Chương 11: Đấng Mê-si Thật Xin Hãy Đứng Lên?

Trong tất cả các dấu hiệu về Chúa Giê-xu chứng minh rằng tuyên bố của Ngài là Đấng Mê-si và Con của Đức Chúa Trời, thì một trong những điều sâu sắc nhất thường không được để ý thấy đó là cách mà cuộc sống của Ngài tràn ngập với nhiều lời tiên tri cổ xưa. Trong chương này, tôi sẽ giải thích sự thật đáng chú ý này.

Nhiều lần Chúa Giê-xu dùng những lời tiên tri Cựu Ước để chứng minh lời tuyên bố của Ngài. Ga-la-ti 4:4 nói, “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp.” Ở đây chúng ta thấy các tiên tri đã được làm trọn trong Chúa Giê-xu Christ. “Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.” (Lu-ca 24:27).

Chúa Giê-xu đã nói với họ, “Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24:44). Ông nói “Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép.” (Giăng 5:46). Ðức Chúa Giê-xu nói với họ, “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, trước khi Áp-ra-ham sinh ra, Ta đã hiện hữu.”(Giăng 8:56)

Các sứ đồ và các người viết Tân Ước cũng thường xuyên dùng những tiên tri được làm trọn để chứng minh các tuyên bố của Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Rỗi, và là Đấng Mê-si. “Nhưng nhờ thế Ðức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán qua miệng tất cả các vị tiên tri rằng Ðấng Christ do Ngài sai đến phải chịu đau khổ.” (Công vụ 3:18). Theo thói quen Phao-lô đến hội đường và liên tiếp ba ngày Sa-bát luận giải Kinh Thánh với họ. Ông giải thích và chứng minh rằng Ðấng Christ phải chịu khổ hình và phải sống lại từ cõi chết. Ông bảo, “Ðức Chúa Giê-xu nầy, Ðấng tôi rao giảng cho anh chị em, chính là Ðấng Christ.” (Công vụ các sứ đồ 17: 2-3). “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh chị em những gì chính tôi đã nhận lãnh, đó là Ðấng Christ đã chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh, Ngài đã được chôn, đến ngày thứ ba Ngài đã sống lại theo lời Kinh Thánh” (1 Cô-rinh-tô 15: 3-4).

Cựu Ước chứa sáu mươi tiên tri về Đấng Mê-si và khoảng 270 chi tiết được làm trọn trong một người, Chúa Giê-xu Christ. Việc nhìn vào những tiên đoán này là rất hữu ích được làm trọn trong Đấng Christ như Ngài “chỉ định”. Hãy để tôi giải thích. Bạn có thể không bao giờ nhận ra tầm quan trọng của tên của tên và cách người khác gọi bạn, thế nhưng những chi tiết này khiến bạn khác với hơn sáu tỷ người khác, những người sống ở trên hành tinh này.

Bạn nghĩ gì?

Bạn có nghĩ là có bất kỳ sự khác nhau nào giữa một lời tiên tri và một sự tiên đoán? Đã có điều gì từng được tiên đoán về bạn ở độ tuổi còn trẻ và trở thành hiện thực sau đó? Điều đó khác với những lời tiên tri mà Chúa Giê-xu đã làm trọn như thế nào?

Cách Xưng Hô Trong Lịch Sử

Với chi tiết cụ thể hơn, Đức Chúa Trời đã viết một cách “xưng hô” trong lịch sử để phân loại Con Ngài, Đấng Mê-si, Đấng Cứu Rỗi của con người, từ bất cứ ai đã từng sống trong lịch sử- quá khứ, hiện tại hoặc tương lai. Cụ thể về cách xưng hô này có thể được tìm thấy qua một giai đoạn lịch sử gồm nghìn năm và giai đoạn đó chứa nhiều hơn ba trăm lần nhắc đến về việc Đấng Christ đến. Sử dụng khoa học khả thi, chúng ta có thể thấy tỉ lệ của chỉ bốn mươi tám lần của những lời tiên tri này được làm trọn trong một người là chỉ là 1 trong 10 người.

Việc gọi danh xưng của Đức Chúa Trời giống với một người là phức tạp hơn bởi sự thật là tất cả những lời tiên tri về Đấng Mê-si được phán ra ít nhất là bốn trăm năm trước khi Ngài xuất hiện. Một số người cho rằng những lời tiên tri được viết xuống sau thời kỳ Đấng Christ sống, và được bịa đặt để làm giống với những sự kiện trong cuộc sống Ngài. Điều này dường như có khả quan cho đến khi bạn nhận ra rằng bản Kinh Thánh Cựu Ước Bằng Tiếng Hy Lạp từ tiếng Hê-Bơ-Rơ được dịch từ khoảng 150-200 BC. Điều này có nghĩa là có ít nhất một khoảng thời gian 100 năm trong ghi chép về các lời tiên tri và sự làm trọn của chúng trong Đấng Christ.

Rõ ràng Đức Chúa Trời viết về điều trong lịch sử mà chỉ có Đấng Mê-si mới có thể làm trọn. Gần như là bốn mươi người đã tuyên bố là Đấng Mê-si thuộc người Do Thái. Nhưng chỉ có một- Đức Chúa Giê-xu Christ- mới có thể làm trọn lời tiên tri để chứng minh cho các tuyên bố của Ngài, và chỉ có sự ủy nhiệm của Ngài mới bổ trợ cho những tuyên bố đó.

Một số các ủy nhiệm đó là gì? Và sự kiện nào đã được tiên đoán trước và trùng hợp với sự xuất hiện của Con Đức Chúa Trời?

Để bắt đầu, chúng ta phải quay lại với Sáng Thế Ký 3:15, nơi mà chúng ta có thể tìm thấy lời tiên tri đầu tiên về đấng Christ  trong Kinh Thánh: “Ta sẽ để một mối nghịch thù giữa ngươi và người nữ, Giữa dòng dõi ngươi và dòng dõi người nữ. Người sẽ giày đạp đầu ngươi, và ngươi sẽ cắn gót chân Người.” Lời tiên tri này chỉ có thể ngụ ý đến một người trong toàn bộ Kinh Thánh. Không ai khác ngoài Chúa Giê-xu được ngụ ý tới là một “dòng dõi” của một người nữ. Những bản dịch khác cũng đưa ra tuyên bố giống như vậy khi họ xác định người chiến thắng Sa-tan sẽ là dòng dõi của một người nữ, trong tất cả những ví dụ khác Kinh Thánh lưu lại thông qua dòng dõi của con người. Dòng dõi này của người nữ sẽ bước vào trong thế giới và phá hủy công việc của Sa-tan (giày đạp đầu ngươi).

Trong Sáng Thế Ký 9 và 10 Đức Chúa Trời rút gọn lại sự ám chỉ hơn. Nô-ê có ba người con: Shem, Ham và Japheth. Tất cả các quốc gia trên thế giới có thể được truy về ba người đàn ông này. Nhưng Đức Chúa Trời thực tế là đã loại ra hai phần ba loài người trên thế giới từ dòng dõi Mê-si bằng cách cụ thể hóa rằng Đấng Mê-si sẽ đến từ dòng dõi của Shem.

Sau đó tiếp tục đến năm 2000 TCN, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời gọi một người nam tên Áp-ra-ham ra khỏi U-rơ thuộc vùng Ba-by-lôn. Với Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời càng trở nên cụ thể hơn, bắt đầu rằng Đấng Mê-si sẽ trở thành một người trong các dòng dõi người. Tất cả gia đình trên thế giới sẽ được chúc phước thông qua Áp-ra-ham (xem Sáng Thế Ký 12: 1-3; 17: 1-8; 22: 15-18).

Khi ông có hai người con, Y-sác và Ích-ma-ên, nhiều người trong số dòng dõi của Áp-ra-ham bị loại ra khi Đức Chúa Trời chọn một người con thứ hai, Y-sác, để trở thành bậc tiền bối của Đấng Mê-si (xem Sáng Thế Ký 17: 19-21; 21:12).

Y-sác có hai người con, Gia-cốp và Ê-sau. Đức Chúa Trời đã chọn dòng dõi của Gia-cốp (xem Sáng Thế Ký 28: 1-4, 35: 10-12, Dân Số Ký 24: 17). Gia-cốp có mười hai người con, từ dòng dõi của những người đó phát triển lên thành mười hai bộ tộc của Y-sơ-ra-ên. Sau đó Đức Chúa Trời tách biệt ra bộ tộc Giu-đa cho dòng dõi Mê-si và loại ra mười một bộ tộc trong tổng số mười hai bộ tộc của Y-sơ-ra-ên. Và trong tất cả các dòng trong gia đình của bộ tộc Giu-đa, Ngài chọn dòng dõi của Gie-xê (xem Ê-sai 11: 1-5). Chúng ta có thể thấy rằng sự nhắm đến trở nên hẹp hơn.

Gie-xê có tám người con trai, và trong sách 2 Sa-mu-ên 7: 12-16 và Giê-rê-mi 23: 5 Đức Chúa Trời loại ra bảy trong số tám dòng dõi của gia đình Gie-xê bằng cách chọn con của Gie-xê và Đa-vít. Như vậy, về mặt dòng dõi, Đấng Mê-si phải được sinh ra bởi dòng dõi của một người nữ, dòng Shem, thuộc sắc tộc người Do Thái, dòng Y-sác, Dòng Gia-cốp, bộ tộc Giu-đa, Gia-đình của Gie-xê và nhà của Đa-vít.

Bạn nghĩ gì?

Bạn có bao giờ khám phá về tổ tiên của mình chưa? Bạn có bao giờ khám phá ra bất kỳ thông tin nào thú vị về gia đình mình chưa? Bạn có biết gì về tổ tiên của Chúa Giê-xu? Bạn thấy điều gì là thú vị nhất về tổ tiên mình?

Trong Mi-ca 5:2 Đức Chúa Trời loại ra các thành phố trong thế giới và chọn Bết-lê-hem, với dân số ít hơn một nghìn người, là nơi sinh ra của Đấng Mê-si.

Cho nên thông qua một loạt các lời tiên tri, ngài thậm chí xác định thời điểm mà sẽ khiến cho người này khác biệt. Ví dụ, Ma-la-chi 3:1 và bốn câu trong Cựu Ước khác cho rằng Đấng Mê-si phải đến trong khi Thành Giê-ru-sa-lem vẫn còn đứng vững (xem Thi Thiên 118:26; Đa-ni-ên 9:26, Xê-cha-ri 11:12; Ha-gai 2: 7-9). Đây là điều đáng chú ý khi chúng ta nhận ra rằng Thành đã được phá hủy vào năm 70 SCN và vẫn chưa được xây lại.

Ê-sai 7:14 thêm vào rằng Đấng Christ sẽ được sinh ra bởi một nữ đồng trinh. Một sự sinh con tự nhiên với sự thụ thai không tự nhiên là một điều vượt quá những gì con người lên kế hoach hoặc kiểm soát. Một số lời tiên tri được lưu lại trong Ê-sai và Thi Thiên mô tả hoàn cảnh xã hội và phản ứng mà Con của Đức Chúa Trời phải đối mặt: Người của chính Ngài, người Do Thái, sẽ từ chối Ngài, và người ngoại sẽ tin nơi Ngài (xem Thi Thiên 22: 7-8; 118:22; Ê-sai 8:14; 49:6; 50:6; 52: 13-15). Ngài sẽ có một người đi trước, một giọng nói trong sa mạc, một người sẽ chuẩn bị lối đi cho Ngài, Giăng Báp-tít (xem Ê-sai 40: 3-5; Ma-la-chi 3:1).

Hãy để ý cách mà một đoạn ở trong sách Tân Ước (Ma-thi-ơ 27: 3-10) ngụ ý đến một số lời tiên tri trong Cựu Ước khiến cho việc chỉ đến Đấng Christ ít khả năng hơn nữa. Ma-thi-ơ mô tả các sự kiện diễn ra bằng các hành động của Giu-đa sau khi ông chối bỏ Chúa Giê-xu. Ma-thi-ơ chỉ ra những sự kiện này được tiên đoán ở trong các đoạn văn từ Cựu Ước (xem Thi Thiên 41:9; Xa-ra-chi-a 12:19; Ga-la-ti 3:13). Mô tả này về cách mà Ngài chết được viết tám trăm năm trước khi người Rô-ma sử dụng việc đóng đinh là một cách để hành hình.

Gia phả chính xác, địa điểm, thời gian, và cách Ngài được sinh ra; phản ứng của những người khác, sự chối bỏ; cách Ngài chết- những điều này đơn thuần chỉ là một phần nhỏ trong hàng trăm chi tiết “hướng tới” để xác định Con của Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si, Đấng Cứu Rỗi của thế giới.

Có phải những lời tiên tri được làm trọn này chỉ là sự ngẫu nhiên?

Một nhà phê bình có thể tuyên bố, “Tại sao, bạn có thể tìm thấy một số trong những lời tiên tri này được làm trọn trong Abraham Lincoln, Anwar Sadat, John F. Kennedy, Mother Teresa, hoặc Billy Graham.”

Vâng, tôi cho rằng một người có thể tìm thấy một hoặc hai lời tiên tri trùng hợp với những người khác, nhưng không thể nào tất cả sáu mươi lời tiên tri chính và 270 chi tiết khác. Rõ ràng, qua nhiều năm, Nhà Xuất Bản Cơ Đốc Thắng Lợi của Denver trao giải phần thưởng một nghìn đô cho những ai có thể tìm thấy bất kỳ người nào hơn Chúa Giê-xu, cho dù sống hay chết, người có thể hoàn thành chỉ một nửa của các tiên đoán về Đấng Mê-si được liệt kê ra trong sách Đấng Mê-si trong cả Cựu Ước và Tân Ước bởi Fred John Meldau. Chúng không có người đánh cuộc nào.

Bạn Nghĩ Gì?

Bạn nghĩ việc một người có thể làm trọn rất nhiều lời tiên tri cổ xưa được tiên báo trước hằng trăm năm trước khi người đó được sinh ra có hay xảy ra không? Việc Chúa Giê-xu đã làm trọn những lời tiên tri như vậy thì làm sao có thể được?

Một người có thể nào làm trọn tất cả những lời tiên tri trong Cựu Ước? Trong sách của họ Khoa Học Lên Tiếng, Peter Stoner và Robert Newman đã tính toán để phân tích khả năng đó. Viết trong tiên đề của sách đó, ông H. Harold Hartzler thuộc Hiệp Hội Khoa Học Mỹ phát biểu:

Bản thảo cho sách Khoa Học Lên Tiếng đã được xem đi xem lại cẩn thận bởi một hội đồng gồm các thành viên của Hiệp Hội Khoa Học Mỹ và bởi Hội Đồng Hành Chính cũng của nhóm đó và đã được tìm thấy rằng nhìn chung để phụ thuộc và chính xác với các tài liệu khoa học được trình bày. Những phân tính toán học được bao gồm dựa trên các nguyên tắc về tính khả quan mà hoàn toàn hợp lý, và Giáo sư Stoner đã áp dụng những nguyên tắc này trong một cách đàng hoàng và thuyết phục.

Những khả năng sau cho thấy sự trùng hợp và không phù hợp. Stoner nói rằng bằng việc áp dụng khoa học về tính khả quan của tám lời tiên tri, “chúng ta thấy rằng cơ hội cho một người có thể đã sống tại thời điểm hiện tại và đã làm trọn tám trên mười lời tiên tri là 1 trong 100,000,000,000,000,000. Để giúp chúng ta hiểu được khả năng choáng ngợp này, Stoner mô tả điều đó bằng cách cho rằng chúng ta lấy 1017 đồng đôla bằng bạc và đặt chúng trên bề mặt của Texas. Chúng sẽ phủ đầy bề mặt của Texas với độ sâu tầm hai feet. Bây giờ đánh dấu một đồng đôla trong số đó rồi trộn tất cả các đồng đôla lại với nhau, trộn lẫn phủ đầy trên toàn bộ tiểu bang. Bịt mắt một người và bảo người ấy là có thể đi xa đến bất cứ nơi nào người ấy muốn miễn là phải nhặt lên một đồng đôla bạc và bảo rằng đây chính xác là đồng đó. Xác xuất để người đó nhặt được đồng đôla đó có lớn không? Xác xuất đó cũng giống như các nhà tiên tri đã có khi viết tám lời tiên tri này là tất cả chúng đều đúng trong một người, từ thời kỳ của họ cho đến hiện tại, miễn là họ đã viết chúng bằng chính sự khôn khoan của mình.

Bây giờ những lời tiên tri này được ban cho bởi sự truyền cảm hứng của Đức Chúa Trời hoặc những những tiên tri này chỉ viết chúng như họ suy nghĩ. Trong trường hợp đó các tiên tri chỉ có một cơ hội trong số 1017 để chúng trở thành hiện thực trên bất cứ người nào, và tất cả chúng đều đã được ứng nghiệm trong Đấng Christ.

Điều này có nghĩa là sự làm trọn của chính tám tiên tri này chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã truyền cảm hứng cho bài viết của những lời tiên tri đó đến mức chính xác đến nổi mà duy nhất một trong số 1017 là hoàn toàn đúng.

Một Sự Chống Đối Khác

Một số người tuyên bố rằng Chúa Giê-xu thật sự cố gắng để làm ứng nghiệm những lời tiên tri Do Thái. Lý do chống đối này có vẻ hợp lý cho đến khi chúng ta nhận ra rằng nhiều chi tiết về việc đến của Đấng Mê-si là hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Một ví dụ đó là địa điểm sinh ra của Ngài. Khi Hê-rốt hỏi các thầy tế lễ cả thượng phẩm và thầy dạy đạo hỏi Đấng Christ sinh ra tại đâu, họ trả lời, “Tại Bết-lê-hem…vì điều này là điều mà tiên tri đã viết” (Ma-thi-ơ 2:5). Việc suy nghĩ rằng Ma-ri và Giô-sép đã di chuyển đến một thị trấn được tiên đoán trước và ngốc nghếch, Chúa Giê-xu ở trong bụng mẹ mình nói “Mẹ ơi, mẹ nhanh lên không thì chúng ta sẽ không kịp”.

Một nửa các lời tiên tri nằm ngoài sự kiểm soát của Đấng Christ để hoàn thành: cách Ngài được sinh ra; sự phản bội của Ngài bởi Giu-đa và cái giá cho sự phản bội; cách Ngài chết; phản ứng của những người khác, sự cười nhạo và nhổ báng, cái nhìn chằm chằm; việc bốc tăm để giành lấy áo ngìa và sự lưỡng lự của các binh lính trong việc xé áo Ngài. Ngoài ra, Đấng Christ đã không thể khiến chính mình được sinh ra bởi dòng dõi của một người nữ, trong dòng của Shem, đến từ Áp-bra-ham, và tất cả những sự kiện khác dẫn đến sự giáng sinh của Ngài. Không nghi ngờ gì Chúa Giê-xu và các sứ đồ sử dụng những lời tiên tri được làm trọn để chứng minh cho tuyên bố của mình rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời.

Bạn Nghĩ Gì?

Trong ba bằng chứng được đưa ra trong sách này- độ tin cậy của Kinh Thánh, bằng chứng lịch sử cho sự phục sinh, và tiên tri được làm trọn- điều nào bạn cảm thấy thuyết phục hơn? Tại Sao?

Tại sao Đức Chúa Trời đi vào nhiều vấn đề như thế này? Tôi tin rằng ông đã muốn chúa Giê-xu Christ có tất cả những dấu hiệu mà Ngài cần khi Ngài bước vào trong thế giới này. Thế nhưng, một trong những điều phấn khởi nhất về Chúa Giê-xu đó là Ngài đến để thay đổi cuộc sống con người. Chính bản thân Ngài dã chứng minh đúng cho hàng trăm lời tiên tri trong Cựu Ước mô tả việc đến của Ngài. Và chính Ngài có thể hoàn thành lời tiên tri lớn nhất trong tất cả cho những người sẽ chấp nhận điều đó- lời hứa cho một sự sống mới: “Ta sẽ ban cho các ngươi một lòng mới và đặt một tâm linh mới trong các ngươi. Ta sẽ cất khỏi thân thể các ngươi lòng bằng đá và ban cho các ngươi lòng bằng thịt” (Ê-xê-ki-ên 36:26). Vậy nếu ai ở trong Ðấng Christ, thì người ấy là một tạo vật mới; những gì cũ đã qua đi; nầy, mọi sự đều trở nên mới.” (2 Cô-rinh-tô 5:17).

Các bằng chứng cho Sự Phục Sinh?

Bằng Chứng Cho Sự Phục Sinh

Giáo sư Thomas Arnold, tác giả của ba tuyển tập Lịch Sử của Rô-ma và vị thế của lịch sử hiện đại tại Oxford, rất quen thuộc với giá trị trong bằng chứng về việc xác định các sự thật lịch sử. Ông nói:

Tôi đã được sử dụng trong nhiều năm để nghiên cứu lịch sử qua những giai đoạn khác nhau, cân nhắc và xác định các bằng chứng từ những người đã viết về chúng, và tôi không biết một sự thật nào trong lịch sử loài người đã được chứng minh với các bằng chứng tốt hơn và đầy đủ hơn từ các thể loại đến sự hiểu biết từ một người nghiên cứu, vượt trên dấu hiệu lớn mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta là Đấng Christ đã chết và sống lại từ cõi chết.

Học giả người Anh Brooke Foss Westcott, là một giáo sư thần học tại Trường Đại Học Cambridge, nói rằng:

Khi tổng hợp tất cả các bằng chứng lại, thì việc nói rằng không có một sự kiện lịch sử nào tốt hơn hoặc có được ủng hộ đa dạng hơn sự phục sinh của Đấng Christ là không đáng kể. Không có gì hơn ngoại trừ tiên đoán giả trước đó cho rằng có sự khiếm khuyết về mặt bằng chứng của nó.

Tiến sỹ William Lane Craig kết luận rằng “khi bạn…[sử dụng] các nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá lịch sử, lời giải thích tốt nhất cho các sự thật đó là Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết.

Simon Greenleaf là một trong những người có trí tuệ luật pháp vĩ đại nhất mà nước Mỹ đã tạo ra. Ông đã là một Giáo Sư Hoàng Gia về Luật tại Trường Đại Học Harvard và đã thành công trong Câu Chuyện Công Bình Joseph như là Giáo Sư Dane về Luật Pháo tại cùng một trường Đại Học. Trong khi tại Harvard, Greenleaf đã viết một tuyển tập trong đó ông đánh giá giá trị về mặt luật pháp về lời chứng của các sứ đồ về sự sống lại của Đấng Christ. Ông quan sát rằng việc các môn đồ “đã có thể khăng khăng trong việc xác nhận các lẽ thật mà họ đã kể ra, Chúa Giê-xu đã thực sự không sống lại từ kẻ chết chăng, và họ đã không biết về sự thật này chắc chắc như cách họ đã biết sự thật khác”. Greenleaf kết luận rằng sự sống lại của Đấng Christ là một trong những sự kiện được ủng hộ nhiều nhất trong lịch sử theo như các luật của bằng chứng luật pháp thực hiện ở trong tòa án công chính.

Ông Lionel Luckhoo được xem là một luật sư thành công nhất thế giới bởi nhiều người sau 245 giết người tha bổng liên tục. Luật sư giỏi giang này đã phân tích một cách chặt chẽ các sự thật lịch sử về sự sống lại của Đấng Christ và cuối cùng tuyên bố rằng, “Tôi nói một cách dứt khoát rằng bằng chứng cho sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ quá nhiều đến nổi nó bắt buộc sự chấp nhận thông qua bằng chứng mà không để lại chổ nào cho sự nghi ngờ.

Frank Morison, một luật sư người Anh khác, bắt đầu để bác bỏ bằng chứng cho Sự Phục Sinh. Ông nghĩ rằng sự sống của Chúa Giê-xu là một trong những trong những cuộc sống đẹp nhất từng có, nhưng khi nói đến Sự Phục Sinh, Rorison cho rằng ai đó đã bước vào và gán vào một huyền thoại vào trong câu chuyện. Ông đã dự định viết một ghi chép về một số ngày cuối của Chúa Giê-xu, không liên quan đến Sự Sống Lại. Luật sư đó đã hiểu ra một cách tiếp cận hợp lý cho câu chuyện mà có lẽ là hoàn toàn giảm nhẹ tình huống như vậy. Tuy nhiên, khi chúng ta áp dụng điều dạy dỗ chính thức của ông đến các thực tế, ông đã phải thay đổi suy nghĩ của mình. Thay vì bác bỏ sự Sống Lại, ông cuối cùng đã viết lên một quyển sách bán chạy nhất Ai Đã Chuyển Tảng Đá Đi? Ông đặt tiêu đề cho chương đầu tiên “Quyển Sách Không Được Viết Thành.” Phần còn lại của sách này xác định một cách kiên quyết về giá trị của các bằng chứng cho sự sống lại của Đấng Christ.

George Eldon Ladd kết luận rằng: “Lời giải thích hợp lý duy nhất cho các thực tế lịch sử là Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Giê-xu sống lại trong thân thể”. Những người tin nơi Chúa Giê-xu Christ ngày hôm nay có thể có sự tin cậy hoàn toàn, cũng giống như những Cơ Đốc Nhân đầu tiên, niềm tin của họ được dựa vào không chỉ là một huyền thoại hoặc truyền thuyết nhưng dựa trên các sự thật lịch sử về Đấng Christ sống lại và phần mộ trống.

Gary Habermas, giáo sư và chủ tịch riêng biệt của khoa triết học và thần học tại Trường Đại Học Liberty, tranh luận với nhà vô thần và học giả Atony Flew về vấn đề “ Chúa Giê-xu có thực sự sống lại từ kẻ chết?” Một luật sư chuyên gia tranh luận đã được hỏi để đánh giá sự tranh luận kết luận,

Mặc dầu có những sai sót, các bằng chứng lịch sử vẫn đủ mạnh để dẫn dắt những suy nghĩ hợp lý đến kết luận rằng Đấng Christ thật đã sống lại từ kẻ chết…Habermas cuối cùng đã cung cấp “bằng chứng khả quan nhất” cho tính lịch sử của sự phục sinh “mà không có những bằng chứng tự nhiên hợp lý chống lại nó.”

Điều quan trọng nhất trong tất cả, tất cả những người tin cá nhân có thể trải nghiệm quyền năng của Đấng Christ và cuộc sống của họ hôm nay. Đầu tiên trên hết, họ có thể biết rằng tội lỗi của họ được tha (xem Lu-ca 24: 46-17; 1 Cô-rinh-tô 15:3). Thứ hai, họ có thể biết chắc về sự sống đời đời và sự sống lại của chính họ từ trong phần mộ (xem 1 Cô-rinh-tô 15L 19-26). Thứ ba, họ có thể được giải phóng khỏi một cuộc sống vô nghĩa và trống trải đẻ được biến đổi thành những tạo vật mới trong Đức Chúa Giê-xu Christ (xem Giăng 10:10, 2 Cô-rinh-tô 5:17).

Bạn Nghĩ gì?

Sự thật là Chúa Giê-xu đã sống lại từ kẻ chết cách đây hơn 2000 năm có còn phù hợp với bạn ngày hôm nay không? Nếu vậy, thì như thế nào và tại sao?

Đánh giá và quyết định của bạn là như thế nào? Bạn nghĩ gì về phần mộ trống? Sau khi xem xét bằng chứng từ cách nhìn của tòa án, Ngài Darling, nguyên là chánh án tòa án tối cao của nước Anh, đã kết luận rằng “có tồn tại bằng chứng hùng hồn như vậy, tích cực và tiêu cực, thật sự và theo tình huống, mà không có ban hội thẩm khôn ngoan nào trên thế giới có thể mang đến một lời tuyên phán rằng câu chuyện về sự phục sinh là đúng.

Các thuyết bác bỏ sự phục sinh của Chúa Giê-xu

Các Thuyết Khác Cho Việc Phục Sinh

Nhiều người có những thuyết cấp tiến khác để giải thích cho sự Phục Sinh, nhưng những thuyết đó đã được bịa đặt và không hợp lý khi so sánh với những tuyên bố của Cơ Đốc Giáo mà mỗi điểm yếu của chúng thật ra giúp xây dựng độ tin tưởng trong lẽ thật về Sự Phục Sinh.

Thuyết Về Ngôi Mộ Bị Nhầm

Một thuyết được đề xuất bởi học giả kinh thánh người Anh Kirsopp Lake cho rằng những người đàn bà đã tường thuật về thân thể đã không còn nữa đã đi nhầm đến một ngôi mộ khác vào buổi sáng hôm đó. Nếu như vậy, thì các môn đồ đi để xác nhận câu chuyện của các người đàn bà cũng đã phải đi nhầm vào một ngôi mộ khác nữa. Tuy nhiên chúng ta có thể có thể chắc chắn rằng các cơ quan chức năng Do Thái, những người đã yêu cầu binh lính Rô-ma cần phải đứng canh tại phần mộ để ngăn chặn việc thân thể bị cướp đi, đã không có chuyện nhầm về đia điểm. Các binh lính Rô-ma cũng có thể đã bị nhầm lẫn bởi vì họ ở đó. Nếu có chuyện phần mộ bị nhầm liên quan vào, các cơ quan chức năng đã không mất nhiều thời gian để mang đến một thân thể khác từ một phần mộ khác, và cuối cùng thì làm dừng ngay bất cứ lời đồn đại ở bất kỳ thời điểm nào về sự sống lại.

Thuyết Về Sự Ảo Giác

Một lời giải thích được cố gắng khác tuyên bố rằng sự xuất hiện của Chúa Giê-xu sau sự Phục Sinh có thể là một sự tưởng tượng nên hoặc là một ảo giác. Thuyết này đi ngược lại với các nguyên tắc tâm lý dẫn đến ảo giác. Việc nghĩ rằng năm trăm người đều đã có ảo giác giống nhau trong vòng bốn mươi ngày thì khá vô lý. Thuyết về sự ảo giác này cũng không phù hợp với tình huống lịch sử hoặc trạng thái tinh thần của các sứ đồ.

Như vậy, thân thể thực sự của Chúa Giê-xu là ở đâu, và tại sao những người đàn áp ông không mang đến thân thể đó?

Thuyết Bất Tỉnh

Thế kỷ thứ mười chín, người Đức cấp tiến Karl Venturini đã phổ biến thuyết bất tỉnh một vài thế kỷ trước, và thuyết này cũng thường được nhắc đến thậm chí ngày hôm nay. Thuyết này cho rằng Chúa Giê-xu đã không thực sự chết đi; ngài đơn thuần chỉ bị bất tỉnh từ sự kiệt sức và mất máu. Mọi người đã nghĩ rằng Ngài chết, nhưng sau đó Ngài tỉnh lại, và các môn đồ nghĩ rằng đó là sự phục sinh.

Nhà thần học người Đức David Friedrich Strauss, bản thân ông không tin vào sự Phục Sinh, giáng một đòn chí tử cho bất kỳ suy nghĩ nào rằng Chúa Giê-xu đã tỉnh lại sau một thời gian bất tỉnh.

Không thể nào đã có một ai đó đã cướp đi thân thể gần chết ra khỏi phần mộ, nạn nhân đã yếu và đau đớn, cần được chăm sóc y tế, người cần có sự băng bó, hồi sức và nhẹ nhàng, và cũng là người cuối cùng trải qua sự khổ nạn, đã có thể mang đến cho các môn đồ một ấn tượng rằng Ngài là Đấng Đắc Thắng cái chết và phần mộ, Hoàng Tử của Sự Sống, ấn tượng đó là nền tảng cơ bản cho mục vụ trong tương lai của họ. Sự sống lại như vậy chỉ có thể làm giảm đi ấn tượng đã mang đến trong họ về sự sống và sự chết, nhiều nhất cũng chỉ mang đến một giọng bi thương, nhưng không thể nào thay đổi sự đau buồn của họ sang sự nhiệt tình, đã nâng sự tôn kính của mình lên thành sự tôn thờ.

Thuyết Về Thân Thể Bị Đánh Cắp

Một thuyết khác vẫn duy trì là các môn đồ đánh cắp thân thể của Chúa Giê-xu trong khi các lính canh ngủ. Sự đau buồn và tính nhát gan của các môn đồ đã khiến cho lời tranh luận này chống nghịch mạnh mẽ lại điều đó. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng họ đột ngột trở nên rất can đảm và dám đối mặt với các đội ngũ binh lính được chọn để cố gắng bất cứ điều gì như thế.

Bình luận về lời đề xuất rằng các môn đồ đã đánh cắp thân thể của Đấng Christ, J.N.D. Anderson nói rằng:

Điều này sẽ hoàn toàn đi ngược lại với tất cả những gì chúng ta biết về họ: giáo dục về đạo đức của họ, chất lượng của cuộc sống họ, sự kiên định trong việc chịu khổ nạn và bắt bớ. Nó cũng không bắt đầu giải thích về sự biến đổi nhanh chóng của họ từ những người chạy trốn thất vọng và chán nản trở thành những chứng nhân mà không có sự chống đối nào có thể trói buộc.

Thuyết Thân Thể Bị Di Chuyển

Một thuyết khác nói rằng các cơ quan chức năng Rô-ma hoặc Do Thái di chuyển thân thể của Chúa Giê-xu ra khỏi phần mộ. Giải thích này thì không hợp lý hơn thuyết thân thể bị đánh cắp. Nếu các cơ quan chức năng đã nắm giữ thân thể hoặc đã biết nó ở đâu, tại sao họ đã không giải thích rằng họ đã mang thân thể đó đi, vì vậy đưa đến một kết cục có hiệu quả sự dạy dỗ của các môn đồ về Sự Phục Sinh tại Giê-ru-sa-lem? Nếu các cơ quan chức năng đã mang thân thể đi, tại sao họ đã không giải thích chính xác họ đã để thân thể đó ở đâu? Tại sao họ đã không phô biện thi hài, đặt nó trên một chiếc xe đẩy và kéo nó qua trung tâm của Giê-ru-sa-lem? Một hành động như vậy đã hoàn toàn có thể phá hủy Cơ Đốc Giáo.

John Warwick Montgonery bình luận:

Điều này vượt qua giới hạn của sự đáng tin mà các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã có thể tạo nên một chuyện cổ tích như vậy và sau đó rao giảng nó giữa vòng những người có thể dễ dàng bác bỏ nó đơn giản bằng cách mang thân thể của Chúa Giê-xu ra.

Thuyết Thân Thể Dịch Chuyển Sang Nơi Khác

Trong Ngôi Mộ Trống, Jeffrey Jay Lowder mô tả một giả thuyết thú vị, mang tên là, thân thể của Chúa Giê-xu tạm thời được giữ ở trong phần mộ của Joseph từ Arimathea vào tối thứ sáu trước khi thân thể được dịch chuyển sang một phần mộ của tội phạm. Phần mộ trống của Chúa Giê-xu không phải là vì Ngài đã sống lại, nhưng bởi vì thân thể đã được dịch chuyển sang một nơi khác. Vì thế, các môn đồ đã tin nhầm rằng Ngài đã sống lại. Giả thuyết này đã đạt được số lượng người theo đáng kể trên Internet.

“Giả Thuyết Thân Thể Được Dịch Chuyển” đạt được sự ủng hộ từ một sự thật rằng việc chôn cất lại là rất phổ biến tại Palestine cổ. Nhưng điều quan trọng để chú ý là các công đoạn của người Do Thái khác nhau đáng kể so với thuyết được đưa ra ở đây. Truyền thống Do Thái đó là chôn cất thân thể trong vòng một năm, sau đó sẽ tách xương ra và đặt chúng trong một bình đựng hài cốt.

Vấn đề cho việc dịch chuyển thân thể của Chúa Giê-xu là hoàn toàn không đủ sự hỗ trợ lịch sử, kể cả từ các nguồn trong kinh thánh hay các nguồn không theo kinh thánh. Không có các ghi chép Phúc Âm nào trong Tân Ước cho rằng thân thể của Chúa Giê-xu được chôn lại. Mác 16:6, nơi mà người đàn ông trẻ tại ngôi mộ nói “Ngài không ở đây! Ngài đã sống lại từ cõi chết!” xác nhận cách nhìn này.

Giả thuyết về việc dịch chuyển thực ra đối mặt với một vấn đề lớn hơn. Tiến Sỹ Michael Licona quan sát rằng

Ở mức độ tốt nhất, thậm chí giả thuyết về việc chôn lại là đúng, tất cả điều đó chứng minh đó là một phần mộ trống. Và rất thú vị, phần mộ trống đã không thuyết phục bất kỳ môn đồ nào- có thể là ngoại trừ John- Chúa Giê-xu đã trở lại từ cõi chết. Đó là sự xuất hiện của Chúa Giê-xu đã thuyết phục họ, và thuyết được chôn lại không chứng minh cho những điều này.

Nếu thân thể của Chúa Giê-xu đơn giản là được dịch chuyển, tại sao một người thân không phô bày ra thân thể khi các môn đồ bắt đầu tuyên bố sự sống lại? Tại sao một cơ quan tổ chức nào phô bày thân thể và ngừng Cơ Đốc Giáo ở trong đường đi của nó? Một số người cho rằng đến lúc này thân thể của Chúa Giê-xu đã là không thể nhận ra, nhưng với khí hậu tại Palestine, thân thể có thể vẫn nhận ra được trong một khoảng thời gian đáng kể.

Bạn Nghĩ Gì?

Bạn có thể nghĩ về bất kỳ lời giải thích tự nhiên có thể nào khác cho sự sống lại của Chúa Giê-xu? Có bất kỳ một thuyết nào khác giải thích nhiều sự thật đến như vậy xung quanh các sự kiện như là sự sống lại thật sự của Ngài?

Thuyết Về Quách Quan Tài

“Không có gì trong Cơ Đốc Giáo là nguyên gốc” là một trong những dòng được sử dụng phổ biến nhất của nhiều nhà phê bình ngày nay. Trong cuối thế kỷ thứ mười chín và đầu thế kỷ thứ hai mươi, nhiều học giả đã tin rằng các lời tuyên bố căn bản của Cơ Đốc Giáo là được sao chép từ các tôn giáo bí ẩn từ Greco-Rô-ma. Chúa Giê-xu được xem là một chúa “chết và sống lại” trong truyền thống của Osiris, Mithras, Adonis, và Dionysus. Trong khi thuyết này trải qua sự nổi dậy đáng ngạc nhiên trên Internet và trong các sách phổ biến, thuyết đó đối mặt với gần như sự bác bỏ chung bởi các học giả đương thời. Đây là lý do tại sao.

Trong khi Chúa Giê-xu và các tôn giáo bí ẩn có thể xuất hiện nổi bật song song ở trên bề mặt, chúng sụp đổ khi được xem xét kỹ lưỡng. Ví dụ, Osiris bị giết bởi Seth và tỉnh dậy bởi Isis. Nhưng thay vì trở lại với thế giới trong một thân thể phục sinh, Osiris trở thành vua của thế giới bên dưới- hầu như là không tương đương với sự sống lại lích sử của Chúa Giê-xu. Đây là lý do tại sao Paul Rhodes Eddy và Greg Boyd, các tác giả về The Jesus Legend [Thánh truyện Chúa Giê-xu], kết luận rằng “sự khác nhau giữa Cơ Đốc Giáo và các tôn giáo bí ẩn rất sâu sắc hơn bất kỳ sự tương đồng nào. Trong khi chắc chắn đã có những thuật ngữ tương đồng được sử dụng trong Cơ Đốc Giáo lúc ban đầu và các tôn giáo bí ẩn, không có nhiều bằng chứng cho các khái niệm tương đồng”.

Không giống như Chúa Giê-xu lịch sử, không có bằng chứng nào có tính đáng tin cậy của bất kỳ cây chuyện nào trong số các câu chuyện tương tự được dẫn chứng trong các tôn giáo bí ẩn. Giê-xu Na-za-rét ăn, ngủ, làm phép lạ, chết và sống lại. Những ghi chép này được ủng hộ bởi những ghi chép lịch sử đáng tin cậy. Ngược lại, những chúa chết và sống lại trong các tôn giáo bí ẩn là những huyền thoại vượt thời gian được lặp đi lặp lại hàng năm theo các mùa thay đổi trong năm.

Luận án nghiên cứu gần đây nhất về các chúa chết và sống được viết bởi T.N.D Mettinger, giáo sư tại Trường Đại Học Lund. Trong The Riddle of Resurrection [Điều Bí Ẩn Của Sự Phục Sinh], Mettinger cho phép sự tồn tại của các chúa chết và sống lại trong thế giới cổ xưa, mà ông chấp nhận là một cách nhìn thiểu số. Thế nhưng kết luận của ông đã khiến cho thuyết về quách quan tài không thuyết phục:

Như tôi biết thì không có bằng chứng căn bản nào cho rằng cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu là một công trình huyền thoại, vẽ lên trên các huyền thoại và nghi thức của các chúa chết và sống lại của thế giới xung quanh. Trong khi học được những lợi ích chống nghịch lại với truyền thống đức tin về sự phục sinh của người Do Thái, đức tin trong sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu vẫn giữ tính độc đáo của chính nó trong lịch sử tôn giáo. Điều bí ẩn vẫn duy trì.

 

Phong Tục Chôn Cất Của Người Do Thái Như Thế Nào?

Theo như phong tục tập quán về việc chôn cất của người Do Thái, thân thể của Chúa Giê-xu được bao bọc trong một tấm vải lanh. Khoảng tầm bảy mươi lăm pounds các đồ gia vị thơm, được trộn với nhau thành một loại chất dính, được đắp lên cùng với việc quấn thân thể lại (xem Giăng 19:39-40). Sau khi thân Ngài được đặt ở trong một phần mộ bằng đá chắc chắn, một tảng đá cực lớn, nặng xấp xỉ khoảng hai tấn, được lăn chắn ngang lối đi vào (xem Ma-thi-ơ 27:60).

Người lính canh Rô-ma là những người được kỷ luật rất nghiêm khắt đứng đó để bảo vệ ngôi mộ. Sự sợ hãi của việc bị trừng phạt trong vòng những người này “tạo nên sự chú ý không mắc lỗi nào đối với nhiệm vụ, đặc biệt là đối với việc canh giữ ban đêm”. Người lính canh này niêm phong và trong phần mộ con dấu của Rô-ma, một con dấu của quyền lực Rô-ma và thẩm quyền. Con dấu đó nhằm để ngăn chặn các hành động phá hoại. Bất cứ ai muốn dịch chuyển tảng đá ra khỏi lối ra của phần mộ đã phải làm vỡ đi con dấu và như vậy chịu sự nổi giận của luật Rô-ma.

Thế nhưng mặc cho các tên lính và niêm phong, phần mộ trở nên trống không.

Phần Mộ Trống Không?

Những người theo Chúa Giê-xu đã tuyên bố rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết. Họ đã tường thuật rằng Ngài đã xuất hiện trước mặt họ qua một giai đoạn trên bốn mươi ngày, bày tỏ chính ngài cho họ thấy bằng nhiều bằng chứng thuyết phục (một số phiên bản Kinh Thánh nói rằng “những bằng chứng không thể sai lầm được; ví dụ có thể được xem tại Công-vụ 1:3). Sứ đồ Phao-lô đã xuất hiện trước mặt hơn năm trăm người theo ngài cùng một lúc, hầu hết những người đó vẫn còn sống và có thể xác nhận điều ông viết (1 Cô-rinh-tô 15:3-8).

Arthur Michael Ramsey, nguyên trưởng giám mục của Canterbury, viết: “Tôi tin vào sự Phục Sinh, một phần là bởi vì một loạt các sự thật không thể đếm được mà không liên quan đến nó.” Nhà thần học người Đức Paul Althaus cho rằng tuyên bố về Sự Phục Sinh “đã không thể nào có thể duy trì được ở trong Giê-ru-sa-lem trong từng ngày một, trong từng giờ một, nếu không có sự trống không của ngôi mộ như là một sự thật mà tất cả mọi người đều quan tâm”.

Paul L. Maier kết luận:

Nếu tất cả các bằng chứng được cân nhắc một cách cẩn thận và hợp lý, điều đó thật sự là chính đáng, theo như các điều lệ của nghiên cứu lịch sử, để kết luận rằng [phần mộ của Chúa Giê-xu] đã thật sự trống không…và không có một bằng chứng nhỏ nào ma chưa được khám phá ra trong các nguồn văn chương, khoa nghiên cứu văn khắc hoặc khảo cổ học mà đã bác bỏ lời tuyên bố này.

Làm sao chúng ta có thể giải thích được phần mộ trống?

Dựa trên các bằng chứng lịch sử đáng ngạc nhiên, các Cơ Đốc Nhân tin rằng thân thể của Chúa Giê-xu đã phục sinh trong một thời điểm và không gian thật bằng quyền lực siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Các sự khó khăn trong niềm tin có thể lớn, nhưng các vấn đề vốn có trong sự không tin thậm chí còn lớn hơn.

Tình huống ở tại phần mộ sau sự Phục Sinh là rất đáng chú ý. Dấu niêm phong Rô-ma bị xé ra, có nghĩa là sự đóng đinh tự động chống lại bất cứ ai phá vỡ nó. Tảng đá lớn được dịch chuyển không chỉ là từ lối đi nhưng mà là từ toàn bộ ngôi mộ bằng đá, nhìn vào trông nó có vẻ như đã được nhặt lên và mang đi chổ khác. Lính đứng canh phần mộ đã chạy trốn.

Hoàng đế Byzantine Rô-ma Justinian trong danh sách Digest 49:16 trong đó một đơn vị lính Rô-ma có thể bị giết chết. Những điều này bao gồm việc ngủ gậc hoặc không canh giữ một vị trí nào đó.

Những người đàn bà đến và thấy rằng ngôi mộ trống không. Họ sửng sốt và quay lại nói chuyện với những người đàn ông. Phi-e-rơ và Giăng chạy đến bên phần mộ. Giăng đến trước, nhưng ông đã không bước vào. Ông nhìn vào bên trong và thấy tấm vải liệm, chú ý nhìn vào trong một ít, nhưng trống không. Thân thể của Đấng Christ đã đi qua những thứ đó và bước vào một sự tồn tại mới. Hãy đối mặt với điều đó, một cảnh tượng như thế có thể khiến bất cứ ai trở thành một người tin.

Bạn Nghĩ Gì?

Có phải bạn đã từng là một thành viên của một nhóm và điều gì đó đã xảy ra với tất cả các bạn?  Câu chuyện của bạn có giống như vậy không? Việc mỗi người đều nói một câu chuyện giống y như nhau thì khó khăn đến chừng nào?

 

Sự Chết Và Sự Chôn Của Chúa Giê-xu Xảy Ra Như Thế Nào?

Một sinh viên tại trường Đại Học Uruguay đã hỏi tôi, “Giáo sư McDowell, tại sao giáo sư không thể tìm ra cách nào đó để bác bỏ Cơ Đốc Giáo?”

Tôi trả lời, “Chỉ một lý do rất đơn giản. Tôi đã không thể nào giải thích chống đối với sự thật rằng sự phục sinh của Chúa Giê-xu là một sự kiện thật trong lịch sử.”

Sau khi dành hơn hàng trăm giờ đồng hồ học về chủ đề này và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về nền tảng của nó, tôi đã đi đến kết luận rằng sự phục sinh của Đức Chúa Giê-xu Christ không phải là một trong những trò chơi khăm ác độc, luẩn quẩn, nhẫn tâm thường được thêm vào trong nhân loại, hoặc đó là sự thật quan trọng nhất trong lịch sử.

Sự Phục Sinh đặt ra câu hỏi “Cơ Đốc Giáo có giá trị không?” đi ra từ trong vương quốc của triết lý và khiến nó trở thành một câu hỏi trong lịch sử. Cơ Đốc Giáo có một căn bản lịch sử vững chắc không? Có đủ bằng chứng sẵn có để đảm bảo cho niềm tin trong sự Phục Sinh không?

Đây là một số vấn đề và phù hợp với lời tuyên bố: Chúa Giê-xu của Na-za-rét, một tiên tri Do Thái tuyên bố là Đấng Christ như được tuyên bố trong các Thánh Kinh Do Thái đã bị bắt, xét đoán là một tội phạm chính trị và bị đóng đinh. Ba ngày sau khi chết và được chôn cất, một số người đàn bà đến nơi phần mộ và thấy rằng ngôi mộ trống không. Các môn đồ của Đấng Christ tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã mang Ngài lên từ cõi chết và đã xuất hiện trước mặt họ nhiều lần trước khi thăng thiên lên thiên đàng.

Từ nền tảng này, Cơ Đốc Giáo đã lan rộng ra khắp Vương Quốc Rô-ma và đã tiếp tục mang đến sự ảnh hưởng lớn ở khắp thế giới thông qua nhiều thế kỷ sau đó.

Câu hỏi lớn đó là, Sự Phục Sinh Đã thật sự xảy ra không?

Sự Chết và Sự Chôn Của Chúa Giê-xu

Sau khi Chúa Giê-xu bị buộc tội phải chết, Ngài bị tước hết đồ đạc và đã bị đánh đập, theo như phong tục Rô-ma trước khi chịu đóng đinh.

Alexander Metherell, người giữ một tấm bằng y khoa từ trường Đại Học Miami và một bằng Tiến Sĩ Kỹ Sư từ trường Đại Học Bristol tại Anh, đã thực hiện một cuộc kiểm tra chi tiết về việc Đấng Christ bị đánh đập bởi tay của những người Rô-ma. Ông giải thích quá trình như thế này:

Người lính dùng một cái dây quật được bện bằng sợi da với những viên bi bằng kim loại được bện vào bên trong chúng. Khi dây bện nện vào thân thể, những viên bi này sẽ gây nên những vết thâm tím sâu hoặc những vết đụng dập có thể bị đập mở ra bởi những cú đánh đòn. Và dây quật cũng có một số mảnh xương sắc nhọn, mà cũng có thể cắt cơ thể một cách rất nghiêm trọng.

Tấm lưng thường bị rách mướt rất nhiều đến nổi một phần của xương sống thường bị lộ ra bằng những vết cắt rất sâu. Việc bị đánh đập có thể từ vai xuống đến lưng, hông, và đến cả phía sai chân. Điều này quả thật là kinh khiếp.

Một nhà vật lý học đã nghiên cứu về tục đánh đập của Rô-ma nói rằng “Khi việc quất bằng roi tiếp tục, những chổ rách sẽ làm rách những cơ xương nằm ở dưới và tạo nên một các dòng chảy máu từ trong thân như những sợi dây băng-rôn”. Nhà lịch sử vào thế kỷ thứ ba với cái tên Eusebius đã mô tả việc đánh bằng roi bằng cách nói “ Những đường tĩnh mạch của nạn nhân đều mở ra, và mỗi cơ, dây gân, và ruột của nạn nhân cũng được phơi trần ra”.

Chúng ta biết rằng nhiều người đã chết vì kiểu đánh đập này thậm chí trước khi họ bị đóng đinh. Ở mức độ thấp nhất thì nạn nhân cũng kinh nghiệm được sự đau đớn tột độ và bắt đầu bước vào sốc giảm thể tích.

Được biết đến sự tàn nhẫn về việc đánh đập, cũng như là sự chịu đóng đinh sau đó, Chúa Giê-xu thật sự đã chết theo lịch sử. Thậm chí các thành viên của Hội Chúa Giê-xu cấp tiến, nổi tiếng vào các năm 1990, chấp nhận cái chết của Chúa Giê-xu. Đây là lý do tại sao John Dominic Crossan đã nói rằng cái chết của Chúa Giê-xu bằng việc chịu đóng đinh “là chắc chắn như bất cứ điều gì quá khứ có thể từng.”

Bạn nghĩ gì?

Bạn có từng xem bất cứ bộ phim nào về cuộc đời của Chúa Giê-xu đã bao gồm sự chết và sự sống lại của Ngài, giống như là The Passion of The Christ [Cuộc khổ nạn của Đấng Christ]? Điều gì đến với tâm trí của bạn khi bạn thấy sự tra tấn và sự chịu đóng đinh của Đấng Christ? Bạn có nghĩ rằng Ngài xứng đáng với những gì đã xảy ra với Ngài?

 

Bạn Đã Nghe Điều Gì Đã Xảy Ra Cho Sau-lơ Chưa?

Jack, một người bạn Cơ Đốc của tôi đã nói chuyện tại nhiều trường đại học, đã đến tại khu khuôn viên trường vào một buổi sáng phát hiện ra rằng các sinh viên đã sắp xếp để họ có thể có một cuộc thảo luận công chúng vào đêm đó với “trường đại học vô thần”. Đối thủ của ông là một giáo sư triết lý giỏi hùng biện, cũng là người cực kỳ chống đối Cơ Đốc Giáo. Jack đã phải nói trước. Ông đã thảo luận nhiều bằng chứng cho sự phục sinh của Chúa Giê-xu cũng như là sự cải đạo của sứ đồ Phao-lô, và sau đó ông đã mang đến lời chứng cá nhân của mình về cách Đấng Christ đã thay đổi cuộc sống của ông khi ông còn là một sinh viên đại học.

Khi giáo sư triết lý đứng lên để nói, ông khá lo lắng. Ông không thể nào bác bỏ bằng chứng cho sự Phục Sinh hay là bằng chứng cá nhân của Jack, cho nên ông tấn công sự cải đạo nhanh chóng của sứ đồ Phao-lô trở thành Cơ Đốc Nhân. Ông đã dùng lời tranh luận rằng “con người thường ảnh hưởng nhiều về mặt tâm lý vào điều mà họ chiến đấu và kết cục là họ nắm lấy nó”.

Bạn của tôi cười một cách nhẹ nhàng và trả lời, “tốt hơn thì ông nên cẩn thận, hoặc không thì ông rất dễ để trở thành một Cơ Đốc Nhân”.

Bạn nghĩ gì?

Sứ đồ Phao-lô hoàn toàn xoay chuyển niềm tin của mình về Chúa Giê-xu sau khi trải nghiệm được sự biến đổi cuộc sống khi gặp Ngài. Bạn đã từng thấy sự biến đổi đó ở bất kỳ người nào không? Có bao giờ bạn kinh nghiệm được điều ấy không?

Câu chuyện về sứ đồ Phao lô là một trong những lời chứng có ảnh hưởng nhất đối với Cơ Đốc Giáo. Sau-lơ tại Tarsus, có lẽ là người chống đối hung bạo nhất trong lịch sử Cơ Đốc Giáo lúc ban đầu, đã trở thành sứ đồ Phao-lô, người phát biểu đầy năng lực và gây ảnh hưởng nhiều nhất cho phong trào mới. Phao-lô là một người Hê-bơ-rơ quá khích, một người lãnh đạo tôn giáo. Việc sinh ra ở Tarsus mang đến cho ông sự mở mang về cơ hội học tập tối tân nhất trong thời đại của ông. Strabo, nhà địa lý người Hy-lạp khen ngợi Tarsus vì tham vọng về giáo dục và triết lý của thành phố đó.

Phao-lô, giống như cha của mình, sở hữu quyền công dân Rô-ma, là một đặc ân lớn. Phao-lô dường như phù hợp với văn hóa và suy nghĩ Hy Lạp. Ông có nhu cầu lớn về ngôn ngữ Hy-lạp và bày tỏ kỹ năng ngôn ngữ xuất chúng. Ông thường trích dẫn từ những bài văn và triết lý gia ít quen thuộc. Ở trong một trong các bài giảng của mình Phao-lô trích dẫn và ám chỉ đến Epimenides, Aratus và Cleanthes: “‘Trong Ngài chúng ta sống, động, và hiện hữu,’ như một vài thi sĩ của quý vị đã nói, ‘Chúng ta cũng là dòng giống của Ngài.’” (Công vụ 17:28). Trong một lá thư Phao lô trích dẫn Menander: “Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt” (1 Cô-rinh-tô 15:33) Trong một lá thư đến Tít, Phao lô một lần nữa trích dẫn Epimenides: “Một người trong bọn họ, tức là bậc tiên tri của họ, có nói rằng: Người Cơ-rết thay nói dối, là thú dữ, ham ăn mà làm biếng.” (Tít 1:12)

Giáo dục của Phao-lô là giáo dục Do Thái và được dạy dỗ dưới những giáo lý nghiêm khắc của người Pha-ri-si. Khi Phao-lô ở vào độ tuổi mười bốn, ông được gửi đến để học dưới Gamaliel, cháu trai của Hillel và một trong những thầy vĩ đại của thời kỳ đó. Phao lô thêm vào rằng ông không chỉ là người Pha-ri-si nhưng cũng là con của người Pha-ri-si (xem Công vụ 23:6). Ông có thể khoe rằng “tôi tấn tới trong giáo Giu-đa hơn nhiều người cùng tuổi cùng nước với tôi, tôi là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ tôi.” (Ga-la-ti 1:14)

Để có thể hiểu được sự cải đạo của Phao-lô, việc xem xét lý do tại sao ông chống đối Cơ Đốc Giáo mãnh liệt đến như vậy là cần thiết. Đó là sự cống hiến của ông đến luật pháp Do Thái mà đã bắt đầu sự chống đối mãnh liệt như vậy đối với Đấng Christ và hội thánh đầu tiên. Nhà thần học người Pháp Jacques Dupont viết “Với lời khẳng định về tính Mê-si của Chúa Giê-xu [thế nhưng] … với việc gán cho Chúa Giê-xu với một vai trò cứu rỗi mà làm mất đi các giá trị của pháp luật trong mục đích của sự cứu rỗi … [Phao-lô] chống nghịch cách bạo lực với niềm tin Cơ Đốc giáo vì tầm quan trọng mà ông xem là gắn liền với luật pháp như một con đường cứu rỗi.”

Bách Khoa Toàn Thư Britannica nói rõ rằng các thành viên của giáo phái Giu-đa mới gọi bản thân họ là Cơ Đốc Nhân ngạc nhiên trước tính chất của giáo dục Do Thái và đào tạo về giáo sĩ của Phao lô. Ông trở nên đam mê việc hủy diệt giáo phái này (xem Ga-la-ti 1:13). Cho nên Phao-lô đã bắt đầu theo đuổi cho đến chết tất cả Cơ Đốc Nhân (xem Công vụ 26:9-11). Ông tự mình bắt đầu phá hủy hội thánh (xem Công Vụ 8:3). Ông gửi Đa-mách đi với những tài liệu xác nhận ông có thể theo đuổi một số người theo đuổi Chúa Giê-xu và mang họ về lại để đối mặt với thử thách.

Sau đó điều gì đó đã xảy ra với Phao-lô.

Bấy giờ, Sau-lơ chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thơ để gởi cho các nhà hội thành Đa-mách, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo bất kỳ đờn ông đờn bà, thì trói giải về thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng Sau-lơ đang đi đường gần đến thành Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ ta?

Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giê-xu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dậy, vào trong thành, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ cùng đi với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói, mà chẳng thấy ai hết. Sau-lơ chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm tay dắt người đến thành Đa-mách; người ở đó trong ba ngày chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống. Vả, tại Đa-mách có một môn đồ tên là A-na-nia. Chúa phán cùng người trong sự hiện thấy rằng: Hỡi A-na-nia! Người thưa rằng: Lạy Chúa, có tôi đây. Chúa phán rằng: Hãy chờ dậy, đi lên đường gọi là đường Ngay thẳng, tìm tên Sau-lơ, người Tạt-sơ, ở nhà Giu-đa; vì người đương cầu nguyện, và đã thấy một người, tên là A-na-nia, bước vào đặt tay trên mình, để cho người được sáng mắt lại. (Công vụ 9: 1-12)

Như chúng ta tiếp tục đọc thêm, chúng ta có thể thấy tại sao Cơ Đốc Nhân kính sợ Phao-lô.

A-na-nia thưa rằng: Lạy Chúa, tôi có nghe nhiều kẻ nói người nầy đã làm hại biết bao các đấng thánh của Chúa trong thành Giê-ru-sa-lem. Bây giờ người ở đây, có trọn quyền của các thầy tế lễ cả phó cho, đặng bắt trói hết thảy mọi người cầu khẩn đến danh Ngài. Nhưng Chúa phán rằng: Hãy đi, vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên; ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì danh ta là bao nả. A-na-nia bèn đi, vào nhà, rồi đặt tay trên mình Sau-lơ mà nói rằng: Hỡi anh Sau-lơ, Chúa là Giê-xu nầy, đã hiện ra cùng anh trên con đường anh đi tới đây, đã sai tôi đến, hầu cho anh được sáng mắt lại và đầy Đức Thánh Linh. Tức thì có cái chi như cái vảy từ mắt người rớt xuống, thì người được sáng mắt; rồi chờ dậy và chịu phép báp-tem. Khi người ăn uống rồi, thì được mạnh khỏe lại. Sau-lơ ở lại một vài ngày với các môn đồ tại thành Đa-mách. (Công vụ 9: 13-19)

Bạn Nghĩ Gì?

Bạn nghĩ tại sao sự bắt phục của Phao-lơ phải bi thảm đến như vậy? Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho cuộc sống của Phao-lô khác với kế hoạch của Ngài cho kế hoạch của chính Phao-lô cho cuộc sống của mình như thế nào?

Kết quả của kinh nghiệm này, Phao-lô xem bản thân mình là một nhân chứng cho Đấng Christ phục sinh. Sau đó ông viết “Tôi há chẳng từng thấy Đức Chúa Giê-xu là Chúa chúng ta sao? Anh em há chẳng phải là công việc tôi trong Chúa sao?” (1 Cô-rinh-tô 9:1). Ông so sánh thân mình với thân thể của Đấng Christ sau khi Ngài phục sinh với các sứ đồ khác. “Rồi lại…Ngài cũng hiện ra cho tôi xem” (1 Cô-rinh-tô 15:8).

Không chỉ Phao-lô thấy Chúa Giê-xu, nhưng ông đã thấy Ngài bằng một cách không thể cưỡng lại được. Ông đã tuyên bố phúc âm không phải vì ông chọn làm như vậy nhưng từ sự cần thiết. “Ví bằng tôi rao truyền Tin Lành, tôi chẳng có cớ khoe mình, vì có lẽ cần buộc tôi; còn không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay.” (I Cô-rinh-tô 9:16).

Chú ý rằng cuộc gặp gỡ giữa Phao Lô với Chúa Giê-xu và sự cải đạo sau đó là rất bất ngờ: “Vả, lúc tôi đương đi đường, gần đến thành Đa-mách, độ ban trưa, thình lình có ánh sáng lớn, từ trên trờ giáng xuống, soi sáng chung quanh mình tôi” (Công vụ 22:6). Ông đã không biết người từ trời này có thể là ai. Khi có lời tuyên bố rằng Ngài là Giê-xu của Na-ra-rét, Phao-lô sửng sốt và bắt đầu run rẩy.

Chúng ta có thể không biết tất cả những chi tiết hay tâm lý về điều đã xảy đến với Phao-lô trên đường đến Đa-mách, nhưng chúng ta biết điều này: Trải nghiệm này hoàn toàn đảo ngược lại ở mỗi vùng trong cuộc sống.

Đầu tiên, tính cách của Phao-lô được biến đổi một cách đáng chú ý. Bách Khoa Toàn Thư Britannica mô tả ông trước khi ông được biến đổi là một người tin mù quáng, không dung thứ, cay đắng, bắt bớ- kiêu ngạo và thất thường. Sau khi được biến đổi kinh thánh mô tả ông là một người kiên nhẫn, tốt bụng, chịu đựng, và hy sinh cá nhân. Kenneth Scott Latourete nói, “Điều đã kết hợp trong cuộc sống của Phao-lô, tuy nhiên, và khiến cho sự thay đổi hầu như về mặt thần kinh này từ chỗ khó hiểu đến ảnh hưởng bền bỉ là một kinh nghiệm tôn giáo sâu sắc và mang tính cách mạng.”

Thứ hai, mối quan hệ của Phao-lô với các người theo Chúa Giê-xu được biến đổi. Họ không còn sợ hãi về ông nữa. Phao-lô “ở lại một vài ngày với các môn đồ tại thành Đa-mách.” (Công vụ các sứ đồ 9:19). Và khi ông đến để gặp những người môn đồ khác, họ đã chấp nhận ông (Công vụ các sứ đồ 9:27-28).

Thứ ba, thông điệp của Phao-lô được biến đổi. Mặc dầu ông vẫn yêu quý truyền thống Do Thái của mình, ông đã thay đổi từ một người đối lập cay đắng đến một người ủng hộ rất quyết liệt về niềm tin Cơ Đốc. “Người liền giảng dạy trong các nhà hội rằng Đức Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời.” (Công vụ các sứ đồ 9:20). Sự biến đổi về mặt trí thức đã thay đổi. Kinh nghiệm của ông bắt buộc ông phải nhận thức rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si, chống nghịch trực tiếp lại với những suy nghĩ về đấng mê-si của người Pha-ri-si. Tầm nhìn mới của ông về Đấng Christ giống như một cuộc cách mạng hoàn toàn trong suy nghĩ của ông. Jacques Dupont quan sát một cách sắc bén rằng sau khi Phao-lô “đã từ chối mãnh liệt rằng một người đàn ông chịu đóng đinh có thể là Đấng Mê-si, ông đến để cho biêt rằng Chúa Giê-xu thật sự là Đấng Mê-si, và kết cục là, suy nghĩ lại tất cả những suy nghĩ về đấng mê-si”.

Cũng vậy, Phao-lô bây giờ có thể hiểu rằng sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá, có vẻ như là một lời rủa sả về Đức Chúa Trời và một kết cục đáng thương đối với một cuộc sống, thật ra là Đức Chúa Trời làm hòa với thế giới với chính Ngài thông qua Đấng Christ. Phao-lô hiểu được rằng Đấng Christ chịu đóng đinh mang lấy sự rủa sả tội lỗi trên mình Ngài cho chúng ta (xem Ga-la-ti 3:13) và rằng Đức Chúa Trời “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21). Thay vì xem cái chết của Đấng Christ như là một sự thất bại, ông đã xem nó như là một chiến thắng vĩ đại, hoàn thành bằng sự Phục Sinh. Thập giá không còn là một chướng ngại vật nữa nhưng là nồng cốt của sự cứu rỗi Mê-si của Đức Chúa Trời. Những lời truyền đạo của các bài giảng Phao-lô có thể được tóm gọn thành “lấy Kinh Thánh cắt nghĩa và giải tỏ tường về Đấng Christ phải chịu thương khó, rồi từ kẻ chết sống lại. Người nói rằng Đấng Christ nầy, tức là Đức Chúa Giê-xu mà ta rao truyền cho các ngươi.” (Công vụ các sứ đồ 17:3)

Thứ tư, sứ mệnh của Phao-lô được biến đổi. Ông được biến đổi từ một người ghét người ngoại đạo trở thành một người truyền đạo cho người ngoại đạo. Ông đã thay đổi từ một người Do Thái quá khích sang thành một người giảng đạo cho những người không phải là Do Thái. Là một người Do Thái và một người Pha-ri-si, Phao lô xem thường những người ngoại đạo bị khinh miệt như là thấp kém hơn những người được Chúa chọn. Kinh nghiệm tại Đa-mách thay đổi ông trở thành một sứ đồ tận tâm với sứ mạng cuộc sống của mình nhắm đến việc giúp đỡ những người ngoại đạo. Phao-lô đã thấy rằng Đấng Christ đã xuất hiện trước mặt ông thật sự là Đấng Cứu Rỗi cho mọi người. Phao lô thay đổi từ một người Pha-ri-si chính thống, người có sứ mạng bảo tồn nghiêm khắc Giu-đa giáo, trở thành người truyền giáo của cộng đồng mới và nguyên gốc được gọi là Cơ Đốc Giáo, ông đã chống đối một cách kịch liệt. Sự thay đổi ở trong ông rất sâu sắc mà “Phàm những người nghe điều lấy làm lạ, mà nói rằng: Há chẳng phải chính người đó đã bắt bớ tại thành Giê-ru-sa-lem những kẻ cầu khẩn danh nầy, lại đến đây để trói họ điệu về cho các thầy tế lễ cả hay sao? Còn Sau-lơ lần lần càng thêm vững chí, bắt bẻ những người Giu-đa ở tại thành Đa-mách, mà nói rõ rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ.”

Nhà sử học Philip Schaff tuyên bố rằng:

Sự biến đổi của Phao-lô đánh dấu không chỉ là điểm quay đầu trong lịch sử cá nhân của ông, những cũng là một sự bắt đầu quan trọng trong lịch sử của hội thánh các sứ đồ, và cuối cùng là trong lịch sử của loài người. Nó đã là một sự kiện có kết quả nhất từ khi xảy ra phép lạ Đức Thánh Linh giáng lâm, và đảm bảo sự chiến thắng chung của Cơ Đốc Giáo.

Trong một bữa trưa vào một ngày tại Trường Đại Học Houston, tôi ngồi cạnh một học sinh. Khi chúng tôi thảo luận về Cơ Đốc Giáo, ông đưa ra một lời phát biểu mà không có bằng chứng lịch sử cho Cơ Đốc Giáo hay là Đấng Christ. Tôi đã hỏi ông tại sao ông đã nghĩ như vậy. Ông đã là một người chuyên về lịch sử, và một trong những quyển sách của ông là lịch sử Rô-ma có chứa đựng một chương liên quan đến sứ đồ Phao-lô và Cơ Đốc Giáo. Học sinh đã đọc chương đó và thấy rằng nó bắt đầu bằng việc mô tả cuộc sống của sứ đồ Phao-lô. Sách cho rằng điều dẫn đến sự thay đổi là không rõ ràng. Tôi quay lại với quyển sách Công Vụ Các Sứ Đồ và giải thích sự hiện ra sau khi phục sinh của Đấng Christ đối với Phao-lô. Người học thấy ngay lập tức rằng điều này là một sự giải thích lô-gíc nhất cho việc biến đổi căn bản của Phao-lô. Phần bằng chứng bị mất đi này khiến cho những phần còn lại nằm ở đúng chỗ của chúng cho người đàn ông trẻ tuổi này. Sau đó ông trở thành Cơ Đốc Nhân.

Elias Andrews, nguyên là hiệu trưởng của trường Cao Đẳng Thần Học Queens, nhận xét:

Nhiều người đã tìm thấy sự biến đổi đáng kể của “Người Pha-ri-si này trong số những người Pha-ri-si’ là bằng chứng thuyết phục nhất của sự thật và quyền năng của tôn giáo mà ông được biến đổi thành, cũng như là giá trị thật và nơi của Nhân tính của Đấng Christ.

Bạn nghĩ gì?

Trong thời điểm của ông, Phao-lô có địa vị nổi tiếng-nhiều người biết ông là ai. Ngày hôm nay, khi một người nổi tiếng trở thành một Cơ Đốc Nhân thì phản ứng ban đầu của hầu hết nhiều người là như thế nào? Những người Cơ Đốc Nhân thu hút sự chú ý của công chúng có nên được xem là ở một tiêu chuẩn khác không?

Archibald McBride, là một giáo sư tại trường Đại Học Aberdeen, viết về Phao-lô: “Bên cạnh những thành tích đạt được của ông…những thành tích của Alexander và Napoleon mờ nhạt đi đến không đáng chú ý nữa”. Học giả Cơ Đốc đầu tiên Clement của Alexandria nói rằng Phao-lô “chịu xiềng xích bảy lần; rao giảng phúc âm ở phía Đông và phía Tây; đến giới hạn của phương Tây, và chết như một người tử đạo dưới những người thống trị”.

Phao lô nói lặp đi lặp lại rằng Chúa Giê-xu sống lại và đang sống đã biến đổi cuộc sống của ông. Ông được bắt phục về sự phục sinh của Đấng Christ từ kẻ chết và ông cũng vậy, chết một cái chết của một người tử đạo cho niềm tin của mình.

Hai người bạn được giáo dục ở Oxford, tác giả Gillbert West và chính khách ngài George Lyttleton, nhất định phải phá hủy các căn bản của niềm tin Cơ Đốc. Ông West dự định sẽ chứng minh sự ngụy biện về Sự Phục Sinh, và Lyttleton dự định sẽ chứng minh rằng Sau-lơ của Tarsus không bao giờ được chuyển đổi qua Cơ Đốc Giáo. Cả hai người đến một điểm quay ngược lại hoàn toàn trong vị thế của họ và trở thành những người nóng cháy theo Chúa Giê-xu. Ngài Lyttleton viết: “Sự cải đạo và riêng việc trở thành sứ đồ của thánh đồ Phao-lô khi được cân nhắc một cách hợp lý thì bản thân nó đã là một bằng chứng đủ để chứng minh Cơ Đốc Giáo là một Sự Mặc Khải Thiêng Liêng.” Ông kết luận rằng nếu hai mươi năm chịu khổ của Phao-lô và sự phục vụ cho Đấng Christ là một thực tế, thì sự cải đạo của ông là đúng, cho tất cả mọi điều ông đã bắt đầu với sự thay đổi bất ngờ đó. Và nếu sự cải đạo của Phao-lô là đúng, thì Chúa Giê-xu Christ đã sống lại từ kẻ chết, cho mọi điều mà Phao-lô đã từng và đã làm ông thêm vào sự minh chứng cho Đấng Christ phục sinh.

Một Đấng Mê-Si Đã Chết Thì Tốt Ở Điểm Nào?

Một Đấng Mê-Si Chịu Chết Thì Tốt Ở Điểm Nào?

Nhiều người đã chết vì những điều mà họ tin. Vào những năm 1960, nhiều người theo Đạo Phật thiêu sống bản thân họ đến chết để tạo sự chú ý của thế giới đến sự không công bằng tại Đông Nam Á. Trong những năm đầu của thập niên bảy mươi một học sinh San Diego thiêu bản thân mình đến chết để phản đối Chiến Tranh Việt Nam. Vào tháng 9 năm 2001, nhiều người cực đoan Hồi Giáo tấn công vào các máy bay và bay chúng vào trong tòa nhà Trung Tâm Thương Mại thế giới và Pentagon để mang đến sự tổn thất cho một đất nước mà họ xem là kẻ thù đối với tôn giáo của họ.

Các sứ đồ đã nghĩ rằng họ đã có những nguyên nhân xứng đáng để chết, nhưng họ đã rất ngạc nhiên và không còn ảo tưởng khi ‘nguyên nhân xứng đáng’ đó chết trên cây thập tự giá. Họ đã tin rằng Ngài là Đấng Mê-si. Họ đã không nghĩ rằng Ngài có thể chết. Họ được thuyết phục rằng Ngài là một Đấng tạo lập nên Vương Quốc Của Đức Chúa Trời và cai trị trên người Y-sơ-ra-ên, và sự chết của Ngài đã làm tan nát đi hy vọng của họ.

Bạn nghĩ gì?

Bạn đã nghe về một người nào đó có một đấng mê-si phức tạp? Bạn có thể giải thích điều đó có nghĩa gì không? Hành động của Chúa Giê-xu khác với những gì con người mong đợi từ một đấng mê-si là như thế nào?

Để có thể hiểu được mối quan hệ của các sứ đồ và Đấng Christ và tại sao Thập Tự Giá quá khó để hiểu được đối với họ, bạn phải nắm bắt được thái độ của cả quốc gia về Đấng Mê-si tại thời điểm của Đấng Christ. Cuộc sống và sự dạy dỗ của Ngàicó sự xung đột rất lớn với sự hiểu biết về đấng Mê-si của người Do Thái trong thời đó. Từ thời thơ ấu, một người Do Thái được dạy rằng khi Đấng Mê-si đến, ngài sẽ là một nhà lãnh đạo chính trị cai trị chiến thắng. Ngài sẽ khiến cho người Do Thái được tự do khỏi cảnh nô lệ cho người Rô-ma và khôi phục Y-sơ-ra-ên thành một nơi đúng là một đất nước tự do và tỏa sáng như một đèn hiệu cho cả thế giới. Một Đấng Mê-si phải chịu khổ nạn là “hoàn toàn lạ lẫm đối với khái niệm của người Do Thái về Đấng Mê-si.”

Giáo sư E.F. Scott của Hiệp Hội Các Trường Thần Học mang đến ghi chép của mình về khung cảnh được mong đợi tại thời điểm của Đấng Christ:

Giai đoạn đó là một trong những giai đoạn có đầy dẫy sự hân hoan. Những là lãnh đạo tôn giáo cho là hầu như không thể nào kiềm chế được nhiệt huyết của những người khác, những người đã đợi ở khắp mọi nơi để thấy được sự hiện diện của Đấng Giải Cứu được hứa. Tâm trạng chờ đợi này không nghi ngờ gì được tăng thêm bởi những sự kiện trong lịch sử gần đó.

Vì hơn một thế hệ đã đi qua, những người Rô-ma đã xâm chiếm sự tự do của người Do Thái, và giới hạn của sự đàn áp đã làm khuấy lên tinh thần yêu nước và sức sống mãnh liệt hơn. Giấc mơ về một sự giải cứu kỳ diệu, và của một vị vua Mê-si sẽ thực hiện điều này, cho rằng một ý nghĩa mới trong thời điểm đáng chú ý đó; nhưng trong bản thân nó thì không có điều gì mới. Sau lưng sự kích động mà chúng ta có bằng chứng ở trong các sách Phúc Âm, chúng ta có thể biết được rằng một giai đoạn rất dài trong sự mong đợi càng lớn dần.

Trong những người khác nói chung Đấng Mê-si vẫn duy trì là những gì Ngài đã làm với Ê-sai và những người đương thời với ông- Con Trai của Đa-vít sẽ mang đến sự chiến thắng và sung túc cho đất nước Do Thái. Theo như các tham chiếu của Phúc Âm, không thể nghi ngờ gì rằng khái niệm phổ biến về Đấng Mê-si chủ yếu là ở phương diện quốc gia và chính trị.

Học giả người Do Thái Joshep Klausner viết: “Đấng Mê-si đã trở nên hơn chỉ là một người cai trị chính trị uy việt nhưng cũng là một người có các đặc tính đạo đức ưu việt”.

Jacob Gartenhaus, người sáng lập Hội Quốc Tế Các Sứ Mệnh Do Thái, phản ảnh những niềm tin phổ biến nhất của người Do Thái trong thời kỳ của Đấng Christ: “Người Do Thái chờ đợi một Đấng Mê-xi như là một Đấng sẽ giải cứu họ ra khỏi sự áp bức của Rô-ma. Niềm hy vọng về một Đấng Mê-si cơ bản là cho một sự giải phóng dân tộc.”

Bách Khoa Toàn Thư Do Thái ghi chú rằng người Do Thái mong chờ một đấng giải cứu được hứa từ nhà của Đa-vít, người sẽ giải phóng họ ra khỏi ách của một kẻ ngoại quốc cướp quyền đáng ghét, và sẽ mang đến sự kết thúc cho sự cai trị Rô-ma nghịch đạo, và sẽ thành lập sự cai trị của chính Ngài về sự bình ban và công bình trong nơi ở của họ.

Vào thời điểm đó người Do Thái đang trú ẩn dưới Đấng Mê-si được hứa. Các sứ đồ cũng có niềm tin tương tự như nhiều người quanh họ. Như Millar Burrows tại trường Đại Học Thần Học Yale nói, “Giê-xu không giống như những gì tất cả những người Do Thái mong đợi từ một người con của Đa-vít mà chính những người môn đồ của Ngài xem điều đó hầu như là không thể để kết nối với ý tưởng về một Đấng Mê-si và Ngài.” Các môn đồ đã không chào mừng tiên đoán về phần mộ của Chúa Giê-xu về việc chịu đóng đinh (xem Lu-ca 9:22). Một giáo sư Tân Ước người Scotland A. B. Bruce đã quan sát rằng dường như có một hy vọng rằng cách nhìn về Ngài trong tình huống đó là quá ảm đạm, và sự lĩnh hội của Ngài sẽ trở nên không có nền tảng…một Đấng Christ chịu đóng đinh là một điều phỉ báng và là một sự trái ngược đối với các sứ đồ, nhiều đến mức nó đã tiếp tục trở thành phần chính của những người Do Thái sau khi Đức Chúa Trời đã thăng thiên lên sự vinh quang.

Alfred Edersheim, một lần giảng viên Grinfield về Bản Dịch Hy Lạp Cựu Ước tại trường Đại Học Oxford, đúng khi kết luận rằng “Một điều không nhất quán với Đấng Christ đó là thời điểm Ngài đến.” Sự thật đó hoàn toàn lạ lẫm với những mong muốn dâng cao trong thời điểm đó.

Chúng ta có thể dễ dàng thấy trong Tân Ước thái độ của những sứ đồ về Đấng Christ. Mọi thứ về Ngài đáp ứng được sự mong đợi của họ về một Đấng Mê-si đang ngự trị. Sau khi Chúa Giê-xu nói với họ rằng Ngài đã phải đi đến Giê-ru-sa-lem và phải chịu khổ hình, Gia-cơ và Giăng đã bỏ qua sự tiên đoán không rõ ràng và xin Ngài hứa rằng trong vương quốc của Ngài họ có thể ngồi ở phía trên trái và bên phải của Ngài (xem Mác 10:32-28). Đấng Mê-si nào mà họ đang nghĩ về- một Đấng Mê-si chịu khổ nạn và đóng đinh? Không. Họ đã xem chúa Giê-xu là một người lãnh đạo chính trị. Ông ngụ ý rằng họ đã hiểu sai về điều mà họ đã phải làm; họ đã không biết điều họ đang hỏi. Khi ông tiên đoán một cách cụ thể về sự chịu khổ nạn và đóng đinh của Chúa Giê-xu, ý tưởng đó rất lạ đối với tâm trí của những sứ đồ mà họ không thể nào hiểu được ông có ý gì ( xem Lu-ca 18: 31-34). Bởi vì lý lịch của họ và sự dạy dỗ trong những mong đợi về đấng mê-si Do Thái chung, họ đã nghĩ là họ đang ở trong một hoàn cảnh tốt. Tất cả những hy vọng mà Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si của họ chết trên cây thập tự. Họ trở về nhà mình, cảm thấy nản lòng vì tất cả những năm quá với Chúa Giê-xu đã là uổng phí.

Bạn nghĩ gì?

Có bất kỳ suy nghĩ nào của bạn về Chúa Giê-xu là ai đã không đúng? Hay được xác nhận? Tại sao bạn nghĩ các môn đồ đã gặp nhiều khó khăn trong việc biết chính xác Ngài là ai?

George Eldon Ladd, nguyên giáo sư của Tân Ước Tại Trường Thần Học Fuller viết:

Điều này cũng là tại sao các môn đồ của Ngài từ bỏ Ngài khi Ngài bị bắt. Suy nghĩ của họ hoàn toàn thấm đẫm với những ý tưởng về một Đấng Mê-si có vai trò khuất phục những kẻ thù mà khi họ thấy Ngài tan vỡ và đổ máu dưới sự đánh đập, một tù nhân không thể tự giúp lấy mình trong tay của Phi-lát, và khi họ thấy Ngài bị dẫn đi, đóng đinh vào một cây thập hình rồi chết như là một người tù tội bình thường, tất cả những hy vọng về đấng mê-si của họ đối với Chúa Giê-xu đã bị phá vỡ. Đó là một sự thật tâm lý dễ hiểu khi chúng ta chỉ nghe những điều chúng ta muốn nghe. Sự tiên đoán của Chúa Giê-xu về sự chịu khổ nạn và chịu chết của Ngài rơi vào trong những tai bị điếc. Các môn đồ mặc cho sự cảnh báo của Ngài, không sẵn sàng cho điều đó.

Nhưng một vài tuần sau Sự Chịu Đóng Đinh, mặc cho sự nghi ngờ cũ của họ, các môn đồ ở tại Giê-ru-sa-lem, tuyên bố Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi và Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si ở người Do Thái. Một giải thích hợp lý duy nhất tôi có thể thấy cho sự thay đổi này là điều tôi đọc ở trong 1 Cô-rinh-tô 15:5: “và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ.” Điều gì khác có thể khiến cho những môn đồ chán nản đó đi ra ngoài, chịu khổ nạn và chết cho một đấng Mê-si bị đóng đinh? Chúa Giê-xu “Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời” (Công vụ 1:3).

Những người đàn ông này đã học một lẽ thật về nhận diện của Chúa Giê-xu là một Đấng Mê-si. Người Do Thái đã hiểu sai. Lòng yêu nước của họ đã dẫn họ nhìn vào một Đấng Mê-si để cứu dân tộc của họ. Đấng đã đến thay vào đó là một Đấng Mê-si có thể cứu cả thế giới. Một Đấng Mê-si không chỉ cứu vớt một dân tộc ra khỏi sự áp bức chính trị nhưng tất cả con người ra khỏi hậu quả đời đời của tội lỗi. Tầm nhìn của sứ đồ đã trở nên quá nhỏ. Đột nhiên chúng ta đã thấy một sự thật lớn hơn.

Vâng, nhiều người đã chết cho một nguyên do tốt, nhưng ‘nguyên do tốt’ của các sứ đồ đã chết trên thập tự giá. It nhất, đó là điều họ suy nghĩ lúc ban đầu. Chỉ có sự tương tác của họ với Đấng Christ sau sự Phục Sinh thuyết phục những người này rằng Ngài thật sự là Đấng Mê-si. Đối với điều này họ cảm thấy kinh ngạc không chỉ với môi miệng và cuốc sống của họ nhưng còn là sự chết của họ nữa.

Bạn nghĩ gì?

Bạn đã từng có những kỳ vọng nào thay đổi một cách đáng chú ý không? Bạn nghĩ là những môn đồ đã cảm nhận gì vào chính lúc họ nhận ra Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si sống lại?

 

Ai Lại Chịu Chết Cho Một Sự Dối Trá?

Lịch Sử Dựa Vào Những Lời Chứng

Những người thách thức Cơ Đốc Giáo thường xem nhẹ một phần của bằng chứng: sự biến đổi của các sứ đồ theo Chúa Jêsus. Cuộc sống thay đổi một cách đáng ngạc nhiên của những người đàn ông này mang đến cho chúng ta một lời chứng chắc chắn về giá trị của các tuyên bố của Đấng Christ.

Bởi vì niềm tin Cơ Đốc mang tính lịch sử, kiến thức của chúng ta về niềm tin đó phụ thuộc mạnh mẽ vào lời làm chứng, kể cả bằng lời nói và văn bản. Không có những lời chứng đó, chúng ta không có cửa sổ nào để bước vào trong các sự kiện lịch sử, về những Cơ Đốc Nhân hay những người khác. Thật ra, tất cả lịch sử là cốt yếu là kiến thức của quá khứ dựa vào lời làm chứng. Nếu việc dựa vào bằng chứng như vậy dường như đem đến cho lịch sử một nền tảng không vững chắc, chúng ta phải hỏi, chúng ta học gì từ quá khứ? Làm sao chúng ta biết được rằng Na-pô-lê-ông đã sống? Không ai trong chúng ta sống trong thời kỳ của ông. Chúng ta đã không nhìn thấy ông hay gặp mặt ông. Chúng ta phải dựa vào những lời chứng.

Kiến thức lích sử của chúng ta có một vấn đề cố hữu: Chúng ta có thể tin rằng những lời chứng là đáng tin cậy không? Bởi vì kiến thức của chúng ta về Cơ Đốc Giáo chỉ dựa vào lời chứng được mang đến từ quá khứ trước đó, chúng ta cần hỏi xem chúng ta có thể phụ thuộc vào tính chính xác của nó không? Có phải những lời chứng bằng miệng về Chúa Jêsus là đáng tin cậy không? Chúng ta có thể tin tưởng những lời chứng đó đã tường thuật một cách chính xác những gì Chúa  đã nói và làm? Tôi tin là chúng ta có thể.

Tôi có thể tin những lời chứng của các sứ đồ bởi vì mười một người trong số những người đó biết bằng những cái chết vì đạo bởi vì họ đứng vững trên hai lẽ thật: thần tánh và sự sống lại của Đấng Christ. Những người đàn ông này đã bị hành hạ và đánh đập, và hầu như cuối cùng chịu chết bằng một trong những cách độc ác nhất từng được biết đến lúc đó:

  1. Phi-e-rơ, lúc ban đầu được gọi là Si-môn, bị đóng đinh.
  2. An-rê bị đóng đinh.
  3. Gia-cơ, con trai Zê-bê-đê, bị giết bởi kiếm.
  4. Giăng, con trai Zê-bê-đê, chết tự nhiên.
  5. Phi-líp bị đóng đinh.
  6. Ba-tô-lô-mê-ô bị đóng đinh.
  7. Thô-ma bị giết bởi một cái giáo.
  8. Ma-thi-ơ bị giết bởi thanh kiếm.
  9. Gia-cơ, con trai An-phê bị đóng đinh.
  10. Ta-đê-ô bị ghiết bởi cung tên.
  11. Si-môn, kẻ quá khích, bị đóng đing.

Cách nhìn mà tôi thường nghe là “Ồ, những người đàn ông này chết cho một sự lừa dối. Nhiều người đã làm thế. Như vậy điều đó chứng minh được điều gì?”

Bạn nghĩ gì?

Có điều gì hoặc người nào bạn sẽ chết cho không? Tại sao bạn lại nghĩ như thế?

Vâng, nhiều người đã chết cho một sự dối trá, nhưng họ cũng đã tin là đó là sự thật. Trường hợp với những môn đồ này là thế nào? Nếu Sự Phục Sinh đã không xảy ra, rõ ràng rằng các môn dồ đã phải biết được điều đó. Tôi không thể tìm được cách nào mà những người đàn ông này có thể bị lừa. Vì thế nếu họ không chỉ chết cho một sự dối trá-nhưng đây là điều đáng chú ý- nhưng họ đã phải  biết rằng đó là một sự dối trá. Việc tìm một nhóm người ở bất cứ nơi đâu trong lích sử bằng lòng chết cho một sự dối trá nếu biết đó là một sự dối trá là rất khó.

Hãy cùng nhìn vào một vài khía cạnh sẽ giúp chúng ta hiểu được những lẽ thật thực tế về những điều mà họ đã tin.

  1. Họ Là Những Nhân Chứng Thấy Tận Mắt

Quyển sách uyên bác của ông vào năm 2006 Chúa Jêsus Và Những Nhân Chứng, giáo sư Tân ước Richard Bauckham chứng minh rằng bốn sách Phúc Âm cung cấp bằng chứng đáng tin cậy mà có thể được truy tìm lại với chính bản thân những nhân chứng.

Các sứ sồ biết và những môn đồ khác nói như là những nhân chứng thực sự dối với những sự kiện họ mô tả. Phi-e-rơ nói: “Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.” (2 Phi-e-rơ 1:16). Các sứ đồ chắc chắn đã biết sự khác nhau giữa huyền thoại hoặc truyền thuyết và thực tế.

Trong lá thư đầu tiên của mình, Giăng nhấn mạnh khía cạnh nhân chúng trong kiến thức của họ, giải thích cách ông và những sứ đồ khác có được thông tin về điều mà Chúa Giê-xu “đã làm” và “đã phán” Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về lời sự sống; vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi; chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.” (1 Giăng 1: 1-3). Giăng bắt đầu phần cuối của sách Phúc Âm mình viết bằng việc nói rằng: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy” (Giăng 20:30).

Lu-ca nói rằng, “Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhơn, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông” (Lu-ca 1: 1-3).

Bạn nghĩ gì?

Bạn đã từng là một nhân chứng cho một điều gì đó và sau đó bạn được hỏi để nói ra những điều bạn đã thấy? Mọi người có tin bạn không? Điều gì khiến bạn là một nhân chứng đáng tin cậy?

Như vậy trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ, Lu-ca bày tỏ bốn mươi ngày sau Sự Phục Sinh, khi các người theo chúa Giê-xu quan sát Ngài kỹ càng: “Hỡi Thê-ô-phi-lơ, trong sách thứ nhứt ta, ta từng nói về mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu, cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn. Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời. (Công-vụ-các-sứ-đồ 1: 1-3).

Chủ đề trung tâm cho việc theo những lời chứng của những nhân chứng là sự sống lại của Chúa Giê-xu. Các sứ đồ là những nhân chứng về sự sống lại của Ngài.

  1. Họ Cần Phải Được Thuyết Phục

Các sứ đồ nghĩ rằng khi Chúa Jêsus chết đi, mọi thứ sẽ kết thúc. Khi Ngài bị bắt, họ chạy đi và trốn (xem Mác 14:50). Khi họ được báo về ngôi mộ trống không, lúc ban đầu họ đã không tin điều đó (xem Lu-ca 24:11). Chỉ sau khi có đủ những bằng chứng thuyết phục họ mới tin. Lúc đó có Thô-ma, người đã nói là ông sẽ không tin rằng Đấng Christ sống lại từ cõi chết cho đến khi ông đặt ngón tay của mình vào trong những vết thương của Đấng Christ. Thô-ma sau đó tử đạo vì danh Đấng Christ. Có phải ông đã bị lừa không? Ông đánh cược sự sống của mình là ông không bị lừa.

Sau đó đến Phi-e-rơ. Ông chối bỏ Chúa của mình nhiều lần trong khi Đấng Christ chịu thử thách và cuối cùng rời bỏ Đấng Christ. Nhưng một điều gì đó đã thay đổi sự nhút nhát của ông. Một thời gian ngắn sau khi Đấng Christ chịu đóng đinh và chôn, Phi-e-rơ có mặt ở Giê-ru-sa-lem giảng dạy một cách mạnh mẽ, dưới sự đe dọa bị giết, rằng Chúa Jêsus là Đấng Christ và đã sống lại. Cuối cùng, Phi-e-rơ bị đóng đinh (ngược chiều, theo như truyền thống). Điều gì có thể thay đổi con người chối bỏ sự sợ hãi này trở thành một con sư tử mạnh mẽ cho Chúa Jêsus?

Tại sao Phi-e-rơ đột ngột sẵn lòng để chết cho Ngài? Có phải sứ đồ này đã bị lừa? Gần như là không. Cách giải thích duy nhất có thể thỏa mãn tôi đó là điều chúng ta đọc trong 1 Cô-rinh-tô 15:5, và sau sự phục sinh của Chúa, và ông đã tin- đến nỗi ông sẵn lòng chết cho niềm tin của mình.

Một ví dụ cổ điển về một người đàn ông thuyết phục ngược lại với điều mình mong muốn đó là Gia-cơ, em trai của Chúa Jêsus. (Mặc dù Gia-cơ không phải là một trong mười hai người lúc ban đầu [xem Ma-thi-ơ 10: 2-4], sau đó ông được xem là một sứ đồ [xem Ga-la-ti 1:19], cũng giống như là Phao-lô và Ba-na-ba [xem Công Vụ 14:14]. Trong khi Chúa Jêsus lớn lên và thi hành công tác của mình, Gia-cơ đã không tin rằng anh của mình là Con của Đức Chúa Trời (xem Giăng 7:5). Không nghi ngờ gì Gia-cơ tham gia cùng với các em mình trong việc cười nhạo Chúa Jêsus, có thể nói những điều như là :”Anh muốn mọi người tin anh ư? Sao anh không đi dến Giê-ru-sa-lem và làm nên một vở diễn lớn với các phép lạ và sự chữa lành của anh?” Gia-cơ đã phải đã cảm thấy xấu hổ rằng anh trai của mình đi khắp nơi mang đến sự xấu hổ và cười nhạo trên danh sự của gia đình với tất cả những lời tuyên bố hoang dại của mình: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6); Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh” (Giăng 15:5); “Ta là người chăn chiên hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta” (Giăng 10:14). Bạn nghĩ gì nếu anh trai của bạn đi quanh xóm giềng và nói những lời như vậy?

Bạn nghĩ gì?

Phần nhiều, các em trai của Chúa Jêsus lưỡng lự với những gì Chúa Jêsus làm và nói. Theo truyền thống, các thành viên trong gia đình thường là những người kháng cự đối với một thay đổi của một thành viên trong gia đình. Tại sao bạn nghĩ là như vậy?

Nhưng điều gì đó đã xảy đến với Gia-cơ. Sau khi Chúa Jêsus chịu đóng đinh và chịu chôn, Gia-cơ dạy tại Giê-ru-sa-lem. Thông điệp của ông đó là Chúa Jêsus đã chết cho tội lỗi của chúng ta và phục sinh và vẫn đang sống. Cuối cùng thì Gia-cơ trở thành một nhân vật dẫn đầu tại hội thánh Giê-ru-sa-lem và đã viết nên một quyển sách, sách Phúc Âm Gia-cơ. Ông bắt đầu viết, “Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ” (Gia-cơ 1:1). Cuối cùng Gia-cơ bị ném đá cho đến chết theo lệnh từ thầy tế lễ cả thượng phẩm A-na-nia. Điều gì có thể thay đổi Gia-cơ từ mộ người cười nhạo xấu hổ trở thành một người sẵn lòng chết vì thần tánh của anh trai mình? Có phải Gia-cơ bị lừa? Không. Sự giải thích hợp lý duy nhất đó là điều chúng ta đọc ở trong 1 Cô-rinh-tô 15:7: “Sau đó [sau sự phục sinh của Đấng Christ] Ngài hiện ra cùng Gia-cơ”. Gia-cơ đã thấy Đấng Christ phục sinh và tin.

J.P. Moreland, giáo sư về triết học tại trường thần học Talbot, giải thích điều đáng ngạc nhiên về sự thật rằng Giăng, em trai của Chúa Jêsus cuối cùng tin vào Chúa Jêsus là Đấng Mê-si:

Các sách Phúc Âm nói với chúng ta về gia đình của Chúa Jêsus, bao gồm Giăng, cảm thấy xấu hổ vì những điều Chúa Jêsus tuyên bố. Họ đã không tin Ngài, họ giáp mặt với Ngài. Trong truyền thống của người Giu-đa, việc gia đình rabbi (thầy dạy) không chấp nhận Ngài là một điều rất đáng xấu hổ. Vì thế, những người viết phúc âm đã không có động lực nào để bịa đặt lên điều hoài nghi này nếu nó không phải là sự thật. Sau đó, nhà sử học Josephus nói cho chúng ta về Gia-cơ, em của Chúa Jêsus, người đã là lãnh đạo của một hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, bị ném đá cho đến chết bởi vì niềm tin của ông vào anh trai mình. Tại sao cuộc sống của Gia-cơ thay đổi? Phao-lô nói với chúng ta: Chúa Jêsus Phục Sinh đã xuất hiện trước mặt ông. Không có một sự giải thích nào khác.

Nếu Sự Phục Sinh là một điều dối trá, các sứ đồ đã phải biết được điều đó. Phải chăng họ ghi nhớ mãi trò lừa bịp khổng lồ này? Khả năng này không đúng với điều chúng ta biết về chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống họ.

Cá nhân họ không đồng tình với sự dối trá và nhấn mạnh sự chân thật. Nhà sử học Edward Gibbon trong tác phẩm nổi tiếng của mình Lịch Sử Về Sự Giảm Sút và Sụp Đổ Của Đế Quốc Rô-ma (The History of the Decline and Fall of the Roman Empire) mang đến một đạo đức trong sáng hơn nhưng nghiêm khắc hơn đối với những Cơ Đốc Nhân đầu tiên” là một trong năm lý do cho sự thành công nhanh chóng của Cơ Đốc Giáo. Michael Green, là một nhà nghiên cứu kỳ cựu tại Wycliffe Hall, trường đại học Oxford, quan sát rằng Sự Phục Sinh là một niềm tin biến đổi những người theo có tấm lòng tan vỡ về về người thầy chịu đóng đinh đến những nhân chứng dũng cảm và tử đạo trong hội thánh đầu tiên. Điều này là một niềm tin khác biệt giữa những người theo Chúa Giê-xu và những người Do Thái, và khiến họ quay lại với cộng đồng của sự phục sinh. Bạn có thể bỏ tù họ, hành hạ họ, giết họ, nhưng bạn không thể nào làm cho họ chối bỏ điều họ tin rằng “vào ngày thứ ba Ngài sống lại”.

  1. Họ Trở Nên Dũng Cảm

Những hành động mạnh mẽ của những sứ đồ ngay lập tức sau khi họ được thuyết phục về sự Phục Sinh khiến cho sự giả mạo hầu như không có khả năng. Họ trở nên dũng cảm gần như là qua đêm. Sau sự Phục Sinh, Phi-e-rơ là người đã chối bỏ Đấng Christ, đứng lên thậm chí trước sự đe dọa về cái chết và tuyên bố rằng Chúa Giê-xu vẫn sống. Những nhà chức chắc khác đã bắt giữ những người theo Chúa Giê-xu và đánh họ, thế nhưng họ vẫn sớm quay trở lại trên đường để nói lớn về Chúa Giê-xu (xem Công vụ 5: 40-42).

Những người bạn của họ để ý thấy sự năng nổ của họ, và những kẻ thù của họ để ý thấy sự dũng cảm của họ. Hãy nhớ rằng các sứ đồ đã không giữ sự mạnh mẽ của mình ở trong những thị trấn không ai biết đến. Họ đã giảng ở tại Giê-ru-sa-lem.

Những người theo Chúa Giê-xu không thể nào đối mặt với sự tra tấn và cái chết nếu họ không được thuyết phục về sự phục sinh của Ngài. Sự nhất quán trong thông điệp và hành động của họ là rất kỳ diệu. Những con số lẻ so với một nhóm người rất lớn đồng ý trong chủ đề gây tranh cãi như vậy là rất đáng chú ý, thế nhưng những người này đã đồng ý với một lẽ thật về Sự Phục Sinh. Nếu họ là những người lừa dối, rất khó để giải thích tại sao ít nhất là một trong số họ đã không bị suy sụp dưới áp lực mà họ phải trải qua.

Blaise Pascal, nhà triết lý người pháp, viết:

Luận điệu rằng các Sứ Đồ là những người lừa đảo là khá vô lý. Hãy cùng lần theo các chỉ thị cho kết luận hợp lý của nó. Hãy cùng hình dung mười hai người đàn ông kia, gặp lại nhau sau cái chết của Đấng Christ, và bắt đầu lập âm mưu để nói rằng Ngài đã sống lại. Điều đó đã phải tạo thành một sự tấn công đối với các những nhà chức trách nhân dân và tôn giáo. Tấm lòng của một con người có thể không kiên định và hay thay đổi, nó đu đưa theo những lời hứa, cám dỗ bởi những vật chất. Nếu bất cứ người nào trong những người này đã chịu dưới sự cám dỗ rất lôi cuốn, hoặc đã nhường đường cho những sự tranh luận bắt buộc về tù tội, tra tấn, tất cả họ đều đã bị hư mất.

J.P Moreland giải thích “Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh”, những người theo Ngài cảm thấy không được khích lệ và rất buồn phiền. Họ không còn có sự tin cậy rằng Chúa Jêsus được gửi đến bởi Đức Chúa Trời bởi vì họ đã tin vào bất cứ ai chịu đóng đinh là bị nguyền rủa bởi Đức Chúa Trời. Họ cũng đã được dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ không thể Đấng Mê-si của Ngài chịu chết. Cho nên họ giải tán. Phong trào Chúa Jêsus là tất cả nhưng đã dừng lại trên đường đi của nó. Sau đó một giai đoạn ngắn, chúng ta thấy họ từ bỏ công việc của mình, gặp lại nhau và cống hiến bản thân mình để rao giảng một thông điệp rất cụ thể-rằng Chúa Jêsus Christ là Đấng Mê-si của Đức Chúa Trời, Đấng chết trên thập tự giá, sống lại, và được thấy là vẫn sống bởi họ. Và họ sẵn lòng sẽ dành phần đời còn lại của mình để tuyên bố điều này, mà không có sự hoàn trả nào từ cách nhìn của một con người. Không phải là đã có một ngôi nhà lớn đang chờ đợi họ ở tại vùng Trung Đông. Họ phải đối mặt với cả cuộc đời khó khăn. Họ thường không có thức ăn để ăn, ngủ ở những nơi trống trải, bị cười chê, đánh đập, bắt giam. Và cuối cùng, hầu hết họ đều bị giết bằng những cái chết tra tấn. Cho điều gì chứ? Cho những mục đích tốt ư? Không, bởi bì họ được thuyết phục vượt trên cả cái bóng của sự nghi ngờ rằng họ đã thấy Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ kẻ chết. Điều bạn không thể giải thích đó là cách mà nhóm người cụ thể này đã tạo nên một niềm tin cụ thể này mà không có một sự trải nghiệm về Đấng Christ phục sinh. Không có một lời giải thích phù hợp nào khác.

Bạn nghĩ gì?

Bạn có khâm phục những người sẵn lòng chết hay đã chết cho một nguyên do nào không? Điều gì lôi cuốn bạn đến những điều đó? Điều gì khiến bạn sợ về những điều đó? Bạn có thể học được những điều gì từ chúng không?

Michael Green hỏi “Làm sao họ có thể thay đổi dường như là qua đêm như vậy”, “trở thành một nhóm người nhiệt huyết không thể bị đánh bại, những người đã dũng cảm với sự chống đối, nghi ngờ, cười nhạo, khó khăn, tù tội và cái chết ở ba châu lục khác nhau, họ đã rao giảng khắp nơi về Chúa Jêsusvà sự sống lại của Ngài?”

Một nhà văn ghi lại những mô tả về sự thay đổi xảy đến trong cuộc sống của những sứ đồ:

Vào ngày Chúa Jêsus chịu đóng đinh, lòng họ tràn đầy sự buồn rầu; vào ngày đầu tuần họ tràn đầy niềm vui. Tại lúc Chúa Jêsus chịu đóng đinh họ cảm thấy vô vọng, vào ngày đầu tuần trái tim họ rực sáng với sự tin chắc chắn và hy vọng. Khi thông điệp về Sự Phục Sinh mới đến, nó cực kỳ đáng nghi ngờ và khó để được thuyết phục, nhưng ho họ trở nên chắc chắn, họ không bao giờ nghi ngờ một lần nữa. Điều gì có thể là nguyên do cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên trong những con người này trong một thời gian ngắn như vậy? Đơn thuần là nếu không có một thân thể ở trong phần mộ thì không bao giờ có thể biến đổi tâm linh và tính cách của họ như vậy. Ba ngày không đủ để một huyền thoại mọc lên mà có thể ảnh hưởng đến họ như vậy. Thời gian cần cho một quá trình phát triển một huyền thoại. Đó là một sự thật tâm lý đòi hỏi một sự giải thích đầy đủ. Hãy nghĩ về một nhân vật trong những người làm chứng, những người đàn ông đàn bà đã mang đến thế giới những lời dạy dỗ đạo đức cao nhất mà từng được biết đến, và người thậm chí trên bài làm chứng về những kẻ thù sống trong cuộc sống của họ. Hãy nghĩ về sự vô lý về mặt tâm lý về việc hình dung một nhóm của những người nhút nhát thất bại co mình lại trong phòng một ngày và một ngày sau đó biến đổi trở thành một nhóm người mà không có sự áp đặt nào có thể khiến họ im lặng- và sau đó cố gắng để thêm vào sự thay đổi đáng ngạc nhiên này thành không có điều gì thuyết phục hơn là một sư bịa đặt đau khổ mà họ đang cố gắng để mang vào trong thế giới. Điều đó đơn giản là không có ý nghĩa gì?

Nhà sử học về hội thánh Kenneth Scott Latourette viết:

Các tác động của sự sống lại và sự đến của Đức Thánh Linh trên các môn đồ là một điều quan trọng chính. Từ những người không được thích lệ, không ảo tưởng đã nhìn lại một cách buồn bã về những ngày mà họ đã hy vọng rằng Chúa Jêsus “là Đấng đến để giải cứu Y-sơ-ra-ên”, họ được biến đổi thành một nhóm những người làm chứng đầy nhiệt huyết.

N.T.Right, nguyên giáo sư về Tân Ước Học tại trường Đại Học Oxford tại Anh giải thích,

Nhà lịch sử học phải nói “Làm sao chúng ta có thể giải thích sự thật mà phong trào này lan rộng rất nhanh với việc Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, thâm chí thông qua việc Chúa Jêsus bị đóng đinh?” Câu trả lời phải là, điều đó chỉ có thể là, bởi vì Ngài sống lại từ kẻ chết.

Paul Little, phó giáo sư về tin lành tại Trường Trinity Evangelical Dininity School, hỏi:

Có phải những người này, người đã giúp biến đổi hệ thống đạo đức của xã hội, hoàn toàn là những người dối trá hoặc những người bị lừa dối ngu ngốc? Những sự lựa chọn này khó tin hơn sự thật về sự Sống Lại, và không có một chút bằng chứng nào để ủng hộ cho những lựa chọn đó.

Sự kiên định của những sứ đồ thậm chí đến chết không thể nào được giải thích cho qua. Theo như quyển bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica, triết lý gia Origen ghi lại rằng Phi-e-rơ bị đóng đinh với đầu ngược xuống đất. Nhà sử học về hội thánh Herbert B. Workman mô tả sự chết của sứ đồ :

Vì thế Phi-e-rơ, như lời Đức Chúa Trời đã tiên đoán, là “sự nhạo báng” bởi người khác, và được “mang” đến sư chết dọc theo đường Arelian Way, đến một nơi rắn sỏi bên cạnh các khu vườn cỉa Nẻo trên đồi Vatican, nơi có nhiều anh em đã chịu một cái chết tàn ác. Như chính lời yêu cầu của mình ông đã chịu đóng đinh với đầu ngược xuống đất, vì không xứng đáng chịu hình phạt như Thầy mình.

Harrold Mattingly, là một giáo sư danh tiếng tại trường Đại Học Leeds, viết trong văn bản lịch sử của mình: “Các sứ đồ, Phi-e-rơ và Phao-lô, đóng dấu sự làm chứng của họ bằng chính máu của mình. Tertullian viết rằng “không có người nào sẵn lòng chịu chết trừ khi người ấy biết rằng người ấy có được sự thật. Giáo sư luật Harvard Simon Greenleaf, một người đã giảng dạy trong nhiều năm về cách để xem xét từng phần một bằng chứng và xác định người đó có đang dối hay không, kết luận:

Các biên niên của các cuộc chiến quân sự mang đến một ví dụ đáng kinh ngạc về sự bền lòng anh hùng, sự kiên nhẫn, sự can đảm không chùn bước. Họ đã có mọi động cơ có thể để xem lại một cách cẩn thận các nền tảng của niềm tin họ, và bằng chứng về những sự thật và lẽ thật lớn lao và họ khẳng định.

Giáo sư lịch sử Lynn Gardner hỏi một cách đúng đắn,

Ai sẽ chết cho điều mà họ đã biết là một sự dối trá? Một người có thể bị lừa dối và chết cho sự sai lầm đó. Nhưng những sứ đồ đã ở trong một vị thế để biết được các sự thật và về sự sống lại của Chúa Jêsus, và họ vẫn chết cho điều đó.

Tom Anderson, nguyên hiệu trưởng của hội California Trial Lawyers Association, phát biểu,

Khi cho rằng những ghi chép được viết về sự xuất hiện của Ngài đến hàng trăm người là sai. Tôi muốn đặt một câu hỏi. Với một sự kiện được đưa ra công chúng tốt đẹp như vậy, bạn có nghĩ rằng việc một nhà sử học, một người làm chứng, một người đối lập đã ghi lại ở bất cứ lúc nào là người đó đã thấy thân thể của Đấng Christ là hợp lý?…Sự im lặng của lịch sử đang làm câm tiếng nói về bằng chứng chống nghịch lại sự phục sinh.

J.P. Moreland chỉ ra rằng, “không có nhà sử học nào mà tôi biết nghi ngờ rằng việc Cơ Đốc Giáo bắt đầu ở tại Giê-ru-sa-lem chỉ một vài tuần sau cái chết của Chúa Jêsus trước sự có mặt của những nhân chứng thân thiện cũng như là đối lập”. Ngoài ra, như William Lan Craig, giáo sư nghiên cứu về triết lý tại Talbot School of Theology kết luận rằng,

Cảnh tượng về phần mộ của Chúa Jêsus được biết đến bởi các Cơ Đốc Nhân và cũng như là người Do Thái. Như vậy nếu ngôi mộ không trống, điều này đã là không thể đối với một phong trào được sáng lập dựa trên niềm tin về một Sự Phục Sinh để tồn tại trong cùng một thành phố nơi con người này đã bị áp giải và chôn cất trước công chúng.

Các sứ đồ đi qua thử thách về cái chết để chứng minh tính xác thực về điều mà họ đang tuyên bố. Tôi tin rằng tôi có thể tin lời chứng của họ hơn là của nhiều người mà tôi gặp ngày hôm nay. Tôi buồn rầu khi thấy nhiều người không có đủ can đảm trong cuộc sống thậm chí là để đi qua con đường của điều mà lòng họ tin, còn ít người muốn chết cho điều đó hơn nữa.

Bạn nghĩ gì?

Những môn đồ có được sự đáng tin đến mức nào trong việc sử dụng cuộc đời của chính họ làm  lời xác nhận cho niềm tin của mình? Họ có thể làm điều gì khác hơn để bày tỏ ra sự chân thật của họ?

 

Xác định các sách Tân Ước có đáng tin cậy không? Phần 3

Kiểm Tra Bằng Chứng Bên Ngoài

Bài kiểm tra thứ ba về tính lịch sử của bằng chứng bên ngoài. Vấn đề ở đây là những tài liệu lịch sử khác xác nhận hay bác bỏ những bằng chứng bên trong của chính bản thân những tài liệu đó. Nói cách khác, những nguồn nào, ngoại trừ những tác phẩm ở dưới sự phân tích, chứng minh tính chính xác, đáng tin cây và chân thật của tài liệu?

Louis Gottschalk tranh luận rằng “sự làm theo hoặc đồng thuận với những bằng chứng lịch sử và khoa học được biết đến thường là bài kiểm tra quyết định về bằng chứng, cho dù từ một hay là những nhân chứng khác”.

Hai người bạn và những môn đồ khác củasứ đồ Giăng xác nhận những bằng chứng bên trong có ở trong ghi chép của Giăng. Đầu tiên là Papias, giám mục của Hierapolos (AD 130). Nhà lịch sử học Eusebius bảo tồn những bài viết của Papias như sau:

Trưởng Lão [Sứ đồ John] cũng từng nói điều này: “Mác, đã là một người thông dịch của Phi-e-rơ, đã viết xuống một cách chính xác tất cả những điều mà anh ấy [Phi-e-rơ] đề cập tới, cho dù bằng lời nói hay hành động về Đấng Christ hay không, tuy nhiên là theo thứ tự. Bởi vì ông không phải là một người nghe hay một người đồng hành cùng Đức Chúa Trời, nhưng sau đó, như tôi đã nói, ông đồng hành cùng với Phi-e-rơ, người đã thích nghi với những lời dạy như là điều cần thiết phải có, không phải là ông đang làm một sự biên soạn về những lời nói của Đức Chúa Trời. Vậy nên Mác không có phạm lỗi gì, viết xuống cách này một số điều như ông đã đề cập đến, bởi vì ông chú ý đến một điều này, không phải là bỏ qua những gì ông đã nghe, không phải là để kết hợp bất kỳ lời phát biểu sai trái nào giữa họ.”

Người bạn thứ hai của Giăng là một trong những môn đồ của ông, Polycarp, người đã trở thành giám mục của Smyrna và đã là một Cơ Đốc Nhân trong vòng tám mươi sáu năm qua. Học trò của Polycarp là Irenaeus, là giám mục sau đó của Lyons (180 SCN) đã viết về điều mà ông đã học được từ Polycarp (môn đồ của Giăng):

Ma-thi-ơ xuất bản phúc âm của mình ở giữa những người Hê-bơ-rơ [ví dụ, người Do Thái] bằng giọng của chính họ, khi Phi-e-rơ và Phao-lô đang giảng phúc âm tại Rô-ma và tạo lập ra một Hội Thánh ở đó. Sau khi họ ra đi [ví dụ, chết, truyền thống mạnh mẽ đặt vào thời điểm dưới sự bắt bớ của Nero vào năm 64 SCN] Mác, môn đồ và người thông dịch của Phi-e-rơ, bản thân ông đã truyền xuống cho chúng ta trong bài viết những căn bản trong lời rao giảng của Phi-e-rơ. Lu-ca, người theo sau Phao-lô, đặt ở trong một quyển sách phúc âm được giảng ra bởi thầy của ông. Sau đó, Giăng, môn đồ của Đức Chúa Trời, cũng nghiên lên ngực ông [đây là một tham chiếu tại Giăng 13:25 à 21:20] tạo nên Phúc Âm của mình, trong khi ông đang sống tại Ephesus tại Châu Á.

Trong sách Chúa Giê-xu Lịch Sử: Bằng Chứng Cổ Điển cho Cuộc Sống Của Đấng Christ, Gary Habermas ghi chú lại một cách tỉ mỉ những bằng chứng ngoài kinh thánh cho Chúa Giê-xu lịch sử.

Hy Lạp, Rô-ma, và những tài liệu Do Thái đưa ra sự ủng hộ cho những yếu tố về cuộc sống, công tác phục vụ và sự chết của Chúa Giê-xu. Bằng chứng này bao hồm những ví dụ đáng chú ý như là (1) Sự chịu đóng đinh của Chúa Giê-xu là một Thần; (2) thờ phượng Chúa Giê-xu là thần; (3) Lòng tin nơi sự sống lại của Chúa Giê-xu; (4) Chúa Giê-xu là anh của Gia-cơ; và (5) ngôi mộ trống. Habermas kết luận rằng “các nguồn tài liệu cổ xưa ngoài kinh thánh bày tỏ một lượng lớn đáng ngạc nhiên các chi tiết liên quan đến cuộc sống của Chúa Giê-xu và tính chất của Cơ Đốc Giáo lúc ban đầu.

Bạn nghĩ gì?

Thậm chí với bằng chứng khảo cổ, những nhà bình luận thường cho rằng Thánh Kinh không đúng về mặt lịch sử. Tại sao bạn nghĩ nó là như vậy? Có bất kỳ bằng chứng nào mà không thể chối cãi được đối với bạn không?

Khảo cổ học cũng cung cấp những bằng chứng bên ngoài rất quyền lực. Nó góp phần vào việc phê bình kinh thánh, không ở trong mặt gây cảm hứng hay sự bày tỏ, nhưng cung cấp bằng chứng cho tính chính xác liên quan đến những sự kiện được chép lại. Nhà khảo cổ học Joseph Free viết: “Khảo cổ học đã xác định vô số các đoạn văn không thể đếm được, đã bị bác bỏ bởi những người phê bình là không đúng với lịch sử hoặc trái ngược với những sự thật được biết.

Chúng ta đã thấy cách mà khảo cổ học khiến cho ông William Ramsay để thay đổi sự kết án tiêu cực lúc ban đầu về tính lịch sử của Lu-ca và kết luận rằng sách Công Vụ Các Sứ Đồ chính xác trong cách nó mô tả về địa lý, di tích cổ, và xã hội Tiểu Á.

F.F. Bruce chú ý rằng “nơi Lu-ca có sự nghi ngờ về tính không chính xác, và tính chính xác đã được chứng minh bởi một số bằng chứng [bên ngoài] không được viết lại, điều này có lẽ hợp lý để nói rằng khảo cổ học đã xác nhận những ghi chép Tân Ước”.

A.N.Sherwin-White, một nhà lịch sử học cổ điển, viết rằng “đối với Công Vụ Các Sứ Đồ sự xác nhận về lịch sử mạnh mẽ.” Ông tiếp tục bằng việc nói rằng “Bất kỳ cố gắng nào để bác bỏ những tính lịch sử cơ bản thậm chí trong những vấn đề về chi tiết bây giờ trông có vẻ rất vô lý.

Những nhà sử học người Rô-ma đã xem nhẹ điều này.

Sau khi bản thân cố gắng làm tiêu đi tính lịch sử và tính có giá trị của Thánh Kinh, tôi đã được thúc ép để kết luận rằng chúng là đáng tin cậy theo lịch sử. Nếu một người bác bỏ rằng Kinh Thánh không đúng với lịch sử, thì người đó phải loại bỏ tất cả những tác phẩm văn học cổ xưa. Không có một tài liệu nào khác có nhiều bằng chứng đến vậy để xác nhận tính đáng tin cậy của Kinh Thánh.

Một vấn đề mà tôi phải đối mặt thường xuyên là mong muốn trong một phần của nhiều người áp dụng một tiêu chuẩn để kiểm tả những văn bản văn học thông thường với Kinh Thánh. Chúng ta phải áp dụng một tiêu chuẩn chung, cho dù là văn bản dưới sự điều tra nghiên cứu là thông thường hay tôn giáo. Sau khi làm điều này, tôi được thuyết phục rằng Kinh Thánh là đáng tin cậy và đáng tin về mặt lịch sử trong lời chứng của nó về Chúa Giê-xu.

Clark H. Pinnock, nguyên giáo sư về thần học hệ thống tại trường Đại Học McMaster Divinity, phát biểu rằng:

Không có tài liệu nào tồn tại từ thế giới cổ xưa được chứng minh bằng một loạt các lời chứng lịch sử và văn bản tuyệt vời đến thế, và mang đến một loạt các dữ liệu lịch sử tuyệt vời mà một quyết định sáng suốt có thể được đưa ra. Một người chân thật không thể bỏ qua một nguồn tài liệu như thế này. Chủ nghĩa hoài nghi liên quan đến những ủy nhiệm lịch sử của Cơ Đốc Giáo dựa trên sự thiên vị không hợp lý [ví dụ, chống nghịch lại với siêu nhiên].

Douglas Groothuis, giáo sư phụ tá về triết học và trưởng khoa triết học về tôn giáo tại trường Thần Học Denver chỉ ra rằng “Tân Ước tốt hơn là được chứng thực bởi những bản thảo cổ xưa hơn là bất kỳ tác phẩm văn học cổ xưa nào khác.”

Xác định các sách Tân Ước có đáng tin cậy không? Phần 2

Kiểm Tra Bằng Chứng Nội Bộ

Kiểm tra thư mục chỉ xác định rằng văn bản chúng ta có trong hiện tại là điều đã được ghi chép vào lúc ban đầu. Người ta không chỉ xác định độ đáng tin cậy của những ghi chép gốc đó, nhưng mà còn xác định những ghi chép đó đáng tin cậy ở mức độ nào. Đó là nhiệm vụ của một sự kiểm chứng nội bộ, đó chính là bài kiểm tra thứ hai về lịch sử được ghi chú bởi Chauncey Sanders.

Nhà biện luận John W. Montgomery nhắc nhở chúng ta về những nghiên cứu lịch sử và văn học theo sau những lời tuyên bố quả quyết nổi tiếng của Aristotle đó là ưu thế của sự nghi ngờ đó là nó xảy đến cho chính tài liệu, không phải là sự nhận bừa của chính những nhà phê bình.

Montgomery tiếp tục:

Điều này có nghĩa rằng người ta phải lắng nghe những lời tuyên bố của văn bản dưới sự phân tích, và không cho rằng điều đó là giả hoặc sai trừ khi tác giả tuyên bố không đủ tư cách bởi vì có sự trái ngược nào đó hoặc có những sự thật không chính xác được biết đến.

Louis Gottschalk, nguyên giáo sư về lịch sử tại Trường Đại Học Chicago, tóm tắt phương pháp lịch sử trong một cuộc điều tra về lịch sử. Gottschalk chỉ ra rằng khả năng người viết hoặc người làm chứng nói sự thật giúp ít nhiều cho những nhà lịch sử học trong nổ lực để xác định tính đáng tin cậy, “thậm chí nếu việc điều tra lịch sử có một tài liệu có được thông qua việc tác động hoặc làm giả, nếu không thì không thể làm giả được, hoặc được dựa trên những lời chứng được nghe đồn, hoặc được từ một nhân chứng phấn khích”.

Khả năng này nói lên sự thật liên quan rất gần với những lời chứng gần gũi về mặt địa lý và chuỗi thời gian đối với các sự kiện được ghi lại. Các ghi chép Tân Ước về cuộc đời và lời dạy của Chúa Giê-xu được ghi lại bởi con người, những người đã từng nhìn thấy bằng chính mắt họ hoặc có liên quan đến những ghi chép của các nhân chứng của các sự kiện thật, hoặc sự dạy dỗ của Đấng Christ. Hãy xem xét những lời tuyên bố này từ Tân Ước.

Vì có nhiều người đã cố gắng ghi lại những việc được thực hiện giữa chúng ta, như lời những người đã chứng kiến từ ban đầu và những người đã trở thành tôi tớ của đạo Chúa truyền lại cho chúng ta, nên sau khi tra cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên ghi lại một cách thứ tự cho ngài, thưa ngài Thê-ô-phi-lơ rất kính mến, để ngài có thể biết cách xác thật về đạo ngài đã học. (Lu-ca 1:1-4)

Những học giả nhận thức được tính chính xác về mặt lịch sử trong sách Lu-ca. “Sự nhất trí chung của cả học giả tự do và học giả bảo thủ đó là Lu-ca là một nhà sử học rất chính xác”, John McRay giải thích, giáo sư Tân Ước và khảo cổ học tại Wheaton College.

Ông học rộng, uyên bác, Tiếng Hy Lạp của ông đạt đến chất lượng cổ điển, ông viết như một người có giáo dục, và những khám phá khảo cổ học bày tỏ nhiều lần rằng Lu-ca là chính xác trong điều ông nói.

Lu-ca không chỉ là một người viết kinh thánh khi nói đến việc ghi chép lại chính xác. Xem xét một vài ghi chép khác:

Vì chúng tôi không dựa vào những chuyện hoang đường khéo bịa đặt để tỏ cho anh chị em biết quyền năng và sự tái lâm của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, nhưng chúng tôi đã chứng kiến tận mắt sự uy nghi của Ngài. (2 Phi-e-rơ 1:16)

Chúng tôi rao truyền cho anh chị em những gì chúng tôi đã thấy và nghe để anh chị em cũng hiệp thông với chúng tôi, mà đúng ra là chúng ta hiệp thông với Ðức Chúa Cha và với Con Ngài, Ðức Chúa Jesus Christ. (1 Giăng 1:3)

Người chứng kiến việc ấy làm chứng, và lời chứng của người ấy là thật, vì người ấy biết mình nói thật, để các người cũng có thể tin. (Giăng 19:35)

Sau khi chịu khổ hình, Ngài đã dùng nhiều cách để chứng tỏ với họ rằng Ngài đang sống. Ngài hiện ra với họ trong bốn mươi ngày và dạy họ những điều về vương quốc Ðức Chúa Trời. (1 Công Vụ 1:3)

“Vì chúng tôi không thể không nói những gì chúng tôi đã thấy và nghe.” (Công vụ các sứ đồ 4:20)

Sau khi kiểm tra chỉ sáu lời chứng của nhân chứng (Ma-thi-ơ, Giăng, Phao-lô, Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giu-đa), giáo sư hùng biện Lynn Gardner kết luận rằng khi so sánh với bằng chứng của những tác phẩm văn chương cổ xưa khác, “chúng ta có các nguồn tốt hơn cho kiến thức của mình về Chúa Jêsus tại Na-za-rét.”

Bạn nghĩ gì?

Sau khi đọc xong sáu tường thuật ở trên, từ nào hoặc cụm từ nào họ đã dùng để khiến bạn suy xét cẩn thận về những tuyên bố của họ? Cảm xúc nào dường như là dội lại trong những tường thuật này?

Điều gần giống của các tác giả đối với các sự kiện họ thuật lại mang đến sự xác nhận cực kỳ hiệu quả về sự chính xác của các nhân chứng. Ký ức của họ vẫn rất rõ ràng. Tuy nhiên, lịch sử gia phải đối mặt với những nhân chứng có sự hiểu biết để nói lên sự thật, một cách có thận trọng hoặc vô tình đem đến những lời chứng không đúng.

Tiến sỹ Norman Geisler, người sáng lập nên Trường Thần Học Tin Lành Phía Nam (Southern Evangelical Seminary) tóm tắc những lời chứng của nhân chứng:

Cả một số lượng lớn các nhân chứng độc lập từ ghi chép về Chúa Giê-xu…cũng như là sự tự nhiên và chính trực của chính những nhân chứng không để lại bất kỳ sự nghi ngờ hợp lý nào về tính chân thật của những lời chứng biện luận về Đấng Christ.

Các ghi chép Tân Ước về Đấng Christ được truyền bá trong thời gian Ngài sống đương thời. Những người này sống ở thời điểm giao thoa với thời điểm Ngài sống chắc chắn có thể xác nhận hoặc bác bỏ tính chính xác của những ghi chép. Trong việc ủng hộ phúc âm, những môn đồ đã thích thú với kiến thức chung liên quan đến Chúa Giê-xu (thậm chí khi phải đối mặt với những đối thủ nghiêm khắc nhất). Họ đã không chỉ nói rằng “Hãy nhìn xem, chúng ta đã thấy được điều này” hoặc “Chúng tôi đã nghe thấy điều đó” nhưng họ đã xoay chuyển bàn và nói thẳng thắn ngay trước mặt những người phê bình chống đối, “Ngươi cũng biết về những điều này. Ngươi đã thấy chúng. Chính bản thân ngươi cũng biết về điều đó”. Nhưng lắng nghe thử thách của những phân đoạn sau đây:

Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết. (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:22)

Phê-tu nói lớn lên rằng: Hỡi Phao-lô, ngươi lảng trí rồi; ngươi học biết nhiều quá đến đỗi ra điên cuồng. Phao-lô lại nói: Bẫm quan lớn Phê-tu, tôi chẳng phải lảng trí đâu; tôi nói đó là những lời thật và phải lẽ. Vua biết rõ các sự nầy; lại tôi bền lòng tâu vì tin rằng chẳng có điều nào vua không biết; vì mọi việc đó chẳng làm ra cách chùng vụng đâu. (Công Vụ Các Sứ Đồ 26: 24-26)

Một người nên cẩn thận khi phát biểu nên sự chống đối của mình “Ngươi cũng biết về điều này” bởi vì nếu đây không phải là một kiến thức chung và đồng thuận trong các chi tiết, thách thức sẽ bị đẩy ngay ra phía sau cổ họng của người đó.

Liên quan đến nguồn giá trị chính này của những ghi chép Tân Ước, F.F Bruce nói rằng:

Không phải chỉ là những nhân chứng mang tính thân thiện mà những người giảng đạo đầu tiên tính đến, có những lời chứng khác không được bày tỏ ra một cách rộng rãi như vậy, là những người chống đối những điểm chính về công việc và cái chết của Chúa Jêsus. Những môn đồ không thể liều lĩnh với tính không chính xác (không nói những lời điều khiển có chủ tâm đối với những sự thật), điều này đã được phơi bày ra một lần bởi những người đã quá mừng rỡ để làm điều đó. Ngược lại, một trong những điểm mạnh trong những bài giảng hùng biện gốc đó là sự tin cậy lôi cuốn đối với kiến thức của những người nghe, họ không chỉ nói rằng,  “để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi” cũng như là “như chính các ngươi đều biết”. (Công vụ 2:22) Có xu hướng xa khỏi các sự thật trong bất kỳ khía cạnh nào, có thể sự có mặt của những lời chứng chống đối của các người nghe sẽ được xem như là một sự thay đổi thêm vào đó.

Lawrence J. McGinley của Trường Đại Học Saint Peter nhận xét về mặt giá trị của những nhân chứng chống đối trong mối quan hệ đối với những sự kiện được lưu lại:

Điều đầu tiên, những nhân chứng trong những sự kiện được hỏi vẫn hoàn toàn còn sống khi truyền thống đó đã được hình thành; và trong vòng những nhân chứng là những địch thủ cay đắng về những phong trào tôn giáo mới. Thế nhưng truyền thống vẫn kể ra một loạt những hành động được biết đến và dạy giáo lý một cách cởi mở vào lúc các lời phát biểu sai có thể hoặc sẽ bị thách thức.

Đây là lý do tại sao nhà sử học David Hackett Fischer, giáo sư lịch sử tại trường Brandeis, giải thích rằng những lời chứng của nhân chứng về các môn đồ là “bằng chứng tương ứng tốt nhất”.

Học giả Tân Ước Robert Grant của Trường Đại Học Chicago kết luận rằng:

Vào lúc đó chúng [các phúc âm tóm tắt] được viết và có thể được cho là được viết, có những nhân chứng và lời chứng của họ hoàn toàn không được để ý tới…Điều này có nghĩa là những phúc âm phải được xem trọng vì phần lớn những nhân chứng về sự sống, chết và sống lại của Chúa Jêsus.

Lịch sử học Will Durant, là người được đào tạo trong nguyên tắc của việc nghiên cứu lịch sử và đã dành cuộc sống của mình để phân tích những ghi chép cổ xưa, viết:

Mặc cho những thành kiến và những khái niệm sai về thần học của những nhà truyền đạo, họ ghi lại nhiều tình huống mà chỉ có duy những người sáng lập đã giấu đi- sự cạnh tranh của những sứ đồ để đạt được những vị trí cao hơn ở trong Vương Quốc, sự trốn đi của họ sau khi Chúa Jêsus bị bắt giữ, sự chối bỏ của Phi-e-rơ, sự thất bại của Đấng Christ trong việc thực hiện các phép lạ ở tại Ga-li-lê, tham chiếu đến với một số người nghe về khả năng bị điênmcủa Ngài, sự không chắc chắn lúc ban đầu của Ngài cũng giống như công tác của Ngài, việc xưng ra điều không biết về tương lai của Ngài, những lúc cay đắng của Ngài, những tiếng khóc u sầu trên thập giá, không ai đọc những cảnh tượng này lại có thể nghi ngờ sự thật về nhân vật ở sau chúng. Rằng một vài người trong một thế hệ đã có thể sáng tạo ra một nhân vật rất quyền năng và lôi cuốn, một đạo đức rất cao cả, và cũng là một tầm nhìn gây cảm hứng về tình anh em, điều này là một phép lạ kỳ diệu hơn bất kỳ điều gì được lưu lại ở trong các sách Phúc Âm. Sau hai thế kỷ của Phê Bình Cao Cấp (Higher Criticism) tóm tắt về cuộc sống, tính cách và sự dạy dỗ của Đấng Christ vẫn còn lại khá rõ ràng, và tạo thành một điểm nhấn rất tuyệt vời trong lịch sử người Phương Tây.