Xác định các sách Tân Ước có đáng tin cậy không? Phần 1

Kiểm Tra Thư Mục Học

Kiểm tra thư mục học là một cách kiểm tra việc chuyển văn bản từ những tài liệu cổ xưa đến với chúng ta từ trong quá khứ. Nói cách khác, bởi vì chúng ta không có những ghi chép nguyên thủy, chúng ta phải đặt những câu hỏi: Những bản sao đáng tin cậy đến chừng nào? Có bao nhiêu bản ghi chép còn tồn tại? Những bản ghi chép đó có tương tự nhau không? Khoảng thời gian giữa nguyên bản và những bản sao mở rộng là bao lâu?

Chúng ta có thể xác định được sự dồi giàu của giá trị trên bài viết Tân Ước bằng cách so sánh nó với những tài liệu về nội dung có sẵn để hỗ trợ cho các bài viết cổ đáng chú ý.

Lịch sử về Thucydides (460-400 TCN) có sẵn cho chúng ta chỉ từ 8 bài viết có độ tuổi từ khoảng năm 900 SCN, gần một nghìn ba trăm năm sau khi ông viết. Những bài viết về lịch sử của Herodotus cũng trễ giống như vậy và cũng khan hiếm. Thế nhưng như F.F Bruce, Giáo sư Rylands về Phê Bình và Giải Thích Kinh Thánh tại trường Đại Học Manchester, kết luận,

Không có một học giả uyên thâm nào lại lắng nghe một lời tranh luận về độ đáng tin cậy của Herodotus hay Thucydes mà có sự nghi ngờ bởi vì những bài viết đầu tiên về tác phẩm của họ đã được chúng ta sử dụng trên 1,300 năm sau những bản nguyên thủy được viết.

Aristotle đã viết những bài văn thơ vào khoảng 343 TCN, thế nhưng bản sao đầu tiên chúng ta có rơi vào độ tuổi năm 1100 SCN (một khoảng cách gần như là một nghìn bốn trăm năm), và chỉ có bốn mươi chín bài viết còn tồn tại.

Caesar viết lịch sử của ông về các cuộc chiến tranh Gallic vào giữa năm 58 và 50 TCN, và thẩm quyền của bài viết nằm ở trong chín đến mười bản sao được tính tuổi là một nghìn năm sau khi ông qua đời.

Brice Metzger, tác giả hoặc biên tập viên của năm mươi quyển sách trên quyền bản thảo của Tân Ước nhìn vào những điều đáng chú ý khác ở thế kỷ hai mốt:

Xem xét Tacitus, nhà lịch sử học người Rô-ma đã viết về Biên Niên Sử Và Đế Quốc Rô-ma vào khoảng năm 116 SCN. Sáu quyển sách đầu tiên của ông tồn tại cho đến ngày hôm nay trong duy nhất một bản thảo, và nó được sao chép vào khoảng năm 850 SCN. Những quyển sách từ quyển thứ mười một đến mười sáu ở trong một bản thảo khác có độ tuổi từ thế kỷ thứ mười một. Sách từ bảy đến mười bị mất. Cho nên có một khoảng cách lớn giữa lúc mà Tacitus tìm kiếm thông tin của mình và viết nó xuống và chỉ những bản sao còn lại.

Đối với nhà lịch sử học Josephus ở thế kỷ thứ hai mốt, chúng ta có chín bản thảo Hy Lạp về tác phẩm của ông Chiến Tranh Do Thái (The Jewish War) và những bản sao này được viết vào thế kỷ thứ mười, mười một và mười hai. Có một bản dịch Tiếng La-tin từ thế kỷ thứ tư và các tài liệu Nga Trung Cổ từ thế kỷ thứ mười một hoặc mười hai.

Metzger xưng rằng “Số lượng của tài liệu Tân Ước” “là hầu như đáng xấu hổ so với những tác phẩm cổ xưa khác”.

Khi tôi mới bắt đầu viết quyển sách này vào năm 1977, tôi đã có thể thu tập bốn mươi sáu ngàn bản thảo Hy Lạp của kinh Thánh, một nguồn tài liệu khổng lồ lớn hơn số lượng tồn tại của bất kỳ quyển sách nào được viết ở thời cổ xưa. Về tác phẩm này, thậm chí những bản thảo Hy Lạp khác đã được tìm thấy và tôi bây giờ có thể thu tập hơn năm mươi sáu nghìn sách.

Daniel Wallace, giáo sư của Tân Ước học tại Trường Thần Học Dallas và một trong những quyền lực dẫn đầu thế giới về văn bản Hy Lạp, và bản thảo Tân Ước.

Nhiều hơn 200 bản thảo kinh thánh (90 trong số chúng là Tân Ước) được tìm thấy tại Sinai vào năm 1975 khi một khu được giấu của Tòa S.t George lộ ra. Một vài trong số những bản thảo này là khá cổ. Tất cả chúng [những bản thảo được tìm thấy gần đây] xác nhận rằng sự chuyển đổi của Tân Ước đã được hoàn thành một cách rõ ràng tương tự và Đức Chúa Trời bằng bảo tồn văn bản khỏi bị hư hoại. Thêm vào những bản thảo, có khoảng 50,000 mảnh vụn  được niêm phong lại trong các thùng. Khoảng 30 bản thảo Tân Ước khác nhau đã được xác định ở trong các mảnh vụn, và các học giả tin rằng có thể có nhiều hơn.

Bạn Nghĩ Gì?

Bạn hoặc ai đó bạn biết có tin rằng bởi vì văn bản Kinh Thánh là cổ xưa nên nó không thể đáng tin? Có những văn bản cổ xưa khác mà không phải kinh thánh mà bạn không có vấn đề về việc tin chúng không?

Khi nói đến quyền bản thảo của Tân Ước, vô số tài liệu thật sự rất đáng kinh ngạc khi so sánh với bản thảo có sẵn của những văn bản cổ xưa khác. Sau khi những bản thảo giấy cói được tìm thấy giúp kết nối khoảng cách giữa thời điểm của Đấng Christ và thế kỷ thứ hai, quá nhiều những bản thảo khác được phơi bày ra ánh sáng. Hơn hai mươi nghìn bản sao của bản thảo Tân Ước tồn tại vào 2009. The Iliad, là đứng sau Tân Ước về mặt quyền bản thảo, chỉ có 643 bản thảo tồn tại.

Học giả Do Thái Jacob Klausner nói, “nếu chúng ta đã có những nguồn cổ xưa giống như những nguồn trong các sách Phúc Âm đối với lịch sử của Alexander hoặc Ceasar, chúng ta không nên có bất kỳ sự nghi ngờ nào đối với chúng”.

Ông Frederic Kenyon, nguyên là chỉ đạo và trưởng thư viện tại Bảo Tàng Anh Quốc, và thẩm quyền của người đó đối với những bản thảo cổ điển là đứng thứ hai hoặc không có vị trí nào, kết luận:

Khoảng thời gian giữa những ngày soạn thảo nguyên thủy và những bằng chứng mở rộng sớm nhất trở nên rất nhỏ đến nổi thực thế có thể bỏ qua, và nền tảng cuối cùng cho bất kỳ nghi ngờ nào mà Thánh Kinh đã đến với chúng ra cơ bản như bản thân chúng được biết đến thì bây giờ đã được xóa bỏ. Cả sự chân thật và sự chính trực chung của các sách Tân Ước để thể được xem là cuối cùng đã được thành lập.

Những người khác đồng ý. Giám mục Anh Giáo và lịch sử gia Tân Ước Stephen Neil tranh luận rằng “chúng ta có một văn bản Tân Ước đáng tin cậy hơn và vượt xa bất kỳ những tác phẩm cổ xưa nào khác”.

Craig Blomberg, nguyên là nghiên cứu viên tại Trường Đại Học Cambridge tại Anh và bây giờ giáo sư của Tân Ước tại Trường Thần Học Denver giải thích rằng các văn bản của Tân Ước “đã được bảo tồn ở con số lớn hơn và với nhiều sự quan tâm hơn bất kỳ những tài liệu cổ nào khác”. Blomberg kết luận rằng “97-99% của Tân Ước có thể được xây dựng lại vượt xa bất kỳ sự nghi ngờ hợp lý nào”.

Học giả Tân Ước Hy Lạp Harold Greenlee thêm vào:

Từ khi các học giả chấp nhận những bài viết cổ điển nói chung là rất đáng tin cậy thậm chí những bản thảo sớm nhất được viết rất lâu sau khi những bài viết nguyên gốc và một số những bản thảo hiện có chỉ là những ví dụ rất nhỏ, rõ ràng rằng tính đáng tin cậy của văn bản Tân Ước cũng được đảm bảo như vậy.

Việc áp dụng bài kiểm tra về mặt thư mục đối với Tân Ước đảm bảo với chúng ta rằng nó có quyền bản thảo nhiều hơn so với bất kỳ những tác phẩm văn học khác từ cổ xưa. Nếu chúng ta thêm vào căn cứ đó hơn 130 năm phê bình văn bản Tân Ước mạnh mẽ, chúng ta có thể kết luận rằng một văn bản Tân Ước thật đã được hình thành.

Còn về những sự khác nhau trong Kinh Thánh thì sao?

Vào năm 2005, nhà phê bình văn học Bart Ehrman đã tạo nên một trận bão lữa với những lời tranh luận về sự phát hành sách bán chạy nhất của mình, Trích Dẫn Sai Về Giê-xu (Misquoting Jesus). Tuyên bố của ông rất đơn giản: bản thảo kinh thánh có rất nhiều lỗi sai mà chúng ta không thể khôi phục bại văn bản gốc. Một số lỗi này là vô tình, Ehrman tuyên bố, trong khi những lỗi khác là có chủ đích. Cách nào đi nữa, Tân Ước như chúng ta biết ngày hôm nay là không thể tin cậy được.

Điểm chìa khóa mà Ehrman chỉ ra là 300,000 đến 400,000 sự biến thể trong các bản thảo Tân Ước có những từ thay thế. Cứ cho rằng bản Tân Ước Hy Lạp của ngày hôm nay có khoảng 138,000 từ, ý kiến rằng có từ hai đến ba lần các biến thể khiến từ ngữ khá đáng lo ngại. Thế nhưng một người cần phải nhận ra một số lượng lớn các biến thể là kết quả trực tiếp của một con số cực lớn của các bản thảo Tân Ước mà chúng ta có. Không có một tác phẩm cổ xưa nào khác đến gần với sự dồi giàu của những bản thảo Tân Ước có sẵn. Bạn càng sở hữu nhiều bản thảo chừng nào, thì càng có nhiều sự biến thể, càng có ít bản thảo chừng nào, thì càng có ít sự biến thể. Nhưng đây không thể là toàn bộ bức tranh. Khi các biến thể được nhìn vào một cách kỹ càng hơn, một câu chuyện khác dấy lên.

Cho đến bây giờ phân loại đáng chú ý nhất của các biến thể là sự khác nhau về mặt chính tả. Tên John là một ví dụ, có thể được viết với một chữ n hoặc hai chữ n. Rõ ràng, sự biến thể theo phân loại này không gây ảnh hưởng đến ý nghĩa của văn bản. Sự phát nhau về mặt chính tả được thu tập gồm khoảng 75% của tất cả sự biến thể khác. Đó là giữa 225,000 dến 300,000 của tất cả các biến thể! Một phân loại lớn khác bao gồm những từ đồng nghĩa được sử dụng ở khắp các bản thảo. Ví dụ, một số bản thảo có thể nói đến Chúa Giê-xu bằng cách sử dụng tên thật của Ngài, trong khi những chỗ khác có thể nói là “Chúa” hoặc “Ngài”. Sự khác nhau như thế này hầu như không tạo nên dấu chấm hỏi cho ý nghĩa của văn bản.

Trong khi tất cả những sự biến thể khác được xem xét, có khoảng 1 phần trăm liên quan đến ý nghĩa của nội dung. Nhưng thậm chí sự thật này có thể quá cường điệu. Ví dụ, có một sự không thống nhất về việc 1 John 1:4 có nên được dịch như thế này. “Chúng tôi viết những điều đó cho anh em, hầu cho sự vui mừng của chúng tôi được đầy dẫy” hoặc “Chúng tôi viết những điều đó cho anh em, hầu cho sự vui mừng của anh em được đầy dẫy”. Trong khi sự không thống nhất này có liên quan đến ý nghĩa của đoạn văn, nó không có cách nào gây ảnh hưởng đến giáo lý trung tâm của niềm tin Cơ Đốc. Điều này là lý do tại sao các tác giả của Sáng Tạo Ra Chúa Giê-xu (Reinventing Jesus) kết luận rằng “Câu trả lời ngắn cho câu hỏi về những lẽ thật thần học nào đang ở nguy cơ trong những biến thể này- không hề có cái nào.” Như chúng ta đã thấy trong chương này, chúng ta có thể có một độ tin tưởng cao trong các văn bản Tân Ước.

 

Cách xác định độ tin cậy của văn bản lịch sử

Có nhiều văn bản khác được viết  trễ hơn rất nhiều so với bốn sách Phúc Âm truyền thống, cho nên việc họ bày tỏ bất kỳ thông tin mang tính tiểu thuyết về lịch sử của chúa Giê-xu là dường như không có.

Vì vậy, giáo sư Tân Ước Craig A. Evans kết luận rằng “Dấu vết lưu lại theo nghiên cứu đối với cách sử dụng những Phúc Âm siêu kinh điển này là quả thật rất đáng xấu hổ…Chúng ta tìm thấy những Sách Phúc Âm siêu kinh điển này không mang đến những truyền thống đáng tin cậy lúc ban đầu, độc lập với những gì chúng ta có ở trong các Phúc Âm trong Tân Ước.

Thường những người không phải là Cơ Đốc Nhân nói với tôi rằng chúng ta không thể tin cậy những gì Kinh Thánh nói. Họ nói “Tại sao, nó được viết cách đây hơn hai ngàn năm. Nó đầy dẫy những lỗi sai và sự khác biệt”. Tôi trả lời rằng tôi tin rằng tôi có thể tin cậy Thánh Kinh. Sau đó tôi mô tả một tình huống đã xảy ra trong một bài giảng trong một lớp học lịch sử. Tôi tuyên bố rằng tôi tin có nhiều bằng chứng hơn cho tính đáng tin cậy của Tân Ước hơn bất kỳ mười tác phẩm văn học cổ điển gộp lại.

Giáo sư ngồi ở góc cười thầm, giống như có vẻ nói rằng “Ồ, thôi đi nào, ông không thể tin điều đó”. Tôi hỏi vị giáo sư ấy về điều và ông đã cười thầm. Ông trả lời, “Tôi không thể tin là ông có thể bạo dạn để tuyên bố trong một lớp học lịch sử rằng Tân Ước là đáng tin cậy. Điều đó thật đáng buồn cười!”

Mong muốn tìm kiếm một điểm chung để có được một cuộc thảo luận lịch sự, tôi hỏi vị giáo sư ấy câu hỏi này: “Giáo sư hãy nói cho tôi biết, và một nhà lịch sử học, những cách kiểm tra nào mà giáo sư thực hiện trên bất kỳ văn bản lịch sử nào để xác định tính chính xác và độ đáng tin cậy của nó?” Tôi rất ngạc nhiên là vị giáo sư đó đã không có những cách kiểm tra như vậy. Thật ra, tôi vẫn chưa nhận được một câu trả lời tích cực cho câu hỏi này. “Tôi có một số cáchkiểm tra”, tôi trả lời. Tôi nói với vị giáo sư ấy rằng tôi tin mạnh mẽ rằng chúng tôi nên kiểm tra tính đáng tin cậy về mặt lịch sử của Thánh Kinh bằng việc phân loại nghiêm khắc được thực hiện trên tất cả các tài liệu lịch sử. Nhà lịch sử quân sự học Chauncey Sanders liệt kê và giải thích ba nguyên tắc cơ bản cho biên soạn lịch sử: bài kiểm tra về thư mục học, bài kiểm tra về bằng chứng ở bên trong, và bài kiểm tra về bằng chứng bên ngoài. Hãy cùng kiểm tra mỗi khía cạnh. (xem thêm)

Chỉ có bốn sách phúc âm hay nhiều hơn?

Bốn Phúc Âm hay Hai Mươi Phúc Âm?

Trong câu chuyện The Da Vinci Code thành công, hoang dã, ly kỳ, tác giả Dan Brown đưa ra một lời tuyên bố táo bạo rằng “ Hơn tám mươi sách phúc âm được xem xét để đưa vào Tân Ước, thế nhưng chỉ một vài được lựa chọn để đưa vào- Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, và Giăng”. Vào những năm 1990, chuyên đề về Chúa Giê-xu xuất bản một quyển sách với tựa đề Các Phúc âm Hoàn Thiện tuyên bố là xuất bản đầu tiên của hai mươi phúc âm được biết đến từ kỷ nguyên Cơ Đốc lúc ban đầu. Điều đáng chú ý nhất của những sách này là các phúc âm của Thô-ma, Giu-đa, Phi-líp, Phi-e-rơ và Ma-ri. Ngụ ý rất rõ ràng: những văn bản cổ điển bày tỏ một cách nhìn khác về Chúa Giê-xu có giá trị giống như thời gian- truyền thống được tôn trọng ở trong hội thánh. Có lẽ thật nào trong các lời tuyên bố này chăng? Có phải bốn sách phúc âm đã mất đi vị thế đặc ân của chúng và là những sách mang đến lương thực sống, và cả mục vụ của Chúa Giê-xu? Có phải những phúc âm được khám phá ra gần đây làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về Cơ Đốc Giáo?

Những lời tuyên bố đó có vẻ dường như rất phi thường và đầy kịch tính, chúng đơn giản đều bị đổ vỡ dưới sức nặng của các phân tích lịch sử. Trong quyển Các Phúc Âm Được Giấu (Hidden Gospels), nhà lịch sử học Philip Jenkins kết luận rằng “ý kiến cho rằng các loại phúc âm khác nhau là những bằng chứng có giá trị tương đương với Cơ Đốc cổ xưa là sai lầm trầm trọng”. Thách thức lớn nhất đối với chỗ đứng của những phúc âm này là ở độ tuổi sau này của chúng. Trong khi bốn sách Phúc Âm tất cả đều được viết trong vòng thế kỷ đầu tiên, tất cả những bằng chứng chỉ đến những sách phúc âm khác được viết vào giữa năm 120 đến 250 Sau Công Nguyên, ít nhất là ba thế hệ trôi qua từ khi Đấng Christ sống trên đất.

Bạn nghĩ gì?

Bạn có sự tin tưởng nào đến các sách, bài báo, hoặc phim tài liệu trên TV với những thông tin ở ngoài kinh thánh về tính đáng tin cậy và tính lịch sử về Chúa Giê-xu không? Làm cách nào bạn có thể so sánh những bằng chứng lịch sử với Chúa Giê-xu và cũng với bằng chứng đó so sánh với những người nổi tiếng khác? (xem thêm)

 

Tân Ước có chỗ đứng nào trong lịch sử không?

Tân Ước cung cấp nguồn tài liệu lịch sử chính cho các thông tin về Chúa Giê-xu. Bởi vì điều này, trong vòng hai thế kỷ qua, nhiều nhà phê bình học đã tấn công độ tin cậy của các tài liệu kinh thánh. Điều này có vẻ như là một chướng ngại vật không có nền tảng lịch sử nào, hoặc được chứng minh là không có giá trị bởi những khám phá và nghiên cứu khảo cổ học.

Trong khi tôi (Josh) đang giảng dạy tại trường Đại Học Arizona, một giáo sư đã đảm nhiệm một lớp văn học tiếp cận tôi sau một “lời phát biểu tự do” ở ngoài trời. Ông nói, “Ông DcDowell, những tuyên bố của ông về Đấng Christ tất cả đều dựa trên tài tiệu từ thế kỷ thứ hai đã lỗi thời rồi. Tôi đã chỉ ra trong lớp học ngày hôm nay Tân Ước được viết từ rất lâu sau khi Đấng Christ sống và những điều nó ghi lại không thể nào chính xác được”.

Tôi đáp lại, “Thưa ông, tôi có thể hiểu được quan điểm của ông, và tôi biết những văn bản mà ông đang dùng làm cơ sở. Nhưng sự thật là những bài viết đó đã được chúng minh là sai bởi những tài liệu được khám phá ra gần đây rõ ràng bày tỏ Tân Ước là đã được viết trong vòng một thế hệ thời Đấng Christ”.

Nguồn tài liệu mà giáo sư cho ý kiến về những ghi chép liên quan đến Chúa Giê-xu là những bài viết của một nhà phê bình người Đức Ferdinand Christian Baur. F.C.Baur cho rằng phần nhiều của các Kinh Thánh Tân Ước không được viết cho đến khi cuối thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên từ những huyền thoại và truyền thuyết được phát triển trong suốt quãng thời gian dài giữa thời gian sống của Chúa Giê-xu và thời gian những điều này được viết.

Tuy nhiên đến thế kỷ thứ hai mốt, các khám phá khảo cổ học đã xác định tính chính xác của những bản thảo Tân Ước. Những bản thảo đầu tiên (bản thảo John Rylands, 130 SCN; và cuốn Chester Beatty Papyri, 155 SCN, và Cuốn Bodmer Papyri II, 200 SCN) kết nối chỗ hổng giữa thời kỳ của Đấng Christ và những bản thảo đang có trong thời gian sau đó.

Millar Burows, trong nhiều năm giáo sư thần học Kinh Thánh tại Yale Divinity School nói rằng:

Kết quả khác của việc so sánh Tân Ước Hi Lạp với ngôn ngữ của sách giấy cói [những khám phá mới] cho thấy có sự tăng lên về độ đáng tin cậy và về việc chuyển ngữ chính xác nội dung của Tân Ước.

Những khám phá như thế này đã làm tăng lên độ tin cậy sâu sắc trong Kinh Thánh.

William F. Albright, nhà khảo cổ học kinh thánh đầu tiên của thế giới viết,

Chúng ta có thể đã nói một cách mạnh mẽ là không có căn bản chắc chắn nào cho việc tính tuổi cho bất kỳ sách nào trong Tân Ước sau năm 80 sau công nguyên, các nhà bình luận sách Tân Ước chính thống ngày hôm nay cho rằng độ tuổi của các sách nằm trong vòng hai thế hệ vào giữa năm 130 và 150.

Ông tóm tắt lại cách nhìn này trong một cuộc phỏng vấn cho Cơ Đốc Nhân Ngày Nay (Christinanity Today).

Theo quan điểm của tôi, mỗi quyển sách của Tân Ước được viết bởi một người Do Thái được báp têm giữa những năm bốn mươi và tám mươi của thế kỷ đầu tiên (rất có thể là trong khoảng thời gian giữa năm 50 đến năm 75).

Ông William Ramsay, một trong những nhà khảo cổ học vĩ đại nhất từng sống, là một học sinh của một trường lịch sử của Đức, dạy rằng sách Công Vụ Các Sứ Đồ là một sản phẩm của giữa thế kỷ thứ hai sau công nguyên và không thuộc về thế kỷ đầu tiên như nội dung nó ghi vậy. Sau khi đọc những lời phê bình về sách Công Vụ, Ramsay đã được thuyết phục rằng những ghi chép thật về thời điểm của sách là không đáng tin vậy (năm 50 Sau Công Nguyên) và vì thế không xứng đáng để xem xét bởi một nhà lịch sử học. Cho nên trong nghiên cứu của ông về lịch sử về người Tiểu Á (Asia Minor), Ramsay chú ý rất ít về Tân Ước. Tuy nhiên nghiên cứu của ông cuối cùng khiến ông suy xét các bài viết của Lu-ca, một tác giả của sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Một nhà khảo cổ học quan sát đươc độ chính xác quá tỉ mỉ đối với các chi tiết lịch sử, và dần dần thái độ của ông về sách Công Vụ bắt đầu thay đổi. Ông bị bắt buộc phải kết luận rằng:

Lu-ca là một nhà lịch sử học trong hàng ngũ đầu tiên…Tác giả này nên được đặt ngang hàng với những nhà lịch sử vĩ đại nhất. Bởi vì quyển sách chính xác đến những chi tiết nhỏ nhất, Ramsay cuối cùng thừa nhận rằng Sách Cộng Vụ không thể nào là tài liệu của thế kỷ thứ hai nhưng thuộc vào giữa thế kỷ thứ nhất là đúng hơn.

Bạn nghĩ gì?

Có những khám phá khảo cổ học Kinh Thánh nào trong những năm gần đây lấy được sự chú ý của bạn không? Tại sao những khám phá này luôn dành được những tiêu đề trên thế giới?

Nhiều học giả tự do đã được thúc giục để xem xét thời điểm trước đó cho Tân Ước. Giám mục Anh Giáo A.T. Robinson kết luận trong quyển sách của ông Ghi Ngày Cho Tân Ước là căn bản rất đáng king ngạc. Nghiên cứu của ông dẫn đến sự cáo buộc rằng cả Tân Ước được viết trước sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem vào năm 70 Sau Công Nguyên.

Những nhà bình luận, học giả phân tích những hình thức văn chương cổ xưa và những truyền thống truyền miệng sau lưng những bài viết kinh thánh, nói rằng vật chất được truyền lại bằng lời truyền miệng cho đến đi nó được viết xuống trong hình thức của các sách Phúc Âm. Mặc dầu bây giờ họ chấp nhận giai đoạn của sự chuyển đổi là ngắn hơn nhiều so với nó được tin trước đây, họ vẫn kết luận rằng những ghi chép Phúc Âm lấy hình thức của văn chương dân gian (truyền thuyết, truyện dân gian, huyền thoại và truyện ngụ ngôn).

Một trong những điều chống nghịch lại với khái niệm của nhà phê bình chính thức về sự phát triển của truyền thống truyền miệng đó là giai đoan giữa các sự kiện Tân Ước và sự ghi chép lại những điều không lâu sau đó, cho phép sự thay đổi từ sự thật đến truyền thuyết mà những nhà phê bình này khẳng định. Nói về tính ngắn gọn của khoảng cách này, Simon Kistemaker, giáo sư danh dự của Tân Ước tại trường Kinh thánh Đổi Mới viết:

Thông thường, sự cộng dồn những truyền thống dân gian giữa con người của một nền văn hóa ban sơ cần nhiều thế hệ; nó giống như là một quá trình dần dần trải qua nhiều thế kỷ. Nhưng trong việc làm theo lối suy nghĩ của những là phê bình chính thức, chúng ta phải kết luận rằng những câu chuyện Phúc Âm được tạo ra và thu tập trong vòng hơn một thế hệ. Về phương thức tiếp cận phê bình chính thức, sự hình thành của mỗi Phúc Âm riêng biệt cần phải được hiểu như là một dự án được phóng đại với một chuỗi các hành động được gia tốc.

A.H.McNeile, giáo sư Regius trước về Thần Thánh tại trường Đại Học Dublin, thách thức khái niệm của phê bình chính thức về truyền thống truyền miệng. Ông chỉ ra rằng các nhà phê bình chính thức không đối mặt với truyền thống về lời của Chúa Giê-xu gần đến mức họ nên làm. Trong văn hóa Do Thái, điều quan trọng là các lời thật của một giáo viên được lưu giữ một cách cẩn thận và được truyền xuống. Ví dụ, 1 Cô-rinh-tô 7:10, 12 và 25 bày bỏ sự tồn tại của một truyền thống chân thật và sự bảo tồn cẩn thận về nó. Đó là một lệ thường của một học sinh người Do Thái muốn ghi nhớ lời dạy của thầy. Một học sinh tốt như là một “bể chứa nước được bọc bằng nhựa mà không mất đi một giọt” (Mishna, Aboth, ii, 8). Nếu chúng ta dựa vào lý thuyết của học giả Kinh Thánh Anh Giáo C.F. Burney trong Văn Thơ Của Đức Chúa Trời Ta (The Poetry of Our Lord), chúng ta có thể kết luận rằng phần nhiều của lời dạy của Đức Chúa Trời là ở trong hình thức ăn thơ Xy-ri, khiến nó dễ nhớ. Điều không thể là ở trong một văn hóa như vậy một truyền thống thuyền thuyết mà đã không làm theo những sự thật có thể nổi trội lên trong một khoảng thời gian ngắn.

Những học giả khác đồng thời, Paul L. Maier, giáo sư của lịch sử cổ đại tại Trường Đại Học Michigan Phương Tây viết: “Lời tranh luận rằng Cơ Đốc Giáo sinh ra huyền thoại về Lễ Phục Sinh trong một giai đoạn thời gian dài hoặc đó là các nguồn được viết trong nhiều năm sau đó sự kiện chỉ đơn giản là không phải sự thật, Phân tích những lời phê bình chính thức, Albright viết “Chỉ có những học giả hiện đại người có ít phương pháp lịch sử lẫn tầm nhìn có thể xoay một cái mạng với đầy sự suy xét như vậy với nó các phê bình chính thức đã bao quanh truyền thống của Phúc Âm”. Lời kết luận của chính Albright đó là “một giai đoan bao gồm hai mươi đến năm mươi năm là quá mỏng manh để cho phép thậm chí bất kỳ sự đổ vỡ về nội dung chính mà có thể thấy rõ được qua những từ ngữ cụ thể trong các lời Chúa Giê-xu nói”. Jeffery L. Sheler, người viết về tôn giáo cho US News & World Report, viết, “Kinh Khánh và các nguồn của nó vẫn duy trì được chỗ đứng vững chắc trong lịch sử”. (xem tiếp)

Thế Giới Sẽ Như Thế Nào Nếu Con Người Sống Theo Chúa Giê-xu?

Có Phải Cơ Đốc Giáo Là Một Sự Rủa Sả?

Các nhà vô thần trước đây tin rằng tôn giáo là sai trái. Những Nhà Vô Thần Mới tin rằng nó không chỉ là sai, mà nó còn cái ác. Sam Harris gọi tôn giáo là “lực lượng mạnh nhất của các cuộc xung đột của con người trong quá khứ và hiện tại”. Những Nhà Vô Thần Mới liên tục chỉ đến sự bạo hành của Galileo, các sự hung bạo của Crusades, Tòa Án Dị Giáo, sự thử thách của phù thủy Salem trong lịch sử, cũng như là sự lạm dụng tình dục trẻ em bởi các thầy tế lễ trong thế giới ngày hôm nay như là bằng chứng của sự độc ác của Cơ Đốc Giáo.

Con người không nghi ngờ gì đã làm những điều kinh khủng trong danh Chúa Giê-xu. Nhưng tại sao Cơ Đốc Giáo phải nhận lấy sự buộc tội trong khi những người đó làm những điều chống nghịch lại với những gì Chúa Giê-xu dạy? Chúa Giê-xu có dạy thiêu cháy những phù thủy chăng? Chúa Giê-xu có khuyến khích những người theo Ngài hành hạ những người theo dị giáo chăng? Thật ra, Chúa Giê-xu đã dạy những điều hoàn toàn ngược lại.

Ngài dạy phải yêu kẻ thù nghịch mình (Ma-thi-ơ 5:44), giơ tay chạm đến những người mà xã hội cho là không thể được chạm đến (Ma-thi-ơ 8:3), và để phó sự sống mình cho người khác (Giăng 15:13). Nếu con người thật sự sống giống như Chúa Giê-xu, sự bạo động giống như một thứ ở trong quá khứ.

Bạn Nghĩ Gì?

Nếu con người sống theo lời dạy của Chúa Giê-xu, thế giới sẽ trở nên như thế nào? Cơ Đốc Giáo có nên bị đổ lỗi khi con người làm những điều chống nghịch lại với những điều Chúa Giê-xu dạy?

Trong quyển sách Điều Gì Tốt Đẹp Về Cơ Đốc Giáo, Dinesh D’Souza chứng minh rằng Những Nhà Vô Thần Mới làm phóng đại lên một cách thiển tục những tội phạm được thực hiện trong danh của một tôn giáo, trong khi hợp lý hóa những tội phạm lớn hơn nhiều được thực hiện trong danh của chủ nghĩa vô thần. Ví dụ, Sam Harris ước tính số lượng người bị giết trong các cuộc thử thách phù thủy Sa-lem là 100,000. Con số thật sự là gì? Hàng trăm? Hàng ngàn? Mười ngàn? Thật ra, con số là ít hơn hai mươi năm. Nhưng làm thế nào để chủ nghĩa vô thần viết nên con số đó?

Điều quan trọng cần phải nhớ đó là vấn đề không phải là các cá nhân nhà vô thần có thể là những người tốt. Tất nhiên họ có thể (và nhiều người như vậy). Câu hỏi chìa khóa là chủ nghĩa vô thần khi được nhận vào như là một triết lý chiếm ưu thế cho một nền văn hóa cụ thể, thì tốt hay xấu. Khi câu hỏi này là nền tảng, điều đó trở nên rõ ràng rằng không có cách nhìn thế giới cơ bản nào khác đã gây nên sự đau khổ và đổ máu giống như chủ nghĩa vô thần. Cụ thể là, nhiều người bị giết hại bởi Đế Chế Vô Thần thế kỷ thứ hai mươi, giống như cộng sản Trung Quốc, Cộng Sản Nga, Và Nazi Đức đã giết hại hơn một trăm nghìn người. Không có một con số đứng thứ hai gần như vậy. David Berlinski, một người Do Thái nhận được tấm bằng Tiến Sĩ từ đại học Princeton, tin rằng một trong những nguyên nhân chính cho những sự hung bạo đó là sự vắng mặt của trách nhiệm tối cao: “Điều Hitler đã không tin và điều Stalin đã không tin và điều Mao đã không tin và điều SS đã không tin và điều Gestapo đã không tin…là Đức Chúa Trời đang nhìn xem những gì họ làm.

Trong khi các Cơ Đốc Nhân chắc chắn đã làm một số điều không tốt, di sản Cơ Đốc Giáo để lại có sự tích cực một cách đầy ngạc nhiên. Các Cơ Đốc Nhân xây dựng những bệnh viện đầu tiên, bắt đầu với Hội Chữ Thập Đỏ, dẫn dắt phong trào đi đến kết thúc sự nô lệ, sáng tạo nên trường đại học, và đi tiên phong các ngành khoa học hiện đại. Khi chúng ta theo dấu các phong trào dẫn đến sự tự do sâu sắc cho con người, chúng ta thấy phúc âm ngay tại vi trí trung tâm của hầu hết tất cả.

Kết luận

Trong phân tích cuối cùng, điều duy nhất mới mẻ về Những Nhà Vô Thần Mới đó là thái độ của họ. Mặc cho những lời hùng biện nóng cháy, không có các khám phá nào gần đây nhất trong lĩnh vực khoa học. lịch sử, hoặc triết học mà xem nhẹ chủ nghĩa có thần nói chung hoặc Cơ Đốc Giáo nói riêng. Thật ra, chính xác là ngược lại với điều này. Chúng ta càng đi xuống xem xét các hoạt động liên kết của các tế bào hoặc đi vào sâu trong vũ vụ, chúng ta càng thấy dấu vân tay của Đức Chúa Trời.

Cách đây khoảng 3000 năm người viết nên sách Thi Thiên đã mô tả điều đó hay nhất: “các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia, Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ” (Thi Thiên 19:1-2). Như Thi Thiên này nhấn mạnh rõ ràng, Đức Chúa Trời có thể được biết đến thông qua sự sáng tạo của Chúa. Thế nhưng, như quyển sách này mô tả, Ngài đã bày tỏ chính mình cụ thể thông qua Đức Chúa Giê-xu Christ, một Đấng hơn cả một người thợ mộc. Điều này không phải là điều mà chúng ta chấp nhận bằng một niềm tin mù quáng, nhưng thông qua các bằng chứng rõ ràng.

Chúng ta có thể chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời không? Chỉ có phương pháp lịch sử-luật pháp có thể làm được công tác chứng minh cho câu hỏi như vậy. Như vậy, câu hỏi cơ bản trở nên như thế này: chúng ta có thể tin cậy các lời làm chứng và các bằng chứng không (ví dụ, Tân Ước)?

Một điều về niềm tin Cơ Đốc đó là nó đặc biệt lôi cuốn đối với tôi (Josh) không phải là một niềm tin mù quáng ngu muội nhưng nó dựa trên một sự khôn ngoan chắc chắn. Mỗi lần chúng ta đọc rằng một nhân vật Kinh Thánh được thúc dục để hành động bằng niềm tin của mình, chúng ta thấy rằng đó là một niềm tin khôn ngoan. Chúa Giê-xu nói, “Ngươi biết lẽ thật” (Giăng 8:32), đừng chối bỏ nó. Đấng Christ được hỏi “Mạng lệnh quan trọng nhất của Ngài là gì?”, Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi.” (Ma-thi-ơ 22:36-37). Vấn đề đối với nhiều người đó là họ dường như chỉ yêu mến Đức Chúa Trời bằng tấm lòng của mình thôi. Lẽ thật về Đấng Christ không bao giờ đi vào trong tâm trí của họ. Họ được ban cho tâm trí có khả năng nhận biết Đức Chúa Trời từ Đức Thánh Linh, cũng như là tấm lòng để yêu mến ngài và sự sẵn sàng để chọn ngài. Chúng ta cần kết hợp cả ba khía cạnh để có một mối quan hệ đầy trọn với Đức Chúa Trời và để làm vinh danh Ngài. Tôi không biết điều này là thế nào đối với bạn, nhưng tấm lòng tôi không thể vui mừng trong những điều mà tâm trí tôi khước từ. Tấm lòng và tâm trí được tạo nên để cùng làm việc với nhau cách hòa hợp: Không có ai từng được gọi để tự tử bằng tâm trí khôn ngoan thông qua việc tin vào Đấng Christ là Đấng Cứu Rỗi và Đức Chúa Trời.

Bạn Nghĩ gì?

Có phải ý tưởng về một niềm tin khôn ngoan mới đối với bạn? Nếu đức tin không phải là “một niềm tin mù quáng, ngu muội nhưng là một niềm tin dựa trên sự khôn ngoan chắc chắn” thì định nghĩa nào mới đúng với định nghĩa của niềm tin?

Trong bốn chương tiếp theo chúng ta sẽ xem đến các bằng chứng cho sự đáng tin cậy của các văn bản viết và cho sự đáng tin cậy của lời chứng bằng miệng và ghi chép về người làm chứng về Chúa Giê-xu. (Xem thêm)

 

Có Phải Chủ Nghĩa Có Thần Có Đạo Đức Hơn Không?

Những Nhà Vô Thần Mới tấn công cái xấu của tôn giáo và tính cách của một Đức Chúa Trời theo Thánh kinh một cách không thương xót.

Đạo đức có thể tồn tại một cách độc lập khỏi Đức Chúa Trời, họ tuyên bố rõ ràng. Theo như Dawkins, “Chúng ta không cần Đức Chúa Trời để trở nên tốt-hoặc xấu”. Những Người Vô Thần Mới nhiệt tình lên án tôn giáo là xấu trong khi khen ngợi khoa học là tốt. Nhưng điều này dấy lên một hiện tượng khó xử cho các nhà vô thần: nếu không có Đức Chúa Trời, thì những cáo buộc về mặt đạo đức bắt đầu từ đâu ngay lúc ban đầu? Nếu “không có gì hơn ngoài thế giới vật lý tự nhiên” như Dawkins tuyên bố, thì việc nói là điều ác có tồn tại thì có ý nghĩa gì không? Trong khi giá trị đạo đức cũng không có các đặc tính như chiều cao, chiều rộng và cân nặng, làm sao chúng ta có thể nói rằng chúng là có thật?

Một sự thật khó xử cho các nhà vô thần là rõ ràng rất khó để định nghĩa cái xấu mà không có một số tiêu chuẩn đạo đức về cái tốt hơn. Cái ác theo truyền thống được hiểu là sự xâm phạm của điều tốt. Giống như là sự cong vẹo hàm ý cho một tiêu chuẩn ‘thẳng’, điều ác hàm ý cho một tiêu chuẩn của điều tốt. C.S Lewis nói một điều khá nổi tiếng rằng một cây que bị cong chỉ có thể hiểu được dựa trên khái niệm của cây que thẳng. Cũng giống như vậy, chỉ có thể là cái ác nếu lúc ban đầu có cái tốt. Nhưng nếu không có Đức Chúa Trời (như Những Nhà Vô Thần Mới tuyên bố), thì điều gì là tốt? Thậm chí nhà vô thần J.L. Mackie sau này nhận thức ra rằng những đạo đức khách quan không có khả năng tự có, ngoại trừ một Đức Chúa Trời toàn năng.

Bạn Nghĩ Gì?

Người viết tiểu thuyết người Nga Fyodor Dostoyevsky đã nói một cách rất nổi tiếng rằng ngoài Đức Chúa trời mọi điều đều được phép. Bạn nghĩ ông có ý gì? Có thể có một tiêu chuẩn đạo đức mà không có Chúa Đức Chúa Trời chăng?

Sự tồn tại của các giá trị luân lý khách quan là một lý do lớn cho việc tin vào Thượng Đế. Hãy suy xét tranh luận đơn giản này:

  1. Nếu các giá trị luân lý khách quan tồn tại, Đức Chúa Trời phải tồn tại.
  2. Các giá trị luân lý khách quan tồn tại.
  3. Vì thế, Đức Chúa Trời phải tồn tại.

Chúng ta biết các giá trị luân lý khách quan tồn tại. Chúng ta không cần phải được thuyết phục bởi điều đó, ví dụ, việc hành hạ em bé cho vui là sai. Tất cả mọi người có lý trí đều biết về điều đó. Vì thế, bởi vì các giá trị luân lý tồn tại, nên Đức Chúa Trời cũng phải tồn tại.

Trong các buổi tranh luận trước công chúng của mình, Christopher Hitchens thường xuyên thách thức những người đối nghịch mang đến một ví dụ về một hành động có đạo đức mà những người vô thần không thể làm được. Tất nhiên là không có cái nào rồi. Nhiều nhà vô thần là những người rất tốt bụng, hay từ thiện, và là làm việc chăm chỉ. Nhưng thách thức của Hitchen bỏ qua một điểm lớn hơn: làm sao bản thân chủ nghĩa vô thần có thể có hiểu được các nghĩa vụ đạo đức lúc ban đầu? Nếu không có Đức Chúa Trời, làm thế nào để chúng ta có thể có nền tảng cho điều tốt và điều xấu? Chủ nghĩa vô thần im lặng với vấn đề này. Vì thế, nói theo một cách mỉa mai, một trong những sự phản đối Đức Chúa Trời thông thường nhất trở thành một trong những lý do tốt đẹp nhất để tin cậy nơi Ngài. (Xem thêm: Thế Giới Sẽ Như Thế Nào Nếu Con Người Sống Theo Chúa Giê-xu?)

Huyền Bí Về Nguồn Gốc Của Sự Sống?

Một trong những vấn đề khoa học rắc rối nhất ngày hôm nay đó là nguồn gốc của sự sống. Cộng đồng khoa học giấu rằng điều này là một huyền bí chưa được giải quyết. Nhà hóa học Havard George Whitesides đã từng trả lời câu hỏi về nguồn gốc của cuộc sống là một trong những câu hỏi khoa học quan trọng mà vẫn chưa được giải quyết. Thậm chí Sam Harris thừa nhận rằng nguồn gốc của sự sống vẫn là một bí ẩn.

Vấn đề về nguồn gốc sự sống cơ bản là một vấn đề về thông tin.

Với sự phát hiện ra cấu trúc của DNA vào năm 1953, các nhà khoa học lúc ban đầu hiểu được rằng tổ chức và sự phát triển của các sinh vật sống được phối hợp bởi các thông tin di truyền. Điều này là lý do vì sao trong một lời phát biểu được trích dẫn rộng rãi, đạt giải Nobel mà David Baltomore hàm ý đến sinh học hiện đại là “một ngành khoa học thông tin”.

Thông tin được tìm thấy ở trong các sinh vật sống còn nhiều đến bao nhiêu nữa? Theo như Richard Dawkin, thông tin trong các nhân tế bào của mỗi Amip thì lớn hơn cả toàn bô tuyển tập sách bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica.

DNA của con người chứa một số lượng khổng lồ hơn. Thế nhưng DNA có chức năng nhiều hơn là chỉ chứa thông tin. Kết hợp với những hệ sống tế bào khác, nó cũng xử lý thông tin giống như một máy tính. Cho nên Bill Gates xem DNA giống như là một chương trình trên máy tính, mặc dầu nó tiến bộ hơn rất nhiều so với bất kỳ phần mềm nào mà con người đã từng tạo ra.

Những người vô thần xưng nhận một cách cởi mở rằng họ không biết cách sự sống lúc mới bắt đầu là thế nào. Dawkins nhận ra sự không có khả năng của nguồn gốc sự sống, nhưng sau đó kết luận với một giải pháp kỳ lạ đó là: sự ngẫu nhiên. Đúng vậy, sự ngẫu nhiên. Có phải đây thực sự là một điều giải thích hợp lý? Các thông tin có thể bắt đầu từ một quá trình vật chất không có sự hướng dẫn, không hợp lý?

Bạn Nghĩ Gì?

Có phải sự ngẫu nhiên là một sự loại trừ có giá trị cho nguồn gốc sự sống? Ngoại trừ Đức Chúa Trời, bạn có thể nghĩ đến bất kỳ lời giải thích hợp lý nào khác không?

Nội dung thông tin của DNA là một trong những nguyên nhân chính mà nhà vô thần Antony Flew lúc trước thay đổi suy nghĩ của mình về Đức Chúa Trời. Ông kết luận rằng: “Sự giải thích thỏa đáng duy nhất cho nguồn gốc của một sự sống ‘hướng đến điểm cuối và tự sao chép’ khi chúng ta sống trên đất quả là một Tâm Trí khôn ngoan vô hạn”. Nếu một nội dung phức tạp như quyển Từ Điển Bách Khoa Britannica đến từ hành tinh bên ngoài, không nghi ngờ gì quyển đó sẽ được chấp nhận như là bằng chứng cho sự khôn ngoan đến từ ngoài trái đất. Một sự giải thích hợp lý nhất cho DNA của con người-chứa số lượng thông tin khổng lồ hơn cả từ điển bách khoa Britannica- là một Tâm Trí Thánh.

Vũ Trụ Tự Điều Chỉnh

Hãy tưởng tượng rằng bạn đang leo qua các đồi núi và gặp phải một cái nhà nhỏ bị bỏ rơi. Khi bạn đến gần cái lều, bạn để ý thấy một điều gì đó rất lạ. Trong đó, tủ lạnh có đầy những loại thức ăn yêu thích của bạn, nhiệt độ trong lều theo như bạn nhiệt độ muốn, nhạc nền bài hát yêu thích của bạn được bật lên, và tất cả những quyển sách, tạo chí và DVD yêu thích của bạn đang nằm trên bàn. Vậy bạn kết luận như thế nào? Nếu là do sự ngẫu nhiên thì không cần phải nói đến đến, bạn có khuynh hướng kết luận rằng một ai đó đã đoán được rằng bạn sẽ đến.

Trong những thập kỷ gần đây, các nhà khoa học đã bắt đầu nhận ra rằng tình huống này phản ánh toàn bộ vũ trụ. Vũ trụ dường như được chạm khắc một cách đặc biệt với chúng ta trong tâm trí. “Khi chúng ta nhìn vào trong vũ trụ và nhận ra nhiều sai lầm của vật lý và vũ trụ học đã trở nên có lợi cho chúng ta,” nhà vật lý Freeman J. Dyson nói, “điều này giống như là vũ trụ một phần nào đã biết rằng chúng ta sắp đến”. Đây là lý do tại sao nhà vũ trụ học người Anh Fred Hoyle cho rằng, “Một sự dịch nghĩa các lẽ thật thường lệ cho rằng một sự khôn ngoan siêu nhiên đã làm trò với vật lý, cũng như là hóa học và sinh học, và không có các tác động mù quáng nào đáng giá để nói đến trong tự nhiên. Các nhà vật lý học đồng ý rằng cuộc sống cân bằng trên một cạnh của một cái dao.

Xem xét hai ví dụ. Đầu tiên, nếu luật về lực hút của trái đất có sự khác nhau một chút ít, vũ trụ sẽ không thể làm có sự sống được. Liên quan đến những tác động khác trong tự nhiên, động lực phải được tự điều chỉnh một phần trong 10,000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000. Thứ hai, nhà vật lý học tại Cambridge Stephen Hawking đã quan sát rằng, “Nếu tỷ lệ bành trướng của một giây sau khi vụ nổ Big Bang đã là nhỏ hơn bởi một phần trong hàng trăm nghìn triệu triệu, vũ trụ có thể đã sụp đổ trước khi chúng thậm chí đạt được kích cỡ hiện tại.

Thật sự có mười chín vũ trụ bất biến mà mỗi vũ trụ được tự điều chỉnh một cách hoàn hảo. Rõ ràng những điều kỳ lạ chống lại chúng ta ở đây nhỏ đến mức dường như biến mất. Thật ra, nhà vật lý học tại Oxford, Roger Penrose kết luận rằng nếu chúng ta cùng xem xét tất cả các luật tự nhiên điều đó cần phải được điều chỉnh đúng, chúng ta sẽ không thể nào viết xuống một con số khổng lồ đó, bởi vì những con số cần thiết sẽ lớn hơn con số của những con số cơ bản trong vũ trụ.

Bằng chứng cho sự thiết kế bắt buộc rằng Paul Davies, một nhà vật lý học lừng danh tại Đại Học Arizona State University, đã kết luận rằng môi trường tự nhiên thân thiện của vũ trụ chúng ta giống như một sự “lắp vào”. Ông nói như thế này “Câu nói rập khuôn rằng ‘Sự sống được cân bằng trên một cái lưỡi dao’ là một cách nói đáng kinh ngạc trong trường hợp này: không có con dao nào trong vũ trụ này có thể có một cái lưỡi mỏng đến như vậy.” Davies nói, không có sự giải thích khoa học nào cho vũ trụ có thể đầy đủ mà không tính vào vẻ bên ngoài (appearance) đáng kinh ngạc của thiết kế này. Một số người cố gắng giải thích cho việc tự điều chỉnh bằng cách đặt sự tồn tại của nhiều vũ trụ, nhưng bằng chứng cho chủ nghĩa kinh nghiệm đối với họ thì không tồn tại. Cách giải thích đáng tin cậy và mang tính hợp lý nhất đó là tại sao vũ trụ lại được điều chỉnh một cách chính xác đó là bởi vì một Đấng Sáng Tạo-Đức Chúa Trời-tạo ra nó theo cách đó. (Xem thêm: Có Phải Chủ Nghĩa Có Thần Có Đạo Đức Hơn Không?)

Có Phải Khoa Học Đang Tranh Chiến Với Tôn Giáo?

Khoa học đã ở trong trận chiến với tôn giáo trong nhiều thế kỷ. Ít ra thì đó là điều mà những Nhà Vô Thần Mới muốn bạn nghĩ là vậy. Mặc dầu điều đó được tin rộng rãi, việc tôn giáo đã cản trở sự phát triển của khoa học thật sự chỉ là một huyền thoại. Thật ra đó là cách nhìn của Cơ Đốc Nhân- với sự nhấn mạnh về trật tự của vũ trụ, trọng tâm của nó nằm trên lý do về con người, và điều nó dạy dỗ là Đức Chúa Trời được vinh hiển qua sự hiểu biết của chúng ta về sự sáng tạo của Ngài- điều này đã đặt một nền tảng cho cuộc cách mạng khoa học hiện đại.

Hầu hết những nhà khoa học lúc ban đầu bắt buộc phải học về thế giới tự nhiên bởi vì thế giới quan Cơ Đốc của họ. Trong quyển Khoa Học và Thế Giới Hiện Đại, nhà toán học và triết học người Anh Alfred North Whitehead kết luận rằng khoa học hiện đại phát triển chủ yếu từ “sự tồn tại của thời trung cổ trong tính hợp lý về Đức Chúa Trời”.

Khoa học hiện đai đã không phát triển từ trong một môi trường chân không, nhưng từ các nguồn lực chủ yếu được đẩy mạnh bởi Cơ Đốc Giáo. Không ngạc nhiên gì khi hầu hết những nhà khoa học ở buổi ban đầu là những người tin có thần, bao gồm những người tiên phong như là Francis Bacon (1561-1626), Johannes Kepler (1571- 1630), Blaise Pascal (1623-62), Robert Boyle (1627-91), Issac Newton (1642-1727), và Louis Pasteur (1822-95). Đối với nhiều người trong số họ, niềm tin vào Đức Chúa Trời là động lực chính cho sự nghiên cứu về thế giới tự nhiên. Bacon tin rằng thế giới tự nhiên đầy sự diệu kỳ mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta khám phá. Kepler mô tả động lực của ông cho khoa học: “Mục tiêu chính của tất cả nghiên cứu này đối với thế giới bên ngoài đó là khám phá trật tự hợp lý và sự hài hòa đã được đặt nên bởi Đức Chúa Trời, và điều đó Ngài bày tỏ cho chúng ta qua ngôn ngữ toán học.

Hitchens giảm nhẹ sự buộc tội tôn giáo đối với những nhà khoa học tiên phong  này, tranh luận rằng không có sự lựa chọn cho cuộc sống nào khác đối với một trí thức về thời gian. Nhưng điều này đặt Hitchens trong một vị trí hiếu kỳ. Nếu những người tin theo tôn giáo không có được công trạng nào để có những đóng góp tích cực cho xã hội (ví dụ, tạo hình cho khoa học hiện đại) bởi vì “ai cũng hiếu đạo”, thì làm sao những người tin theo tôn giáo lại bị đổ lỗi cho những điều hung bạo được gây nên trong danh Đức Chúa Trời? Điều này là một tiêu chuẩn đôi. Các Nhà Vô Thần Mới muốn chối bỏ bất cứ công trạng nào của những người tin theo tôn giáo, thế nhưng họ lại đổ lỗi tất cả cho những người đó. Để ủng hộ cho quan điểm “tôn giáo đầu độc mọi thứ”, Hitchens đã xem nhẹ các bằng chứng chống đối. Và ông rất vui vẻ để làm điều đó. (Xem thêm, Có phải Chủ Nghĩa Vô Thần Khoa Học Hơn Không?)

Có Phải Chủ Nghĩa Vô Thần Hợp Lý Hơn Không?

Người theo Chủ Nghĩa Vô Thần Mới tin một cách chắn chắn rằng chủ nghĩa vô thần có giữ một vị trí hợp lý cao hơn. Theo như Hitchens, tôn giáo được dựa trên “duy nhất đức tin”, trong khi thuyết vô thần không đòi hỏi sự cam kết niềm tin nào bởi vì nó dựa chủ yếu vào bằng chứng chủ nghĩa kinh nghiệm trong khoa học.

Chúng ta sẽ khám phá câu hỏi về việc chủ nghĩa vô thần hay chủ nghĩa có thần đúng hơn với các dữ liệu khoa học, nhưng trước tiên chúng ta cần xem xét một câu hỏi cơ bản hơn: thế giới tự nhiên có ý nghĩa như thế nào? Einstein đã từng phát biểu rằng điều khó hiểu nhất về thế giới đó là việc có thể hiểu được nó.

Einstein hiểu được một lẽ thật cơ bản về khoa học, đó là nó phụ thuộc vào một số kết luận triết lý nhất định về thế giới tự nhiên. Những kết luận này bao gồm sự tồn tại của một thế giới thật bên ngoài mà có trật tự và có thể biết được, và đáng giá cho việc tâm trí của chúng ta nắm bắt được thế giới đó. Khoa học không thể tiến triển ngoài những kết luận này.

Nhưng điều này dấy lên một tình trạng đặc biệt gai gốc cho các nhà vô thần: Nếu tâm trí được phát triển thông qua quá trình vật chất mù quáng của thuyết tiến hóa của Darwin, thì tại sao chúng ta nên tin điều đó chứ? Tại sao chúng ta nên tin rằng bộ não của con người, là kết quả của một quá trình ngẫu nhiên-thật sự khiến cho chúng ta kết nối với thực tế? Khoa học không thể được dùng như là một câu trả lời cho câu hỏi này bởi vì bản thân chính khoa học dựa vào chính những kết luận này.

Thậm chí Charles Darwin nhận thức được vấn đề này: “Sự nghi ngờ khủng khiếp luôn bắt nguồn từ sự tự kết án trong tâm trí của một người, được hình thành từ tâm trí của những loài động vật bậc thấp hơn, có giá trị hay đáng tin cậy không. Có ai tin vào sự tự kết án trong tâm trí của một con khỉ, nếu thật sự có bất kỳ sự kết án nào trong tâm trí đó?” Người theo Chủ Nghĩa Vô Thần Mới đặt niềm tin lớn vào khả năng tư duy của chính họ, nhưng thế giới quan vô thần của họ làm giảm đi bất kỳ căn cứ nào cho niềm tin đó. Thực ra, nếu thuyết tiến hóa của Darwin đúng, chúng ta không nên tin vào khả năng nhận thức của chính mình bởi vì có là kết quả của một quá trình không có sự hướng dẫn và không hợp lý.

Giải thưởng Templeton- nhà vật lý chiến thắng Paul Davies nói, “Khoa học dựa trên sự kết luận rằng vũ trụ là hoàn toàn hợp lý và lô-gíc ở mỗi tầng lớp. Nhà vô thần tuyên bố rằng các luật [thuộc về tự nhiên] tồn tại một cách vô lý và vũ trụ là hoàn toàn lố bịch. Là một nhà khoa học, tôi thấy điều này khó để chấp nhận. Phải có một nền tảng hợp lý không thay đổi mà trong đó tự nhiên lô-gíc và có thứ tự trong vũ trụ được bắt nguồn.”

Chủ nghĩa vô thần không mang đến một nền tảng có lý như vậy. Trong thực tế, chủ nghĩa vô thần cắt giảm nhiều điều đi. Tuy nhiên chủ nghĩa có thần cung cấp một nền tảng như vậy. Nó không chỉ đơn giản là sự hợp lý của vũ trụ phù hợp hơn với chủ nghĩa có thần, với mức độ kết nối trở nên sâu hơn. Một vũ trụ hợp lý là điều mà chúng ta mong đợi nếu Chúa tồn tại.

Bạn Nghĩ Gì?

Tại sao chúng ta mong đợi vũ trụ trở nên hợp lý nếu Đức Chúa Trời tồn tại? Chủ nghĩa có thần chính xác làm giảm đi cơ sở của sự hợp lý như thế nào? (xem thêm: Có Phải Khoa Học Đang Tranh Chiến Với Tôn Giáo?)

 

Thách thức của Chủ Nghĩa Vô Thần Mới Là Gì?

Khi tôi (Sean) ngồi ở quán cà phê địa phương để nhâm nhi ly cà phê vani đá, tôi nhìn khắp phòng và để ý thấy một người phụ nữ trẻ đang đọc một cuốn sách với nhan đề rất khiêu khích. Các chữ màu bạc nhảy ra khỏi nền màu vàng tươi sáng: Đức Chúa Trời Không Tuyệt Diệu: Cách Tôn Giáo Đầu Độc Tất Cả Mọi Thứ, bởi Christopher Hitchens. Bị lôi cuốn bởi các tiêu đề in đậm, tôi quyết định hỏi cô quyển sách này nói về điều gì. Cô bắt đầu giảng giải cho tôi rất nhiệt tình và dài dòng về cách mà tôn giáo là nguồn ảnh hưởng lớn nhất của các điều xấu trong lịch sử thế giới, cách khoa học đã bác bỏ bất kỳ cơ sở nào cho một niềm tin hợp lý, và cách con người có thể sống tốt mà không có Chúa. Người phụ nữ trẻ tuổi này có đúng không? Có phải tôn giáo là nguyên nhân của sự tồn tại của con người? Khoa học bằng cách nào đó đã bác bỏ Đức Chúa Trời đúng không? Thế giới sẽ tốt hơn không nếu chúng ta chấp nhận chủ nghĩa vô thần? Thuyết vô thần chắc chắn không phải là mới. Khoảng 1.000 năm trước khi Đấng Christ đến, Vua David mô tả một người nói trong lòng mình, “Không có Đức Chúa Trời” (Thi Thiên 14: 1). Thời điểm nào cũng có người phủ nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời, và có lẽ sẽ luôn luôn như vậy. Trong khi những người vô thần thường lên tiếng về niềm tin của mình, ảnh hưởng của văn hóa pop của họ đã trở nên số nhỏ cho đến bây giờ. Gần đây, một nhóm người ăn nói lưu loát, nhiệt tình, và các chiến binh vô thần đã được đem ra trước các cộng đồng. Khán giả của họ đã rất ủng hộ như chưa từng có trong lịch sử của Chủ Nghĩa Vô Thần. Chỉ trong vòng hơn một năm, ba cuốn sách của họ đã được phát hành. Sam Harris bắt đầu cuộc tấn công với việc phát hành Thư gửi một Quốc Gia Cơ Đốc (Letter to a Christian Nation) (2006), theo đó là sách Đức Chúa Trời Lừa Bịp (The God Delusion) (2006) của Richard Dawkins, và cuối cùng Đức Chúa Trời Không Tuyệt Diệu (God Is Not Great) của Christopher Hitchens (2007). Tất cả ba cuốn sách được bán ra cách nhanh chóng, dành được chỉ tiêu trên danh sách các sách bán chạy nhất theo tháng chứ không phải theo tuần. Ví dụ, Đức Chúa Trời Không Tuyệt Diệu, đứng vị trí số 1 trên danh sách các sách không phải là tiểu thuyết bìa cứng bán chạy nhất trên trang New York Times trong vòng một tháng phát hành. Gần 300.000 bản đã được in đến tuần thứ 7.

Bạn nghĩ sao?

Tại sao bạn nghĩ rằng những Người Vô Thần gần đây đã đòi hỏi điều quan trọng như sau?

Sự ảnh hưởng của những cái gọi là Chủ Nghĩa Vô Thần Mới đã đi xa hơn thế giới xuất bản. Họ đã viết bài báo, nói chuyện tại các trường đại học, tham gia vào các cuộc tranh luận, được phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình, và đăng vô số video trên YouTube. Họ đã khiến cho những người tìm kiếm rối trí và đã làm rung chuyển đức tin của nhiều người tin. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy rằng số một lượng người Mỹ tự nhận mình là người vô thần và bất khả tri tăng lên. Mục tiêu của Người Vô Thần Mới rất đơn giản: tiêu diệt bất kỳ căn cứ hợp lý cho niềm tin tôn giáo và thuyết phục các tín hữu từ bỏ đức tin của họ. Có phải họ đang làm điều gì mới? Có phải họ đã phát hiện ra một số bằng chứng bác bỏ Đức Chúa Trời mới? Điều gì làm cho Chủ Nghĩa Vô Thần Mới mới?

Không Có Gì Mới

Một nhà báo Anh nổi tiếng Malcom Muggeridfe từng nói rằng tất cả các tin tức không có gì hơn so với những người trải nghiệm những điều cũ. Mọi thứ có vẻ mới, nhưng mà hầu như không có nghĩa là chúng thực sự là mới. Khi nói đến Chủ Nghĩa Vô Thần Mới, không có những khám phá mới mẻ trong khoa học, triết học, hoặc lịch sử đem đến sự phá hoại Cơ Đốc Giáo. Hầu hết các lập luận của các Người Vô Thần Mới được tái chế từ những người vô thần cũ như Friedrich, Nietzsche, Sigmund Freud, Karl Marx, và Bertrand Russell. Tuy nhiên, có một vài đặc điểm mà làm cho Một Người Vô Thần Mới độc đáo.

Đầu tiên, Người Vô Thần Mới thì không phải trả giá nhiều. Những người vô thần trong quá khứ nhận ra rõ rằng những kết cục của việc chối bỏ Đức Chúa Trời. Họ nhận ra rằng nếu không có Đức Chúa Trời chúng ta sống trong một vũ trụ lạnh lẽo, tối tăm và vô nghĩa. Nhiều Người Vô Thần Lúc Trước thương tiếc cho sự chết của Chúa bởi vì họ đã nhận ra rằng điều đó làm hao mòn các nền tảng văn hóa Phương Tây. Người theo thuyết tồn tại Albert Camus đã thừa nhận rằng sự chết của Chúa có nghĩa là sự mất đi mục đích, niềm vui và tất cả mọi thứ khiến cho cuộc sống đáng sống.

Ngược lại, Những Nhà Vô Thần Mới thật sự ăn mừng về sự chết của Chúa. Họ nghĩ rằng cuộc sống có thể tiếp tục như bình thường (và thậm chí được cải thiện) nếu chúng ta đơn giản bài trừ tôn giáo. Giáo Sư John Haught thuộc Georgetown University nói chủ nghĩa vô thần “mềm mại” cho nên thất bại trong việc nhìn nhận chủ nghĩa vô thần một cách nghiêm túc:

Những Người Theo Chủ Nghĩa Vô Thần mềm mại Mới này cho rằng, bởi cú đánh của chủ nghĩa Darwin, chúng ta chỉ có thể xem Đức Chúa Trời như là Ông Già Nô-ên (Santa Claus) mà không cần phải chứng kiến sự sụp đổ hoàn toàn của văn hóa Châu Âu-bao gồm cảm nhận của chúng ta về điều gì là có lý và có đạo đức. Ít ra những người vô thần cứng rắn hiểu được rằng nếu chúng ta thật sự chân thật trong chủ nghĩa vô thần của mình thì cả mạng ý nghĩa và giá trị lẫn lôn xung quanh ý tưởng về Đức Chúa Trời trong văn hóa Châu Âu phải mất đi cùng với trung tâm tổ chức của nó.

Thứ hai, ngược lại với những hình thức chủ nghĩa vô thần cũ hơn, Người Vô Thần Mới không dung hòa với niềm tin tôn giáo. Họ tin rằng tôn giáo không chỉ là do con người tạo nên, nhưng nó còn đầu độc mọi thứ và vì thế cần phải được bài trừ. Trong Lá Thư Cho Một Đất Nước Cơ Đốc, Sam Harris nói rằng “sự tôn trọng [Quyền Tôn Giáo] đòi hỏi các niềm tin tôn giáo của chính chúng mang đến nơi trú ẩn cho những người cực đoan của tất cả niềm tin”. Trong khi Harris nhận ra rằng phe tự do và phe trung hòa không bay máy bay vào trong các tòa nhà, ông tin rằng sự khoan dung của họ mang đến sự hỗ trợ cho chủ nghĩa cực đoan như vậy. Vì thế, điều đó cần được bài trừ. Nếu những Người Vô Thần Mới đạt được điều họ muốn, sự tự do tôn giáo sẽ chỉ còn là một di tích của quá khứ.

Thứ ba, những Người Vô Thần Mới mang đến các cuộc tấn công tàn ác nhất cho Cơ Đốc Giáo. Trong khi họ phê phán Phật Giáo, Đạo Hồi, Mộc-Môn và các tôn giáo khác, mục tiêu nhắm đến của họ rõ ràng là Đức Chúa Trời theo Kinh Thánh. Richard Dawkins nhận thức rằng “Trừ khi được ghi lại khác đi, tôi vẫn sẽ có hầu như là Cơ Đốc Giáo trong tâm trí mình.”

Nếu bạn đã đọc bất kỳ điều gì về Người Vô Thần Mới, việc bạn giữ lời của vua Sa-lô-môn trong tâm trí mình là quan trọng: “Người tiên cáo nghe như phải lẽ; Song bên đàng kia đến, bèn tra xét người.” (Châm Ngôn 18:17). Nói cách khác, khi chỉ có một phía của vấn đề được nghe thấy, bằng chứng thường có vẻ thuyết phục. Thế nhưng khi cả câu chuyện được đặt ở trong đó, tình huống lúc ban đầu thường trở nên vụn vở. Những Người Vô Thần Mới khá thuyết phục- cho đến khi mặt khác được nghe thấy. Đây là mặt khác của vấn đề. (Xem thêm: Có phải chủ nghĩa vô thần hợp lý hơn không?)

Tài liệu giúp bạn hiểu thêm về Tin Lành