Họ là ba người con của Nô-ê, và từ họ tất cả con người được tản lạc ra ở khắp đất.                                                                                                                      Sáng Thế Ký 9: 18-19

Loài người nào lại có một bắt đầu mới. Nô-ê sống được tới 950 năm và sau đó ông chết.

Sáng Thế Ký 9:29

Còn về Khủng Long, Hóa Thạch, Than và Dầu?

Chúng ta không thể tìm thấy từ Khủng Long ở trong Kinh Thánh- từ này có gần đây thôi, được sáng tạo nên vào năm 1841 bởi một nhà phân tích Tiếng Anh. Tuy nhiên, những quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh có ghi lại một số thông tin liên quan đến các con vật mà không có trong thời điểm hiện tại. Hai loại động vật lớn được đề cập đến có một sự giống nhau ngầm với các hóa thạch được lưu lại.

Từ những điều mà Kinh Thánh nói, người ta chỉ có thể cho rằng khủng long được tạo ra bởi Đức Chúa Trời và sống với con người từ lúc ban đầu. Khủng Long là một loại bò sát, hầu hết chúng đều phát triển trong suốt quá trình sống. Nếu chúng đã có một tuổi thọ tối đa cao như con người đã có lúc trước khi Trận Lụt xảy ra, nó có thể trở nên một kích cỡ lớn mà một số đã đạt đến.

Kinh Thánh ngụ ý rằng hai động vật của các loài được mang vào tàu. Cũng có thể hiểu được rằng chỉ những động vật con được mang vào, không chỉ để giảm không gian, nhưng cũng để tối đa thời gian sinh sản vào những năm sau Trận Lụt. Vì một con khủng long cỡ vừa có kích thước bằng một con ngựa con, và thậm chí những con khủng long to lớn nhất lúc mới sinh cũng không to hơn một quả bóng, các tính toán cho rằng con tàu đã có nhiều chỗ rộng cho chúng.

Lý do gì đã khiến cho chúng bị tuyệt chủng, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán. Trong một vài thập kỷ qua, có nhiều sinh vật đã trở nên tuyệt chủng trong những tình huống gần đây, rất khó để xác định chính xác nguyên nhân. Đi ngược về các thiên niên kỷ lại càng khiến nó trở nên khó hơn. Từ khi khí hậu dường như đã thay đổi đáng kể sau Trận Lụt, điều này theo lý thuyết đã khiến cho các loại động vật như vậy rất khó để tồn tại. Các điều kiện tạo nên bởi cơn Đại Hồng Thủy trả lời rất nhiều câu hỏi mà chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên. Ví dụ, lượng trầm tích lớn được tạo ra bởi Trận Lụt, trọng lượng cực mạnh của nước, sự xói mòn rất lớn- tất cả có thể đem đến lượng than, dầu và các hóa thạch mà hôm nay chúng ta tìm thấy. Rất nhiều hóa thạch đó cho thấy những bằng chứng đáng ngạc nhiên rằng chúng đã trôi dạt sang các lục địa và bị chôn vùi, thường là nằm vào trong các khu vực lớn chứa nhiều hóa thạch.

Sự tồn tạo của bất kỳ hóa thạch nào được bảo tồn tốt, như là một con cá, có nghĩa là nó bị chôn xuống cực kỳ nhanh, với những trầm tích trong bịch bị cứng đi rất nhanh chóng trước khi các động vật ăn xác thối, vi khuẩn và sự phân hủy xảy ra làm phá hủy các phần của nó. Có nhiều quyển sách kích thích suy nghĩ viết ra để thảo luận khía cạnh của Sự Sáng Tạo- Trận Lụt. Chúng đưa ra những lời giải thích lô-gíc và có suy luận về nhiều điều mà chúng ta thấy. Nếu chúng ta có những câu hỏi kèm theo, xem Phụ Lục gồm một danh sách các nguồn mà có thể mang đến cho bạn các phân tích về những vấn đề này.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *