Đức Chúa Trời, Người Nói Dối hoặc Người Mất Trí?

Các tuyên bố riêng biệt về Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời ngoại trừ những thủ đoạn phổ biến của những người hoài nghi cho rằng Chúa Giê-xu chỉ là một người có đạo đức tốt hoặc một tiên tri đã nói về những điều sâu sắc. Như vậy thường thì kết luận được truyền đi như là điều duy nhất được chấp nhận với các học giả, hoặc như là kết quả rõ ràng về một quá trình hiểu biết. Vấn đề là, nhiều người gậc đầu đồng ý và không bao giờ thấy được đó là sự ngụy biện cho với những lý do như vậy.

Đối với Chúa Giê-xu, những người đã tin Ngài là một người đặc biệt quan trọng. Để nói điều Chúa Giê-xu đã nói và tuyên bố điều Ngài tuyên bố về chính Ngài, người ta không thể kết luận rằng Ngài chỉ là một người có đạo đức hoặc một nhà tiên tri. Sự thay thế này không được áp dụng đối với một cá nhân và Chúa Giê-xu không bao giờ có ý định cho việc đó là như vậy.

C.S Lewis, người là một giáo sư tại Đại Học Cambridge và đã từng là một người theo thuyết không thể biết, đã hiểu được điều này rất rõ ràng. Ông viết: “Tôi đang cố gắng ở đây để ngăn chặn bất cứ ai nói về điều thật sự điên rồ mà nhiều người thường nói về ông: “Tôi sẵn sàng chấp nhận Chúa Giê-xu là một thầy giáo có đạo đức tốt, nhưng tôi không chấp nhận lời tuyên bố của Người là Đức Chúa Trời”. Đó là một điều chúng ta không được nói. Một người hoàn toàn chỉ là một con người và nói những điều mà Chúa Giê-xu nói thì không phải là một thầy có đạo đức tốt. Người đó có thể là một người mất trí ở mức độ giống như một người nói rằng anh ta là một cái trứng bác hoặc không thì anh ta là Quỉ ở Địa Ngục. Bạn phải đưa ra sự lựa chọn của mình. Người đã và đang là con của Đức Chúa Trời hoặc nếu không thì là một người điên hoặc là một điều gì đó tệ hơn nữa”.

Sau đó Lewis thêm vào: “Bạn có thể làm im mồm người điên ấy, bạn có thể mang người ấy lên và giết người ấy như là một quỉ, hoặc bạn có thể sập mình trước chân người và gọi người là Đức Chúa Cha và Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đừng nên nảy ra những lời chiếu cố vô lý về việc Ngài là một thầy giáo dạy tuyệt vời. Ngài đã không bày tỏ điều đó ra cho chúng ta. Ngài đã không có ý định như vậy”.

F.J.A. Hort người đã dành hai mươi tám năm trong một nghiên cứu bình luận về nội dung của Tân Ước, viết: “Lời Ngài được chia ra từng phần rất hoàn hảo và lời bày tỏ về chính Ngài, không có ý nghĩa là các lời phát biểu nghĩa bóng về lẽ thật của một vị thánh hoặc một tiên tri Thánh. Tách biệt chính Ngài ra thành một chủ đề chính yếu của mỗi lời phát biểu (mặc dầu không phải là chủ đề cuối cùng) và tất cả sẽ vào đúng vị trí của chúng”.

Trong lời của Kenneth Scott Latourette, một nhà lịch sử học của Cơ Đốc Giáo tại Đại Học Yale: “Không phải những lời dạy của Chúa Giê-xu khiến Ngài trở nên đáng chú ý, mặc dầu những lời dạy đó cũng đủ để khiến Ngài khác biệt. Nhưng đó là sự kết hợp giữa lời dạy với bản thân chính Ngài. Cả hai không thể bị tách biệt.” “Điều đó rất rõ ràng,” Latourette kết luận “đối với những người đọc sách có cân nhắc về Phúc Âm tường thuật rằng Chúa Giê-xu cho rằng chính Ngài và thông điệp Ngài là không thể tách rời. Ngài là một thầy giáo vĩ đại, nhưng Ngài còn hơn thế nữa. Những lời dạy của Ngài về nước Đức Chúa Trời, về tư cách đạo đức của con người, và về Đức Chúa Trời là rất quan trọng, nhưng họ không thể bỏ qua quan điểm của Ngài, những lời ấy đã bị làm vấy bẩn”.

Chúa Giê-xu tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Ngài đã không có bất cứ sự lựa chọn nào khác. Lời tuyên bố của Ngài phải được xem là đúng hoặc sai, như vậy đó là điều mà nên được xem xét một cách nghiêm túc. Câu hỏi của Chúa Giê-xu đối với các môn đồ “Nhưng ngươi nói ta là ai?” (Ma-thi-ơ 16:15) đưa ra nhiều sự lựa chọn khác.

Đầu tiên, cứ cho là lời tuyên bố của Ngài là Đức Chúa Trời là sai. Nếu nó sai, thì chúng ta có hai và chỉ hai sự lựa chọn khác. Ngài có thể biết điều đó là sai hoặc Ngài đã không biết là điều đó sai. Chúng ta sẽ xem xét mỗi hướng một cách riêng biệt và kiểm tra bằng chứng.

Ngài Có Phải Là Một Người Nói Dối Không?

Nếu, khi Chúa Giê-xu đưa ra những lời tuyên bố này, Ngài đã biết rằng Ngài không phải là Đức Chúa Trời, thì Ngài đang dối hoặc đang cố ý lừa dối những người theo Ngài. Nhưng nếu Ngài là một người nói dối, thì Ngài cũng là một kẻ giả tạo bởi vì Ngài nói với mọi người là phải chân thật, bất kể giá nào, trong khi bản thân Ngài dạy và sống một với một lời nói dối khổng lồ. Nếu Ngài không thể biện minh cho những tuyên bố của mình và Ngài đã biết điều đó, thì Ngài hiểm ác đến nổi không thể nói nên lời. Cuối cùng, Ngài cũng có thể là một người ngu xuẩn bởi vì chính những tuyên bố về mình là Đức Chúa Trời đã dẫn Ngài đến việc chịu đóng đinh.

Nhiều người vẫn nói rằng Chúa Giê-xu là một thầy dạy đạo đức. Hãy thực tế hóa vấn đề! Làm sao một người thầy với đạo đức vĩ đại, người biết mình đang dẫn người khác đi sai đường tại điểm quan trong nhất về sự nhận diện của chính mình có thể như vậy?

Bạn sẽ phải kết luận một cách có lô-gíc rằng Ngài là một người nói dối có chủ tâm. Tuy nhiên quan điểm này của Chúa Giê-xu tuy nhiên không trùng khớp với điều chúng ta biết về Ngài hoặc về kết quả của cuộc sống Ngài và sự dạy dỗ của Ngài. Bất cứ nơi nào Chúa Giê-xu đã tuyên bố, cuộc sống ở đó đã thay đổi để trở nên tốt hơn, các quốc gia đã thay đổi để trở nên tốt hơn, những kẻ trộm đã được khiến trở nên chân thật, những người nghiện rượu được chữa lành, những người đáng ghét đã trở thành những kênh của tình yêu thương, những người không công bằng trở nên công bằng.

William Lecky, một trong những nhà lịch sử học được chú ý nhất ở nước Anh, và là một người đối lập sôi nổi nghịch với Cơ Đốc Học có tổ chức, viết “Điều được để lại cho Cơ Đốc Giáo là việc bày tỏ cho thế giới một nhân vật lý tưởng mà thông qua tất cả sự thay đổi trong vòng mười tám thế kỷ đã gây cảm hứng cho những tâm hồn của con người với một tình yêu thương sâu sắc; đã bày tỏ chính tình yếu đó có thể hành động ở tất cả mọi thời đại, đất nước, tâm tính và điều kiện, không chỉ là khuôn mẫu đức hạnh cao nhất, nhưng cũng là sự khích lệ mạnh mẽ nhất đối với hành động của nó…Một sự tường thuật đơn giản về ba năm ngắn ngủi của một cuộc sống

sống động đã tác động nhiều hơn đến việc phục hưng và làm dịu nhẹ con người hơn là tất cả những bài luận văn dài của những triết lý gia và tất cả sự xuyên tạc của những nhà đạo đức học.

Nhà lịch sử học Philip Schaff nói rằng: “Lời chứng này, nếu không đúng, phải là một lời báng bổ thẳng thắn hoặc điên dại. Một giả thuyết trước không thể trụ được một lúc trước sự trong sạch đạo đức hoặc nhân phẩm của Chúa Giê-xu, được bày tỏ ở trong mỗi lời và công việc của Ngài, và được nhận thức bởi sự chấp nhận chung. Sự tự dừa dối về một vấn đề là rất quan trọng, với sự khôn ngoan trong mọi mặt rất rõ ràng và đúng đắn, cũng tương đương với việc không thể hỏi được. Làm sao một người nhiệt tình hoặc điên rồ, người đã chưa bao giờ mất đi sự cân bằng trong tâm trí mình, đã có thể chèo lái một cách bình thản qua các vấn đề và sự đàn áp, giống như Mặt Trời nằm ở trên các tầng mây, ai có thể luôn luôn trả lời một câu hỏi khôn khéo nhất trước những câu hỏi cám dỗ, người tuyên bố về cái chết của mình trên cây thập tự một cách nhẹ nhàng và rõ ràng, về sự sống lại của mình vào ngày thứ ba, và sự đầy dẫy Đức Thánh Linh, nền tảng của Hội Thánh mình, sự tuyên đoán về sự phá hủy của Giê-ru-sa-lem đã thực sự xảy ra? Một nhân vật rất nguyên thủy, rất hoàn hảo, rất kiên định, rất con người thế nhưng vẫn cao hơn trên tất cả những sự lớn lao của con người, có thể không phải là một điều sai hay một điều hư cấu. Nhà văn, như đã từng nói, trong trường này có sự vĩ đại hơn người hùng hơn. Cần có một Giê-xu lớn hơn mới có thể tạo ra một Giê-xu.

Ở đâu đó Schaff đề cập đến một lời biện minh khá thuyết phục chống nghịch lại Đấng Christ là một kẻ nói dối: “Làm thế nào để đạt được lô-gíc, lẽ thường và kinh nghiệm, để hiểu được một người mạo danh- đó là một người lừa dối, ích kỷ, sa đọa đã được tạo ra, có thể luôn luôn cai quản từ đầu cho đến cuối, một nhân vật trong sáng nhất và cao quý nhất được biết đến ở trong lịch sử với lẽ thật và thực tế hoàn hảo nhất? Làm thế nào để Ngài có thể chấp nhận và thực hiện kế hoạch một cách thành công với một tấm lòng yêu thương không thể so sánh được, đạo đức rộng lớn, và sự hùng vĩ và đã hy sinh chính cuộc sống của mình trước mặt những người có ác cảm mạnh mẽ nhất về dân Ngài và thời đại Ngài?

Nếu Chúa Giê-xu muốn nhiều người theo Ngài và tin nơi Ngài là Đức Chúa Trời, tại sao Ngài lại đến với nước Do Thái? Tại sao đến với tư cách là một người thợ mộc ở Na-za-rét đến một đất nước có diện tích và dân số rất nhỏ nhưng hoàn toàn gắn với sự hiệp một không thể tách rời của Đức Chúa Trời? Tại sao Ngài đã không đến Ai Cập hoặc, thậm chí hơn nữa, đến Hy Lạp, nơi họ tin cậy vào rất nhiều chúa và nhiều sự bày tỏ đến từ họ.

Một người nào đó đã sống như là Chúa Giê-xu đã sống, dạy những điều Chúa Giê-xu dạy và chết như Chúa Giê-xu đã chết thì không thể là một kẻ nói dối được. Còn có sự lựa chọn nào khác nữa không?

Người Có Phải là Một Người Mất Trí không?

Nếu điều này không thể chấp nhận được rằng Chúa Giê-xu là một kẻ nói dối, thì Ngài không thể thực sự nghĩ rằng bản thân mình là Đức Chúa Trời, nhưng có thể là được hiểu sai? Dù sao thì, cũng có thể là một người chân thật nhưng sai. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng để một ai đó nghĩ mình là Đức Chúa Trời, đặc biệt là ở trong một nền văn hóa chỉ duy nhất một thần, và sau đó nói với những người khác rằng số mệnh đời đời của họ phụ thuộc vào việc tin cậy nơi ngài, không có sự tưởng tượng bay bổng nhẹ về suy nghĩ của một người mất trí mà có ý nghĩa đầy đủ nhất. Chúa Giê-xu có phải là một người như vậy không?

Một người nào đó tin rằng Đức Chúa Trời nghe có vẻ giống như một người nào đó ngày nay tin rằng chính họ là Na-pô-lê-ông. Người đó sẽ bị đánh lừa và tự lừa dối bản thân mình và có thể bị khóa lại để người đó không thể làm hại mình hoặc bất cứ ai khác. Thế nhưng ở nơi Chúa Giê-xu chúng ta không quan sát thấy những điều không bình thường hoặc những điều không cân bằng mà thường đi cùng với sự lộn xộn. Thế cân bằng và sự điềm tĩnh chắc chắn sẽ rất ngạc nhiên nếu người ấy bị điên.

Noyes và Kolb, trong một văn bản ý tế mô tả một người bị tâm thần phân liệt là một người bị tự kỷ hơn là thực tế. Người bị tâm thần phân liệt mong muốn được giải thoát ra khỏi thế giới thực này. Hãy đối mặt với điều đó: tuyên bố mình là Đức Chúa Trời chắc chắn là một sự rút lui khỏi thực tế.

Trong những cách nhìn khác chúng ta biết về Chúa Giê-xu; khá khó để tưởng tượng rằng Ngài bị vấn đề về thần kinh. Đây là một người đàn ông nói về một số câu nói sâu sắc nhất đã từng được lưu lại. Các hướng dẫn của Ngài khó mà được thoát ra từ những cá nhân bị kiềm kẹp trong tâm trí. Clark H. Pinnock hỏi: “Ngài có phải bị lừa dối về sự vĩ đại của Ngài, một người bị hoang tưởng ảo giác, một người lừa dối không cố ý, một người bị tâm thần phân liệt? Một lần nữa, kỹ năng và sự sâu sắc của lời dạy của Ngài hỗ trợ cho tình huống này và cho toàn bộ sự sáng suốt tâm trí của Ngài. Giá như mà chúng ta cũng bị điên rồ giống như Ngài!”Một học sinh tại trường Đại Học California nói với tôi rằng giáo sư tâm lý học của anh ấy đã nói trong lớp rằng “tất cả những điều mà ông cần làm đó là lấy quyển Kinh Thánh lên và đọc các phần về lời dạy của Đấng Christ cho nhiều bệnh nhân của ông. Đó là tất cả sự cố vấn mà họ cần”.

Một nhà tâm thần học J.T. Fisher phát biểu rằng “Nếu bạn lấy một loạt tổng cộng các bài viết có quyền lực từng được viết bởi những nhà tâm lý học và các nhà tâm thần học xuất sắc nhất về chủ đề vệ sinh tâm trí- nếu bạn kết hợp chúng lại và sàng lọc chúng và chẻ bổ ra sự dài dòng quá mức- nếu bạn muốn lấy tất cả thịt và không có một chút ngò tây nào, và nếu bạn có những phần kiến thức khoa học thuần khiết chính xác bày tỏ bởi một số nhà thơ còn sống có ưu tú nhất, bạn sẽ có một sự kết hợp không đầy đủ của bài giảng trên Núi. Sự so sánh này sẽ chịu sự khập khiễng không thể lường được.Trong vòng gần hai ngàn năm thế giới Cơ Đốc Nhân đã giữ tay mình và đưa ra một câu trả lời hoàn hảo cho sự mong đợi không ngừng nghỉ và không kết quả. Ở đây…nằm kế hoạch của cuộc sống con người được sự thành công với sự lạc quan, sức khỏe tâm lý và sự thỏa lòng.

C.S Lewis viết: “ Sự khó khăn về mặt lịch sử trong việc ban tặng cho cuộc sống, những câu nói và ảnh hưởng của Chúa Giê-xu, bất cứ một sự giải thích nào mà không khó hơn sự giải thích về Cơ Đốc Học là rất tuyệt. Sự không thống nhất giữa độ sâu và sự ôn hòa…về lời dạy đạo đức và chứng hoang hưởng tự đại bùng lên chắc phải nằm đằng sau những lời dạy về thần học của ông trừ khi ông thực sự là Đức Chúa Trời thì không bao giờ được giải thích thỏa đáng. Vì thế nên những giả thuyết không thuộc về Cơ Đốc Học bổ sung thành công lẫn cho nhau với sự tốt đẹp không ngừng cùng với sự bối rối.

Philip Schaff lý luận: “Có thể nào một người có một tâm trí sáng như bầu trời, quay hướng giống như không khí trên núi, sắc nhọn và xuyên thấu giống như một thanh gươm, hoàn toàn khỏe mạnh và cường tráng, luôn luôn sẵn sàng và sở hữu sự đáng tin cậy lại có một sự hoang tưởng về điều cơ bản nghiêm trọng nhất về tính cách và nhiệm vụ của chính mình? Quả là một sự tưởng tượng lố bịch!

Ngài Có Phải Là Đức Chúa Trời Không?

Bản thân cá nhân tôi không thể tự kết luận rằng Chúa Giê-xu là một người nói dối hoặc một người mất trí. Một điều thay thế duy nhất khác là Ngài là Đấng Christ, là Con của Đức Chúa Trời, như Ngài đã tuyên bố.

Khi tôi thảo luận điều này với hầu hết những người Do Thái, thật thú vị khi nghe cách họ trả lời. Họ thường nói với tôi rằng Chúa Giê-xu là một người lãnh đạo có đạo đức, thẳng thắn, một người tốt, hoặc một số kiểu tiên tri. Sau đó tôi chia sẻ với họ các lời tuyên bố Chúa Giê-xu được đưa ra từ chính Ngài và sau đó tài liệu trong chương này về ba điều trên (Kẻ Nói Dối, Người Mất Trí hoặc Đức Chúa Trời). Khi tôi hỏi nếu họ tin Chúa Giê-xu là một người nói dối, sẽ có một lời chắc chắn nói “Không!” Sau đó tôi hỏi “Bạn có tin Ngài là một người mất trí không? Câu trả lời là “Tất nhiên không”. “Bạn có tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời?” Trước khi tôi có thể nói thêm, có một tiếng vang dội “Hoàn toàn không”. Thế nhưng chúng ta chỉ có bấy nhiêu sự lựa chọn thôi.

Vấn đề với ba sự lựa chọn trên không phải là sự lựa chọn nào là có thể, vì rõ ràng là cả ba đều có thể. Thế nhưng, câu hỏi là “Sự lựa chọn nào có thể hơn?” Bạn quyết định Chúa Giê-xu là ai không phải là một bài tập tâm trí vô ích. Bạn có thể không đặt Ngài lên trên giá giống như một người thầy đạo đức vĩ đại. Đó không phải và một sự lựa chọn có giá trị. Ngài có thể là một người nói dối, một kẻ điên rồ hoặc là Đức Chúa Trời và Chúa. Bạn phải đưa ra một sự lựa chọn. “Nhưng”, như Sứ Đồ Giăng đã viết, “Nhưng những việc nầy được viết ra để anh chị em tin rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, Con Thượng Đế, và nếu tin Ngài thì anh chị em sẽ hưởng sự sống nhờ danh Ngài.” (Giăng 20:31)

Bằng chứng thiên về Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời là rất rõ ràng. Tuy nhiên một số người từ chối những bằng chứng rõ ràng này bởi vì có sự liên quan đến đạo đức. Họ không muốn đối mặt với những trách nhiệm hoặc dính líu đến việc gọi Ngài là Đức Chúa Trời.

Điều Gì Khiến Cho Chúa Giê-xu Rất Khác?

Gần đây tôi đã nói chuyện với một nhóm người tại Los Angeles. Tôi hỏi họ, “Theo ý kiến của các anh ai là Chúa Giê-xu Christ?” Câu trả lời đó là Ngài là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Tôi đồng ý với điều đó. Chúa Giê-xu Christ là một người lãnh đạo tôn giáo vĩ đại. Nhưng tôi tin rằng Ngài còn hơn thế nữa.

Con người qua nhiều năm đã phân rẻ nhau bởi vì một câu hỏi, “Chúa Giê-xu là ai?” Tại sao có nhiều tranh luận chỉ vì một cá nhân? Tại sao tên của Ngài, hơn là tên của bất kỳ người lãnh đạo tôn giáo nào khác, gây sự khó chịu? Tại sao khi bạn nói về Ông Trời thì không ai thấy phiền hà gì, nhưng khi bạn đề cập đến hai chữ Giê-xu, nhiều người rất muốn dừng ngay cuộc nói chuyện lại? Hoặc họ trở nên phòng thủ. Tôi đã đề cập về điều gì đó về Chúa Giê-xu với một người lái taxi ở Luân Đôn, và ngay lập tức người tài xế nói “tôi không thích thảo luận về tôn giáo, đặc biệt là Chúa Giê-xu”.

Chúa Giê-xu khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác như thế nào? Tại sao những cái tên như là Phật, Mô-ha-mát, Khổng Tử không làm người khác khó chịu? Lý do đó là những người khác đã không tuyên bố mình là Chúa (Trời), nhưng Chúa Giê-xu đã tuyên bố vậy. Điều đó là điều khiến cho Ngài rất khác với những người lãnh đạo tôn giáo khác. Không mất nhiều thời gian để những người đã biết Chúa Giê-xu nhận ra rằng Ngài đã đưa ra những lời tuyên bố đáng kinh ngạc về bản thân Ngài. Điều này đã trở nên rõ ràng hơn khi các tuyên bố của chính Ngài khiến Ngài hơn là một nhà tiên tri hoặc một người thầy. Ngài rõ ràng đang đưa ra những lời tuyên xưng về thần tính. Ngài đang bày tỏ chính Ngài là một con đường duy nhất để đến với mối quan hệ với Đức Chúa Trời, là nguồn duy nhất để đến với sự tha thứ cho tội lỗi, và là cách duy nhất để được cứu rỗi.

Đối với rất nhiều người đây là điều quá tách biệt, quá nông cạn để họ muốn tin điều đó. Thế nhưng vấn đề không phải là chúng ta muốn nghĩ hay tin điều gì, nhưng mà, Chúa Giê-xu đã tuyên bố là ai?

Những tài liệu về Tân Ước đã nói gì với chúng ta về điều này? Chúng ta thường nghe câu “thần tính của Đấng Christ”. Điều này có nghĩa rằng Chúa Giê-xu Christ là Chúa.

A.H. Strong trong sách Thần Học Hệ Thống định nghĩa Đức Chúa Trời là “thần vô hạn và hoàn hảo, nơi Ngài bắt nguồn tất cả các nguồn, sự ủng hộ và nơi kết thúc”. Định nghĩa này về Đức Chúa Trời đúng với tất cả người theo thuyết có thần, bao gồm cả người Hồi Giáo và Do Thái. Thuyết có thần dạy rằng Đức Chúa Trời là cá nhân và cả vũ trụ được lên kế hoạch và tạo ra bởi Ngài. Đức Chúa Trời giữ gìn và cai quản nó trong hiện tại. Những người Cơ Đốc Nhân theo thuyết có thần thêm vào một chú thích đối với định nghĩa ở trên: “và Đấng đã hiện thân qua Chúa Giê-xu đến từ Na-za-rét.”

Chúa Giê-xu thật ra là một cái tên và một danh hiệu. Cái tên Giê-xu được bắt nguồn từ Tiếng Hy Lạp của tên Jeshua hoặc Giô-suê có ý nghĩa “Giê-hô-va- Đấng Giải Cứu” hoặc “Đức Chúa Trời cứu rỗi. “Danh Hiệu Đấng Christ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cho từ Mê-si-a (hoặc Tiếng Hê-bơ-rơ- Mashiach- Đa-ni-ên 9:26) và có nghĩa “Đấng được sức dầu”. Hai cán bộ, vua và thầy thế lễ cũng liên quan đến việc sử dụng danh hiệu “Đấng Christ”. Danh hiệu của Ngài xác nhận rằng Chúa Giê-xu là một thầy tế lễ giao ước và Vua của các tiên tri trong Cựu Ước. Sự xác nhận này là một trong những mặt chính trong việc đạt được một sự hiểu biết đúng đắn về Chúa Giê-xu và Cơ Đốc Giáo.

Tân Ước rõ ràng bày tỏ rằng Đấng Christ là Chúa. Các danh xưng của Ngài được dùng cho đấng Christ ở trong Tân Ước là những điều mà họ có thể dùng chỉ cho duy nhất một Đấng đó là Chúa. Ví dụ, Chúa Giê-xu được gọi là Đức Chúa Trời trong câu này, “đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Tít 2:13; so sánh với Giăng 1:1, Hê-bơ-rơ 1:8; Rô-ma 9:5; 1 Giăng 5:20-21). Kinh Thánh cho rằng những thuộc tính về Ngài mà có thể đúng chỉ với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu được bày tỏ là Đấng tự tồn tại (Giăng 1:4, 14:6); toàn tại [có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc] (Ma-thi-ơ 28:20, 18:20); toàn tri (Giăng 4:16, 6:64; Ma-thi-ơ 17: 22-17); toàn năng (Khải Huyền 1:8, Lu-ca 4: 39-55, 7: 14-15; Ma-thi-ơ 8:26-27), và được hưởng sự sống đời đời (1 Giăng 5: 11-12, 20, Giăng 1:4).

Chúa Giê-xu nhận được sự tôn kính và tôn thờ mà chỉ duy có Đức Chúa Trời mới đáng nhận. Trước sự đối mặt với Sa-tan, Chúa Giê-xu đã phán, “Được viết rằng, ‘ngươi phải tôn thờ Đức Chúa Trời là Chúa ngươi, và phục vụ chỉ duy Ngài thôi” (Ma-thi-ơ 4:10). Thế nhưng Chúa Giê-xu đã nhận sự tôn thờ như là Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 14: 33, 28:9) và đôi khi thậm chí được yêu cầu để được tôn thờ như là Đức Chúa Trời ( Giăng 5: 23; so sánh với Hê-bơ-rơ 1:6, Khải Huyền 5: 8-14).

Hầu hết những người theo Chúa Giê-xu sùng kính người Do Thái, những người tin cậy làm một Đức Chúa Trời chân thật. Họ là những người tin vào thuyết một thần, thế nhưng họ nhận ra rằng Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời.

Bởi vì việc dạy dỗ về thầy dạy đạo rất sâu sắc, Phao-lô thậm chí cũng không cho rằng Chúa Giê-xu có thần tính, để mà tôn thờ một con người đến từ Na-ra-rét và gọi người đó là Đức Chúa Trời. Nhưng đây chính xác là điều mà Phao-lô đã làm. Ông nhận thức được Chiên Con của Đức Chúa Trời (Chúa Giê-xu) là Đức Chúa Trời khi ông nói, “Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình” (Công vụ các sứ đồ 20:28).

Phi-e-rơ xưng tội, sau khi Đấng Christ hỏi ông là ai: “Si-môn Phi -e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống” (Ma-thi-ơ 16:16). Chúa Giê-xu đã đáp lại với lời xưng tội không chỉ bằng sữa chữa kết luận của ông bằng việc nhận thức được giá trị và nguồn gốc của nó: “Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.” (Ma-thi-ơ 16:17)

Ma-tha, một người bạn thân của Chúa Giê-xu đã nói với Ngài, “Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (Giăng 11: 27). Và sau đó có Na-tha-na-ên, người đã không nghĩ là có bất cứ điều gì tốt đến từ Na-ra-rét. Ông nhận ra rằng Chúa Giê-xu là “thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!” (Giăng 1:49).

Trong khi Ê-tiên bị ném đá “Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi!” (Công vụ các sứ đồ 7:59). Người viết sách Hê-bơ-rơ đã gọi Đấng Christ là Đức Chúa Trời khi ông viết, “Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia” (Hê-bơ-rơ 1:8). Giăng Báp Tít tuyên bố về việc đến của Chúa Giê-xu bằng việc nói rằng “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” (Lu ca 3:22).

Sau đó tất nhiên chúng ta thấy Thô-ma xưng tội, được viết đến là “Người hay nghi vấn”. có lẽ ông là một sinh viên tốt nghiệp. Ông nói, “nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.” Tôi có thể hiểu được Thô-ma. Ông nói “Một tuần sau, các môn đệ đang nhóm nhau trong phòng, lần nầy có mặt Thô-ma. Cửa đang khóa chặt thì Chúa Giê-xu bỗng hiện đến đứng giữa họ và nói rằng, “Bình an cho các con.” Rồi Ngài bảo Thô-ma, “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn kỹ bàn tay ta. Hãy đến đặt bàn tay con vào hông ta. Đừng ngờ vực nữa mà hãy tin!”

Thô-ma kêu lên, “Lạy Chúa và Thượng Đế của con!”

Chúa Giê-xu bảo Thô-ma, “Bây giờ con tin vì mắt con đã thấy ta. Ai không thấy mà tin là người có phúc thật!” (Giăng 20:26-29 BPT). Chúa Giê-xu chấp nhận sự nhận thức của Thô-ma về Ngài là Đức Chúa Trời. Ông khiển trách Thô-ma vì sự không tin của ông, chứ không phải là sự thờ phượng của ông.

Vào lúc này một nhà phê bình có lẽ xen vào rằng tất cả những lời ám chỉ này về Đấng Christ, không phải từ bản thân chính Đấng Christ. Sự buộc tội trong lớp học mà những người vào thời điểm của Đấng Christ đã hiểu sai về Ngài như là chúng ta hiểu sai về Ngài hôm nay. Nói cách khác, Chúa Giê-xu thật sự đã không tuyên bố mình là Đức Chúa Trời.

Thật ra thì, tôi nghĩ là Ngài đã tuyên bố như vậy, và tin rằng thần tánh của Đấng Christ được bắt nguồn trực tiếp từ các trang của Tân Ước. Có rất nhiều lời tham khảo và ý nghĩa của chúng thì rất rõ ràng. Một người doanh nhân xem xét kỹ lưỡng Kinh Thánh để xác nhận Đấng Christ có tuyên bố là Đức Chúa Trời không đã nói, “Đối với những người đọc sách Tân Ước và không kết luận rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố trở thành thần, người ấy chắc phải như một người bị mù đứng ngoài cửa trong một ngày sáng sủa và nói rằng người ấy không thể thấy mặt trời”.

Trong Phúc Âm Giăng chúng ta thấy có một sự giáp mặt giữa Chúa Giê-xu và một số người Do Thái. Họ cảm thấy khó chịu vì Chúa Giê-xu đã chữa lành một người bị què vào ngày Sa-bát và nói với người đó hãy vác giường mà đi. “Và vì lý do này người Do Thái đàn áp Chúa Giê-xu bởi vì Ngài đã làm những việc đó vào ngày Sa-bát. Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Cha ta luôn luôn làm việc, cho nên ta cũng làm việc.”

Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5: 16-18)

Bạn có thể nói, “Hãy nhìn kìa Josh tôi có thể nói, ‘Cha chúng ta làm việc cho đến bây giờ, và bản thân tôi cũng đang làm việc.’ Như vậy thì đã sao? Điều này chẳng chứng minh được điều gì.” Bất cứ khi nào chúng ta nghiên cứu về một tài liệu, chúng ta phải xem xét về ngôn ngữ, văn hóa, và đặc biệt là một người hoặc những người được nhắm đến. Trong trường hợp là văn hóa Do Thái và những người được nhắm đến là những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Hãy cùng xem cách mà người Do Thái hiểu được lời nhận xét của Chúa Giê-xu cách đây 2000 năm trong văn hóa của chính họ. “Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!” (Giăng 5:18). Tại sao lại có một phản ứng quyết luyệt như vậy?

Lý do như Chúa Giê-xu đã nói “Cha ta”, không phải là “Cha chúng ta”, và sau đó thêm vào “làm việc cho đến bây giờ”. Chúa ‘Giê-xu’ sử dụng hai cụm câu này để khiến cho bản thân Ngài ngang bằng với Đức Chúa Trời, ngang bằng với các hoạt động của Đức Chúa Trời. Người Do Thái đã không ám chỉ đến Đức Chúa Trời là “Cha Tôi”. Chúa Giê-xu cũng ám chỉ rằng trong khi Đức Chúa Trời đang làm việc, Ngài, Con Trai, cũng đang làm việc vậy. Một lần nữa, người Do Thái đã hiểu được sự ám chỉ rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Như là một kết quả của lời tuyên bố này, sự thù ghét của người Do Thái càng lớn mạnh hơn. Thậm chí họ đang tìm kiếm, chủ yếu là để áp bức Ngài, sau đó họ đã bắt đầu mong muốn để giết Ngài.

Không chỉ Chúa Giê-xu tuyên bố sự ngang bằng với Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, nhưng ngài cũng khẳng định rằng Ngài với Cha là một. Trong suốt bữa tiệc về sự Cung Hiến tại Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đã kết thúc lời bình luận của mình rằng “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30). Nhưng Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ta đã làm nhiều điều phúc đức từ Cha mà các ngươi đã thấy. Điều phước đức nào khiến các ngươi muốn giết ta?” Người Do-thái đáp, “Không phải chúng tôi giết ông vì những việc phúc đức ông làm mà vì ông phạm thượng. Ông chỉ là người mà dám tự cho mình là Trời!” (Giăng 10: 31-33 BPT).

Một người có thể sẽ tự hỏi vì sao có những sự phản ứng mạnh mẽ đến những điều Chúa Giê-xu đã nói về việc trở nên một với Cha. Một sự liên hệ thú vị về câu này đã dấy lên khi được học về người Hy-lạp. Một học giả người Hy-Lạp A. T. Robertson đã viết rằng một “người” là từ trung gian, không có ý nghĩa là nam giới, trong Tiếng Hy-lạp, và không hàm ý một người hay một mục đích nhưng có là một trong “bản chất hoặc tự nhiên”. Robertson sau đó thêm vào: “Câu nói quả quyết này là một lời tuyên bố đỉnh cao của Đấng Christ về mối quan hệ giữa Đức Chúa Cha và bản thân Ngài (Đức Chúa Con). Họ làm người Pha-ri-si nổi lên cơn giận không thể kiểm soát được”.

Điều này được chứng minh rằng trong tâm trí của những người đã nghe về câu nói này không nghi ngờ gì rằng Chúa Giê-xu đã tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời. Vì thế, Leon Morris, hiệu trưởng trường Ridley College, Melbourne, viết rằng “Người Do Thái có thể xem lời của Chúa Giê-xu là lời báng bổ, và họ tiến triển để mang lấy sự xét đoán về trong tay của chính họ. Điều đó được viết lại trong Luật rằng sự báng bổ sẽ bị trừng phạt bằng việc ném đá ( Lê-vi-ký 24:16). Những người đàn ông đó không được phép những tiến trình luật pháp đó được thực hiện. Họ đã không chuẩn bị một sự truy tố để mà các cơ quan chức năng có thể thực hiện những hành động cần thiết. Trong sự giận giữ của mình họ đã sẵn sàng để là các người phán xét và đồng là những người xử tội.”

Chúa Giê-xu bị đe dọa với việc bị ném đá do tội “nói lời bổ báng.” Những người Do Thái rõ ràng có thể hiểu được sự dạy dỗ của Ngài nhưng chúng ta có thể hỏi, Ngài đã dừng lại để cân nhắc về các lời tuyên bố của Ngài có đúng hay không?

Chúa Giê-xu tiếp tục nói về bản thân Ngài là cùng một bản chất và bản tính với Đức Chúa Trời. Ngài xác nhận cách rành mạch “Nếu các ngươi biết ta thì hẳn phải biết Cha ta nữa.” (Giăng 8:19); “Ai thấy ta cũng thấy Đấng sai ta” (Giăng 12:45); Ai ghét ta cũng ghét Cha ta (Giăng 15:23); để mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến” (Giăng 5:23); etc. Những lời tham khảo này chắc chắn ám chỉ rằng Chúa Giê-xu rất gần hơn hoặc mật thiết hơn với Đức Chúa Trời hơn những người khác cần phải suy nghĩ về lời tuyên bố này “mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.”

Khi tôi đang giảng dạy trong một lớp học văn chương vào trường Đại Học West Virginia, một giáo sư ngắt ngời tôi và nói rằng chỉ có Phúc Âm và trong đó Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời đó là Phúc Âm Giăng, và đó là Phúc Âm được viết sau cùng. Sau đó Ngài đã khẳng định rằng Mác, Phúc Âm sớm nhất, không có một lần nào đề cập đến lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời. Điều rõ ràng đó là người đàn ông này đã không đọc sách Mác, hoặc không chú tâm nhiều vào điều ông đọc.

Để đáp lại tôi quay lại với Phúc Âm Mác. Ở đó Chúa Giê-xu tuyên bố là có thể tha thứ tội lỗi. “Khi thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại rằng, “Con ơi, tội con đã được tha rồi.”’ (Mác 2:5, xem Lu-ca 7:48-50). Với luật của Do Thái điều này là điều chỉ duy Đức Chúa Trời có thể làm được, Ê-sai 43:25 giới hạn đặc quyền này đối với duy nhất Đức Chúa Trời. Những người sao chép hỏi “Tại sao người đàn ông này có thể nói cách đó? Ông đang nói lời bổ báng; ai có thể tha tội ngoại trừ mình Đức Chúa Trời? (Mác 2:7). Chúa Giê-xu sau đó đã hỏi điều nào sẽ là dễ hơn, để nói “Tội của ngươi đã được tha”, hay nói “Hãy đứng lên vác giường mình mà đi”?

Theo như quyển sách bình luận Wycliffe, đây là một câu hỏi “không thể trả lời được”. Các lời tuyên bố này cũng đơn giản tương tự để phát âm, nhưng để nói là có một sự trình bày thêm vào, đòi hỏi một quyền năng thánh khiết. Là một kẻ mạo danh, tất nhiên, trong việc tìm kiếm để tránh việc bị phát hiện, sẽ thấy điều phía trên dễ hơn. Chúa Giê-xu tiến triển đến việc chữa lành những bệnh tật mà con người có thể biết đến và Ngài có quyền lực để giải quyết với nguyên nhân của nó”. Vào điều này ông bị buộc tội về việc phỉ báng bởi những người lãnh đạo tôn giáo. Lewis Sperry Chafer viết ra rằng “không ai trên đất có thẩm quyền hoặc quyền để tha tội. Không ai có thể tha thứ tội lỗi để cứu Đấng mà tất cả mọi người đều đã phạm tội nghịch cùng. Khi Đấng Christ tha thứ tội lỗi, như Ngài chắc chắn đã làm vậy, Ngài đã không sử dụng những đặc quyền của một con người. Bởi vì không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi, kết luận đó là Đấng Christ, bởi vì ngài đã tha thứ tội lỗi, và Chúa.”

Khái niệm về sự tha thứ này khiến tôi lo lắng trong một lúc bởi vì tôi đã không hiểu được điều đó. Một ngày trong lớp học triết lý, trả lời câu hỏi về thần tính của Đấng Christ, tôi trích dẫn các câu ở phía trên ở trong sách Mác. Một người trợ giảng đã tốt nghiệp thách thức kết luận của tôi rằng sự tha tội của Đấng Christ được mô tả ở trong thần tính của Ngài. Ngài nói rằng Ngài có thẻ tha thứ một người nào đó và điều đó không chứng minh rằng Ngài tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Khi tôi suy nghĩ về điều mà người trợ giảng của tôi nói, tôi cảm thấy choáng vì sao các nhà lãnh đạo tôn giáo phản ứng chống lại Đấng Christ vậy. Vâng, một người có thể nói “tôi tha thứ cho bạn”, “nhưng điều đó có thể nói bởi người đã phạm tội nghịch cùng. Nói cách khác, nếu bạn phạm tội nghịch cùng tôi, tôi có thể nói, “Tôi tha thứ cho bạn. Nhưng đó không phải là điều Đấng Christ làm. Những người bị tê liệt đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, sau đó là Đức Chúa Giê-xu, dưới thẩm quyền của chính mình, đã nói “Tội lỗi của ngươi được tha”. Vâng, chúng ta có thể tha thứ cho những sự tổn thương nghịch lại chúng ta, nhưng không có cách nào để bất cứ người nào có thể tha thứ những tội chống nghịch lại chính Chúa ngoại trừ bản thân chính Ngài. Đó là điều mà Chúa Giê-xu đã làm.

Không nghi ngờ gì người Do Thái đã phản ứng mạnh khi một người thợ mộc từ Na-za-rét tuyên bố lời rõ ràng như vậy. Quyền lực này của Chúa Giê-xu để tha thứ tội lỗi là một ví dụ đáng ngạc nhiên về việc thực hiện đặc quyền thuộc về một mình Đức Chúa Trời. Cũng như ở trong sách Phúc Âm Mác chúng ta thấy được sự thử thách của Chúa Giê-xu (14: 60-64). Những tiến triển của thủ thách này là một trong những lời tham khảo rõ ràng nhất đới với lời tuyên bố của Chúa Giê-xu về thần tính của Ngài. Sau đó thầy tế lễ tối cao đứng trước mặt họ và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh không trả lời gì hết à? Anh không trả lời những điều người ta tố cáo anh sao?” Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào. Thầy tế lễ tối cao hỏi Ngài một câu nữa, “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” Chúa Giê-xu đáp, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế. Trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng quyền uy và sẽ ngự đến giữa mây trời.” Nghe câu ấy, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Chúng ta đâu cần nhân chứng nữa! Các ông đã nghe hắn nói phạm thượng, nghịch với Thượng Đế rồi. Các ông nghĩ sao?” Tất cả đồng thanh nói rằng Ngài có tội đáng bị xử tử.”

Vào lúc ban đầu Chúa Giê-xu đã không trả lời, như vậy Đấng Tối Cao đã đặt Ngài ở dưới một lời thề. Bị bắt phải nói dưới một lời thề Chúa Giê-xu đã phải trả lời (và tôi rất mừng Ngài đã làm điều đó). Ngài đã trả lời cho câu hỏi “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?” bằng việc trả lời, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế.

Một sự phân tích về lời chứng của Đấng Christ chỉ ra rằng Ngài đã tuyên bố vậy (1) Con Trai của Thượng Đế đáng chúc tụng (Đức Chúa Trời); (2) Đấng ngồi phía bên tay phải quyền năng, và (3) Con của Người đã đến trên các tầng mây của Thiên Đàng. Mỗi sự xác nhận lại này là một lời phân biệt riêng biệt về Đấng Mê-si. Hiệu ứng cộng dồn của cả ba điều này là rất đáng ngạc nhiên. Tòa án Do Thái, Sanhedrin, nắm bắt được cả ba điểm này, Đấng tối cao đã trả lời bằng việc xé áo choàng của mình và nói, “Chúng ta có những nhu cầu nào khác về các nhân chứng?” Họ cuối cùng đã nghe điều đó từ chính Ngài. Họ bị kết án bởi những lời từ chính miệng của họ.

Robert Anderson viết rõ rằng: “Không có bằng chứng được xác nhận nào hơn những bằng chứng từ những nhân chứng đối lập, và sự thật rằng Đức Chúa Trời đã có được sự tuyên bố về Thần Tính thì được thành lập không thể chối cãi được bằng hành động của các kẻ thù của Ngài. Chúng Ta phải nhớ rằng người Do Thái không phải là một bộ tộc của những người man rợ, nhưng là những người có văn hóa cao và có tôn giáo mạnh mẽ, và vì chính điều này mà, không có lời trái quan điểm, sự chết của Ngài được ra sắc lệnh bởi hội đồng Sanhedrin- Hội Đồng quốc gia vĩ đại của họ, bao gồm những người lãnh đạo tôn giáo xuất sắc nhất, bao gồm cả người đàn ông thuộc loại Gamaliel và những học sinh ưu tú nhất của ông, Sau-lơ của Ta-sớt.

Rõ ràng là, đây là một lời chứnng mà Chúa Giê xu muốn nghe từ chính họ. Chúng ta cũng thấy rằng người Do Thái hiểu được lời trả lời của ngài như là một lời tuyên bố về Ngài là Đức Chúa Trời. Có hai sự thay thế khác nhau cần phải được đối mặt, rằng những lời khẳng định là những lời báng bổ, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời. Những người đoán xét của Ngài thấy được vấn đề một cách rất rõ ràng, thật sự, là họ đã đóng đinh ngài và sau đó quở trách Ngài bởi vì “Hắn tin cậy Thượng Đế … Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” (Ma-thi-ơ 27:43)

H.B.Swete giải thích rằng về sự lớn lao của thầy tế lễ cả thượng phẩm xé đi áo choàng của mình: “Luật pháp nghiêm cấm việc thầy tế lễ cả xé áo quần mình vì những vấn đề cá nhân (Lê-vi-ký 10:6, 21:10), nhưng khi hành động như một Quan Xét, thầy được yêu cầu theo phong tục phải bày tỏ theo cách mà sự kính sợ của bất cứ lời báng bổ phát ra trong sự hiện diện của thầy. Nếu những bằng chứng đáng tin cậy không đến trước, sự cần thiết cho điều đó cho đến bây giờ đã bị bỏ đi: Người Tù đã phạm tội”.

Chúng ta bắt đầu thấy được rằng điều này không phải là một sự thử thách bình thường, như luật sư Irwin Linton đưa ra: “đặc biệt ở giữa những thử thách tù tội là điều này không phải là hành động nhưng là sự nhận diện của người bị kết tội là một vấn đề. Sự kết án chống nghịch lại Đấng Christ, sự xưng tội hoặc lời chúng hoặc, hơn nữa, hành động trong sự hiện diện của tòa án, trong điều này Ngài bị kết án, câu hỏi bởi người thống trị Rô-ma và sự khắc dấu và tuyên bố trên thập giá của Ngài vào lúc xử tội tất cả đang quan tâm đến một câu hỏi về hiện thân thật sự và phẩm giá của Đấng Christ. “Bạn nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là con của ai?”

Judge Gaynor, một luật gia hoàn mỹ ngồi trên dãy ghế tại New York, trong sự nhắm đến các thử thách của Chúa Giê-xu, hiểu được rằng sự báng bổ là một điều chống nghịch lại Ngài trước Hội Đồng Sanhedrin. Ông nói rằng: “rõ ràng từ mỗi câu chuyện phúc âm, rằng những tội phạm được gắn cho Chúa Giê-xu Christ và buộc kết án Ngài là lời báng bổ (được trích từ Giăng 10:33). (Sự tham khảo từ Gaynor là “Chúa Giê-xu khiến mình là Chúa” chứ không phải vì những điều mà Ngài nói về đền thờ).

Ở hầu hết các thử thách, con người đang cố gắng để đạt được những gì họ có, nhưng điều này không đúng về Đấng Christ. Chúa Giê-xu chịu thử thách cho việc Ngài là ai.

Sự thử thách của Chúa Giê-xu cần phải đủ để chứng minh một cách thuyết phục rằng Ngài đã xưng nhận về chính thần tính của Ngài, Các Quan Xét là những nhân chứng cho điều đó, Nhưng cũng như vậy, trên đường đi đến sự chịu đóng đinh, các kẻ tù của Ngài nhận ra rằng Ngài tuyên bố là Đức Chúa Trời đã đến trong thân thể” Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão cũng chế giễu Ngài.Họ bảo, “Hắn cứu người khác mà cứu mình không được! Hắn bảo hắn là vua Y-sơ-ra-ên! Nếu hắn là vua thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi thì chúng ta mới tin. Hắn tin cậy Thượng Đế thì hãy để Thượng Đế đến cứu hắn, nếu Thượng Đế thật sự cần hắn. Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng nhiếc móc Ngài. (Ma-thi-ơ 27: 41-43).

 

 

 

 

 

 

 

Tại Sao Đức Chúa Trời Tạo Nên Quỷ?

Sách Sáng Thế Ký ghi lại Sa-tan (có nghĩa là ‘kẻ kết tội’) trong bộ dạng của một con rắn tạo nên thảm hại này. Nhưng điều này đã nổi lên một câu hỏi quan trọng: Tại sao Đức Chúa Trời tạo nên một quỷ ‘xấu’ (có nghĩa là ‘kẻ chống đối’ để phá hủy sự sáng tạo tuyệt vời của Ngài?).

Lu-xi-phe- Kẻ Chiếu Sáng

Thật ra Kinh Thánh ghi lại rằng Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên một thiên sứ quyền năng, khôn ngoan và đẹp đẽ (là trưởng của các thiên sứ) được gọi là Lu-xi-phe (có nghĩa là “Kẻ Chiếu Sáng”)- và thiên sứ đó rất tốt. Nhưng Lu-xi-phe cũng có một ý muốn mà nó được tự do lựa chọn. Đoạn viết ở trong Ê-sai 14 ghi lại các sự lựa chọn trước thiên sứ đó.

Hỡi vua Ba-by-lôn, ngôi sao mai, ngươi đã từ trời rơi xuống, dù ngươi vốn chói sáng như mặt trời đang mọc! Trước kia các dân tộc trên đất cúi lạy trước mặt ngươi, nhưng nay ngươi đã bị lật đổ. Ngươi tự nhủ, “Ta sẽ lên trời.Ta sẽ đặt ngôi mình bằng với các ngôi sao của Thượng Đế. Ta sẽ ngồi ở Xa-phông, trên đồi của núi thánh. Ta sẽ cất mình lên trên các từng mây.Ta sẽ như Đấng Tối Cao.”

Ê-sai 14: 12-14 (BPT)

Lu-xi-phe giống như A-đam, đã có một sự lựa chọn. Nó có thể chấp nhận rằng Đức Chúa Trời là Chúa hoặc nó có thể chọn để quyết định rằng bản thân chính nó là chúa. Những lời lặp lại “Ta sẽ” bày tỏ rằng nó chọn việc coi thường Đức Chúa Trời và tuyên bố mình là “Đấng Tối Cao”. Một đoạn ở trong Ê-xê-ki-ên có cho thấy một sự ghi chép tương đương với sự sa ngã của Lu-xi-phe:

Đời sống ngươi thật tuyệt diệu, như đang sống trong vườn Ê-đen, là vườn của Thượng Đế. Ngươi mang đầy châu ngọc: Hồng ngọc, hoàng ngọc, bích ngọc, thanh ngọc, chàm ngọc, lục ngọc, biếc ngọc, và thông ngọc. Đồ trang sức ngươi toàn bằng vàng. Chúng được làm ra vào ngày ngươi được tạo nên. Ta đã chỉ định một thiên sứ trông nom ngươi. Ta đặt ngươi trên núi thánh của Thượng Đế. Ngươi đi giữa ngọc quí sáng chói như lửa. Đời ngươi thật tốt lành từ ngày ngươi mới được tạo nên, cho đến ngày điều ác trong ngươi bị phát giác. Vì ngươi buôn bán với các xứ xa xôi, ngươi học đòi hung bạo, và ngươi đã phạm tội. Cho nên ta ném ngươi xuống khỏi núi của Thượng Đế một cách nhục nhã. Thiên sứ trông nom ngươi cũng đuổi ngươi ra khỏi các ngọc quí sáng như lửa. Ngươi quá tự phụ vì vẻ đẹp của mình. Ngươi làm hư hỏng sự khôn ngoan mình vì uy danh ngươi. Ta ném ngươi xuống đất. Ngươi trở thành bài học cho các vua khác.

Ê-xê-ki-ên 28:13-17 (BPT)

Vẻ đẹp, sự khôn ngoan và uy quyền của Lu-xi-phe- tất cả những điều tốt đẹp được tạo nên trong Ngài bởi Đức Chúa Trời- đã dẫn nó đến sự kiêu ngạo. Sự kiêu ngạo dẫn đến sự nổi loạn và sa ngã, nhưng tất cả quyền lực và đặc điểm của nó đã không bao giờ bị mất đi (và vì thế vẫn còn lại). Nó đang dẫn đầu một sự nổi loạn toàn cầu chống nghịch lại Đấng Sáng Tạo để có thể thấy ai sẽ là Chúa. Chiến lược của nó là để cho loài người cùng tham gia với nó- bằng việc cám dỗ họ để làm theo sự lựa chọn giống nó- để yêu mến chính bản thân họ, trở nên độc lập khỏi Đức Chúa Trời, và coi thường Đức Chúa Trời. Trọng tâm của sự thử thách ý muốn riêng của A-đam là cũng giống như của Lu-xi-phe; nó chỉ có một vẻ bề ngoài khác. Cả hai đều chọn để làm ‘chúa’ cho bản thân mình. Điều này đã và vẫn đang là ‘ảo tưởng về chúa’ cuối cùng.

Sa-tan- làm việc thông qua những người khác

Đoạn viết ở trong Ê-sai được nhắm đến “Vua của Ba-by-lôn” và đoạn Ê-xê-ki-ên được nhắm đến “Vua của Ti-rơ”. Nhưng từ sự mô tả đã đưa ra, rõ ràng là không có con người nào được nhắm đến. Những lời nói “Ta sẽ” trong sách Ê-sai mô tả một sinh vật được đuổi xuống thế gian trong sự hình phạt cho việc mong muốn đặt ngôi của nó ở cao hơn các vì sao của Đức Chúa Trời. Đoạn ở trong Ê-xê-ki-ên nhắm đến một người là ‘thiên sứ trông nom’ trước kia đã đến vườn Ê-đen và ‘núi của Đức Chúa Trời’. Xu hướng của Sa-tan (hoặc Lu-xi-phe) là luôn đặt chính mình sau lưng hoặc thông qua một ai khác. Trong sự sa ngã được tường thuật trong sách Sáng Thế Ký nó đã nói thông qua một con rắn. Trong sách Ê-sai, nó cầm quyền thông qua Vua của Ba-by-lôn, và trong Ê-xê-ki-ên nó vào trong vua của Ti-rơ.

Tại sao Lu-xi-phe nổi loạn nghịch lại Đức Chúa Trời?  

Tại sao Lu-xi-phe muốn coi thường và cướp đoạt sự cai trị của một Đấng Sáng Tạo toàn tri toàn năng? Một khía cạnh quan trọng của việc ‘khôn ngoan’ đó là biết được bạn có thể thắng hơn được đối thủ tiềm năng hay không. Lu-xi-phe đã có (và vẫn có) quyền năng, nhưng thậm chí với quyền năng giới hạn của vật được tạo nên cũng sẽ không đủ để tạo nên được cuộc nổi dậy thành công nghịch lại cùng Đấng Sáng Tạo của nó. Như vậy, tại sao lại liều lĩnh và theo đuổi điều gì đó bạn nó không thể thắng? Tôi nghĩ rằng một thiên sứ ‘khôn ngoan’ cũng có thể nhận ra được sự giới hạn của nó so với một Đấng kết hợp cả sự Toàn Tri và Toàn Năng- và ngừng lại việc nổi loạn của nó? Như vậy tại sao nó lại không làm thế? Câu hỏi này khiến tôi thấy bối rối nhiều năm rồi.

Điều đã giúp tôi nhận ra rằng Lu-xi-phe chỉ có thể đi đến một kết luận rằng Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo quyền năng của nó bằng đức tin- cũng giống với chúng ta. Hãy để tôi giải thích. Kinh Thánh cho rằng nguồn gốc của các thiên sứ với tuần đầu tiên của sự sáng tạo. Chúng ta thấy điều này ở Ê-sai 14 ở trên, nhưng điều này vẫn kiên định qua cả Kinh Thánh. Như vậy ví dụ một đoạn về sự sáng tạo ở trong Gióp cho chúng ta biết:

Bấy giờ từ giữa cơn giông CHÚA trả lời cho Gióp. Ngài bảo:

Khi ta đặt nền trái đất thì ngươi ở đâu? Nói đi, nếu ngươi biết… trong khi sao mai cùng xướng hát và các thiên sứ reo vui?

Job 38:1-7 (BPT)

Hình dung Lu-xi-phe được tạo dựng nên và có nhận thức vào một lúc nào đó trong tuần sáng tạo, nơi nào đó ở trong vũ trụ. Tất cả nó biết lúc bấy giờ là hiện tại nó đang tồn tại và vẫn tự nhận thức được, và cũng có một Tạo Vật khác tuyên bố rằng đã tạo ra nó và tất cả vũ trụ này. Nhưng làm cách nào Lu-xi-phe biêt rằng tuyên bố này là đúng? Có lẽ Đấng Sáng Tạo cho rằng tự dưng nhảy vào trong sự tồn tại trong vũ trụ trước khi Lu-xi-phe vừa mới nhảy vào sự tồn tại. Và bởi vì ‘Đấng Tạo Hóa’ này đến sớm hơn, như vậy để nói, Đấng đó (có lẽ) phải có quyền năng hơn và (có lẽ) hiểu biết hơn nó- nhưng cũng có lẽ là không. Có thể nào cả nó và Đấng sáng tạo tự tôn cả hai đều tự nhiên nhảy vào trong sự tồn tại? Lu-xi-phe đã có thể chấp nhận Lời của Đức Chúa Trời đối với nó rằng Ngài đã sáng tạo nên chính Ngài và bản Thân Đức Chúa Trời là đời đời và vô hạn. Và với sự kiêu ngạo của mình nó chọn để tin rằng cả nó và Đức Chúa Trời (và những thiên sứ khác) chỉ “nhảy” vào trong sự tồn tại. Nhưng đây cũng là một ý tưởng cơ bản tương tự sau những thuyết vũ trụ học lớn và hiện đại nhất. Có một sự thay đổi vũ trụ từ sự trống không- và sau đó từ sự rung chuyển này tạo nên cả vũ trụ- đó là bản chất của các suy đoán vũ trụ học vô thần hiện đại. Điều chính yếu là, tất cả mọi người- từ Lu-xi-phe đến Richard Dawkins & Stephen Hawkings đến với bạn và tôi- phải quyết định bằng đức tin rằng vũ trụ thì tự có hoặc được tạo nên và giữ gìn bởi Đức Chúa Trời. Nhưng nó vẫn phải chấp nhận ‘bằng đức tin’ rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên nó. Nhiều người nói với tôi rằng nếu Đức Chúa Trời chỉ ‘xuất hiện’ trước họ thì họ sẽ tin. Nhưng thông qua Kinh Thánh, nhiều người đã thấy và nghe về Đức Chúa Trời- điều đó đã không bao giờ là một vấn đề. Nhưng trọng tâm của vấn đề đó là họ có thể chấp nhận và tin cậy nơi Lời Ngài về Chính Ngài và họ không. Từ A-đam và Ê-va đến Ca-in và A-bên, đến Nô-ê, đến người Ai rập vào Lễ Vượt Qua đầu tiên, đến dân Y-sơ-ra-ên vượt qua biển đỏ đến những người đã thấy các phép lạ của Chúa Giê-xu- “thấy” không bao giờ là kết quả của việc tin. Sự sa ngã của Lu-xi-phe thì cũng giống với điều này.

Quỷ đang làm gì ngày hôm nay?

Như vậy Đức Chúa Trời đã không tạo nên một ‘quỷ xấu’, nhưng Ngài đã tạo nên một thiên sứ khôn ngoan và quyền năng nhưng qua sự kiêu ngạo đã dẫn đến một sự nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời- và trong việc làm này đã trở nên sai lạc (trong khi vẫn còn) sự vinh quang cũ. Bạn, tôi và tất cả loài người đã trở thành một phần của sự tranh chiến này trong cuộc chiến đấu giữa Đức Chúa Trời và ‘kẻ thù’ của Ngài (quỷ). Chiến lược về phần của quỷ đó không phải là bước vào trong một áo choàng đen giống như “những người lái đen” trong bộ phim Lord of the Rings và đặt sự nguyền rủa tội lỗi trên chúng ra, nhưng với hào quang còn lại nó đơn giản là tìm kiếm để đánh lừa chúng ta về sự mua chuộc mà Đức Chúa Trời đã báo.

Ví Dụ Về Ebola: Sao Một Đức Chúa Trời Yêu Thương Lại Để Con Người Xuống Địa Ngục?

Trang bị cho Ebola

Một trong những câu hỏi mà tôi có khi suy nghĩ về phúc âm có liên quan đến địa ngục. Có lẽ giống như bạn tôi đã nghe những người giảng đạo nói về nó có vẻ như là rất thật- phải thú nhận rằng đó là một viễn cảnh đáng sợ. Nhưng sau đó tôi cũng nghe rằng Đức Chúa Trời là đấng ‘yêu thương’ và rằng ‘Đức Chúa Trời là tình yêu’. Kết hợp những nguyên lý này lại là một điều nghịch lý đối với tôi: Làm sao một Đức Chúa Trời yêu thương có thể gửi con người xuống địa ngục? Ở cái nhìn đầu tiên dường như hai giáo thuyết này rất ngược với nhau. Chung quy thì nếu Chúa “yêu mến tôi’, chắc chắn Ngài sẽ không gửi tôi xuống Địa Ngục. Hoặc nếu Chúa gửi tôi xuống Địa Ngục thì chắc chắn rằng Ngài không yêu thương, hoặc ít nhất là không yêu mến tôi. Một trong hai giáo thuyết kia thì có nghĩa nhưng khi kết hợp cả hai thì dường như bị trái nghịch. Và sau đó, từ khi tôi thường nghe về địa ngục thông qua một số người giảng đạo có nhiệt huyết, điều ấy làm cho tôi tự hỏi nếu họ chỉ dùng chiến thuật sợ hãi để có thể điều khiển tôi.

Ehrman và Địa Ngục

Tôi không phải một mình. Thật ra, giáo sư bình luật trưởng và có tiếng về Phúc âm Tân Ước Bart Ehrman đã viết điều này trong một trong những cuốn sách được đọc rộng rãi nhất:

“…Không có một nơi đày đọa đời đời thật sự nơi mà Chúa, hoặc những quỉ làm theo lời Ngài, sẽ dày vò những linh hồn đáng thương trong 30 ngàn tỷ năm (chỉ là bước ban đầu) vì tội lỗi mà họ đã phạm lấy trong vòng 30 năm. Chúa, đấng không bao giờ chết, tồn tại vĩnh cửu thánh khiết mà như vậy thì là chúa gì? Chúng ta vì thế không có gì phải sợ hãi trong sự chết.”

Bart Ehrman, 2010. Giải nghĩa về Chúa Giê-xu: bày tỏ những sự nghịch lý bị giấu đi ở trong Kinh Thánh [Jesus Interrupted: revealing the Hidden Contradictions in the Bible] (và tại sao chúng ta không biết chúng).p.276.

Nhiều người trong chúng ta có thể hiểu được với Ehrman. Và địa ngục được cho là một chủ đề đáng e ngại nên rất dễ để bỏ qua những suy nghĩ nghiêm túc về nó- thật ra chúng ta rõ ràng tránh việc suy nghĩ về điều đó- biện minh lý lẽ một phần nào đó giống Ehrman, và cảm thấy rất an toàn trong lòng tin rằng hầu hết những người phát triển và tiến bộ cũng suy nghĩ như vậy. Chúng ta trốn tránh việc suy nghĩ xa hơn về điều đó và hy vọng rằng điều đó sẽ không còn nữa.

Điều khiến tôi suy nghĩ về điều này là nhận ra rằng đó là một lẽ thật hoặc sự sai trái niềm tin mà tôi nên cân nhắc, không phải vì nó là điều đáng e ngại hay không, cũng không phải là nó được nghi ngờ bởi nhiều người nhất. Chung quy lại, trước Copernicus, hầu hết mọi người đều đã nghĩ rằng mặt trời xoay xung quanh trái đất- phần nhiều người đã sai lầm. Thêm vào đó, đến với việc nắm bắt những kết quả không hay đòi hỏi một cách sống an toàn và khỏe mạnh. Những chiến dịch về AIDS, say xỉn khi đang lái xe, và hút thuốc là cực kỳ hiệu quả bởi vì họ thúc đẩy chúng ta nghĩ về những hậu quả kinh khủng. Chúng ta không xem những chiến dịch này mang tính chất điều khiển hoặc chiến thuật đe dọa. Thật ra, chúng ta cảm thây biết ơn vì chúng đã làm nổi lên những vẫn đề chúng ta có thể đã không muốn nghĩ đến, và khi chúng ta nghĩ đến, nó giúp chúng ta tăng cường sự an toàn và lợi ích của bản thân.

Chúa Giê-xu và Địa Ngục

Như vậy, mặc dầu câu hỏi về địa ngục không phải và mốt ưa chuộng, nhưng rất đáng để cân nhắc. Đối với những người mới bắt đầu, điều này có thể rất ngạc nhiên để học về điều đó chính là bản thân Đức Chúa Giê-xu Christ- người nổi bật trong lịch sử như là một người thầy giáo tuyệt vời trong các chủ đề như ân điển, sự tha thứ và tình yêu của Đức Chúa Trời ( Thật ra, lý do mà chúng ta kết nối tình yêu thương với Đức Chúa Trời thì phần lớn thông qua ảnh hưởng của Chúa Giê-xu này.) người cũng đã nói về Địa Ngục. Không phải là không nhấn mạnh về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, Ngài cũng đã dạy nhiều hơn về địa ngục hơn tất cả những thầy giáo Kinh Thánh gộp lại. Cân nhắc về những lời phán này từ Chúa Giê-xu:

Không phải hễ ai gọi ta là Chúa đều sẽ được vào Nước Trời đâu. Người vào Nước Trời là những người làm theo ý muốn của Cha ta trên thiên đàng. Đến ngày cuối cùng, nhiều người sẽ nói với ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng con đã nhân danh Ngài truyền bá đạo Chúa, đuổi quỉ và làm nhiều phép lạ.’ Nhưng ta sẽ tuyên bố rõ ràng với họ, ‘Nầy những kẻ làm ác, hãy đi cho khuất mắt ta! Ta chưa hề biết đến các ngươi.

Ma-thi-ơ 7: 21-23 (BPT)

“Nước Trời giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con trai mình.  Vua mời một số khách đến dự… họ từ chối không đến.

Vua lại sai những đầy tớ khác… Nhưng họ chẳng đếm xỉa gì đến các đầy tớ, chỉ mải lo việc riêng. Người thì đi ra đồng làm việc, kẻ thì lo việc buôn bán. Rồi vua bảo các đầy tớ rằng, ‘Thôi bây giờ chúng bay hãy ra mọi góc đường gặp ai thì mời đến dự tiệc của ta.’ 

Khi bước vào xem khách dự tiệc, vua thấy một người không mặc áo dành cho tiệc cưới. ‘Trói tay chân nó lại đem quăng ra chỗ tối tăm, nơi có khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.’

Ma-thi-ơ 22: 1-13 (BPT)

Con Người sẽ trở lại trong vinh quang… Ngài sẽ làm Vua ngự trên ngôi. Ngài sẽ phân họ ra làm hai nhóm, như người chăn chia chiên với dê riêng ra. Rồi Ngài sẽ nói với những người bên phải rằng, ‘Hãy lại đây …Hãy nhận lãnh nước mà Thượng Đế đã dành cho các ngươi từ lúc tạo thành trời đất. Sau đó Vua sẽ bảo với những người bên trái, ‘Hãy đi khuất mắt ta, những người bị Thượng Đế nguyền rủa. Hãy đi vào lửa đời đời đã được chuẩn bị cho ma quỉ và các thiên sứ của nó.

Ma-thi-ơ 25:31-41 (BPT)

“Nếu mắt xui cho các con phạm tội, hãy móc nó đi! Chẳng thà mất một mắt mà được vào Nước Trời, còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục.”

Mác 9:47 (BPT)

Ta cho các con biết phải sợ ai. Phải sợ Đấng có quyền giết và ném các con vào hỏa ngục. Đó chính là Đấng mà các con phải sợ.

Lu-ca 12:5 (BPT)

Khi chủ nhà thức dậy đóng cửa lại, các ngươi sẽ phải đứng ngoài kêu, ‘Chủ nhà ơi, mở cửa cho chúng tôi.’ Nhưng chủ nhà sẽ đáp, ‘Tôi có biết mấy anh là ai đâu?’ Các ngươi sẽ đáp, ‘Chúng tôi đã từng ăn uống chung với ông và ông cũng từng giảng dạy trong các đường phố chúng tôi đó mà!’  Nhưng chủ nhà sẽ bảo, ‘Tôi không biết mấy anh là ai. Đi chỗ khác, hỡi bọn gian tà!’

Lu-ca 13: 25-27 (BPT)

Như vậy những cảnh báo về sự thật của Địa Ngục không bắt đầu bởi những đoạn Kinh Thánh không rõ ràng hoặc những người giảng đạo với tầm nhìn phóng khoáng- chúng ở trong trọng tâm của các lời dạy của chính Chúa Giê-xu.

Ebola và Địa Ngục

Quarantine
Biển Báo cách ly Ebola
Thực hiện việc cách ly Ebola
Thực hiện việc cách ly Ebola
Trang bị cho Ebola
Trang bị cho Ebola
Trang bị cho Ebola
Trang bị cho Ebola

Nhưng làm sao chúng ta có thể hòa hợp được hai bài dạy dường như trái ngược nhau này? Nếu ‘Đức Chúa Trời là tình yêu thương’, làm sao Địa Ngục có thể ở cùng chung một bức tranh? Có lẽ sự hỗn loạn của thế giới về sự lan rộng của Ebola có thể đưa ra một ví dụ rõ ràng của một chân dung mà Chúa Giê-xu đã sử dụng khi dạy về Địa Ngục.

Chúng ta thấy trên tin tức cách mà Ebola đã lan rộng ra khắp phía Tây Nam Phi và đã dấy lên những mối lo ngại ở khắp thế giới với sự lan rộng dịch bệnh ra những vùng khác. Chúng ta tất cả đều đã thấy những tranh ảnh về những người hoàn toàn bao bọc, bịt mặt, và những bác sỹ và y tá mang găng tay chăm sóc cho những người bị nhiễm dich bệnh Ebola và cho những người phải vận chuyển xác của những người chết vì bệnh Ebola. Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, những chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, và những chuyên gia y tế đang nói với chúng ta rằng việc thành công hay thất bại đối với Ebola nằm ở chiến dịch lớn- cách ly. Ebola lây lan từ người sang người thông qua sự tương tác với dịch, như vậy cách duy nhất để kiểm soát nó là phải cách ly và hoàn toàn tách biệt khỏi những người bị dịch bệnh. Thậm chí một chút nước mắt trên áo bảo vệ hoặc một sự nhầm lẫn nhỏ trong quá trình tách biệt ngoại giao cũng không thể chấp nhận được.

Những quá trình kỹ lưỡng và đôi khi điên rồ để tách biệt và cách ly vi-rút Ebola là những ví dụ về quá trình có hệ thống tương tự với một vi-rút tâm linh- và sự cách ly đó được gọi là Địa Ngục.

Vì sao điều này là như vậy?

Thiên Đàng và Địa Ngục
Thiên Đàng và Địa Ngục

Chúa Giê-xu đặt trọng tâm trong việc dạy dỗ của mình về việc đến của “Vương Quốc trên Thiên Đàng”. Khi chúng ta nghĩ về ‘thiên đàng’ chúng ta thường nghĩ về nơi tọa lạc của nó hoặc môi trường của nó- “những con đường bằng vàng”. Nhưng hy vọng lớn hơn của Vương Quốc đó mà Chúa Giê-xu dự đoán là một xã hội mà sẽ bao gồm những công dân với sự chân thật và tính cách vị tha, những người mà vì thế sẽ không ăn cắp vặt những miếng vàng đó từ các con đường. Tiếp tục với dòng suy nghĩ này và phản ánh về việc chúng ta xây dựng vào trong ‘các vương quốc” ở đây trên đất để bảo vệ chúng ta khỏi những người khác. Tất cả chúng ta đều phải có khóa cho nhà của mình, thậm chí là hệ thống bảo vệ tiên tiến; chúng ta luôn luôn khóa xe lại; chúng ta nói với con cái mình không nói chuyện với những người lạ. Bạn có thể hình dung được một thành phố mà không có “luật pháp” được thực hiện? Tại sao chúng ta dùng mật khẩu để bảo vệ tất cả những thông tin cá nhân điện tử của chúng ta? Khi bạn dừng lại và nghĩ về tất cả những hệ thống, việc thực hiện và quy trình mà bạn phải đặt để ở trong ‘nhưng vương quốc’ của chúng ta và nhận ra rằng chúng đơn giản là chỉ để bảo vệ chúng ta khỏi những người khác thì bạn có thể sẽ thấy một vấn đề mờ mờ. Nó giống như là có một điều gì đó xiên lệch đối với chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời muốn lập nên một vương quốc trên thiên đàng và sau đó mời tất cả chúng ta đến để trở thành công dân của thiên đàng, chúng ta sẽ nhanh chóng biến nó trở thành địa ngục tương tự như cách chúng ta đã biến thế giới này trở nên như vậy. Những miếng vàng ở trên những con đường và những ngọc trai ở trên cổng sẽ biến đi ngay tức khắc.

Điều càng tệ hơn đó là khi chỉ có một số ít người không tuân theo tiêu chuẩn đó. Tưởng tượng một xã hội có các công dân hoàn toàn chân thật- không có sự dối trá hoặc không có trộm cướp. Trong xã hội đó sẽ không cần có những cái khóa, không cần những bản hợp đồng (bởi vì lời của một người là đủ rồi), không cần những camera an ninh, không cần những mật khẩu – bởi vì không cần chúng ở một xã hội như vậy. Nhưng nếu chúng ta giới thiệu một công dân là một người nói dối hoặc một kẻ trộm, thì người đó sẽ làm hư hỏng cả xã hội đó hơn cả những kẻ nói dối và trộm cướp làm ở đây. Vì không có bất kỳ sự đề phòng nào nên một kẻ trộm hoặc nói dối này có thể hoạt động mà không bị hình phạt- gây nên sự tàn phá ở giữa những công dân của vương quốc thiên đàng. Cách duy nhất để giữ cho việc này không xảy ra đó là phải đảm bảo rằng một người như thế không thể được vào trong vương quốc- bởi vì nếu không thì vương quốc cũng bị phá hủy.

 Nhưng điều gì sẽ xảy ra với những người từ chối việc đi vào? Trong thế giới này, nếu bạn bị từ chối để bước vào trong một đất nước bạn không thể mong chờ sẽ được tham gia vào trong các nguồn và lợi ích của quốc gia đó. Ví dụ, công dân Canada có thể được hưởng lợi từ những chương trình của chính phủ nước họ. Nhưng ai đó bị từ chối bước vào trong nước Canada không thể mong chờ là bằng cách nào đó nhận được những phúc lợi của đất nước đó, hệ thống y tế etc.- điều này được đặt ra cho các công dân của nước đó. Nhưng chung quy thì, con người ở khắp mọi nơi trên thế giới, thậm chí là những người khủng bố đang hiện hành ở khắp các nước, vui hưởng những tiện ích cơ bản của tự nhiên, giống như là hít thở không khí chung, thấy ánh sáng chung giống với mọi người khác.

Nhưng ai tạo nên ánh sáng? Kinh Thánh tuyên bố rằng Chúa phán ‘phải có ánh sáng’ thì ‘có ánh sáng’. Nếu điều đó là đúng thì tất cả ánh sáng đều thuộc về Ngài- và cho cùng thì chúng ta chỉ đang mượn nó bây giờ. Nhưng trong việc thành lập Vương Quốc cuối cùng của Đức Chúa Trời, ánh sáng của Ngài sẽ là trong Vương Quốc của chính Ngài.

Nếu Đức Chúa trời thật sự là Đấng sáng tạo, thì hầu hết những gì chúng ta có và được cho là ‘của chúng ta’ thì thật sự là của Chúa. Bắt đầu với một thực thể là ‘ánh sáng’ và sau đó suy nghĩ đến thế giới và tiếp đến những khả năng tự nhiên của chúng ta như là suy nghĩ và lời nói- chúng ta thật sự đã không làm gì để tạo nên những khả năng này- chúng ta đơn giản chỉ thấy mình sử dụng và mượn chúng thôi. Khi Vương Quốc kết thúc thì Người Chủ sẽ lấy lại chúng.

Khi chúng ta nhìn vào những rào cản, ở quá khứ và hiện tại, dựng thẳng đứng lên để giữ cho những người ‘man rợ’ ra khỏi sự văn minh, từ Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc xuống đến những rào cản ngày nay đặt ở giữa biên giới Mỹ và Mê-xi-cô để giữ những người nhập cư ra khỏi, bạn có thể thấy rằng điều này rất tự nhiên để dựng đứng những rào cản khi một vương quốc phải giữ một số người cụ thể ra ngoài vì mục đích của chính vương quốc đó. Khi Ebola lan rộng ra và đe dọa bằng sự chết và tàn phá giữa tất cả chúng ta, chúng ta không nghe thấy bất kể lời tranh luận nào khi các chuyên gia nhấn mạnh về vấn đề cách ly. Như vậy không có sự ngạc nhiên nào để nghe Chúa Giê-xu dạy về câu chuyện ngụ ngôn giữa người giàu và La-xa-rơ.

Hơn nữa, có một hố sâu giữa chúng ta với con, cho nên không ai có thể từ đây băng qua đó hay từ đó băng qua đây được.’  Lu-ca 16:26 (BPT)

Tình yêu của Đức Chúa Trời và Địa Ngục

Như vậy “tình yêu của Đức Chúa Trời” ở đâu trong tất cả việc này? Khi một bệnh dịch nổi lên, cùng với việc cách ly, việc nghiên cứu để tìm ra một vắc-xin mà có thể tiêu diệt vi-rút chết người này. Sự chết của Chúa Giê-xu và sự sống lại của Ngài là một sự tiêm chủng. Trong việc tin cậy nơi ngài chúng ta được tiêm chủng với một vắc-xin tâm linh mà bắt đầu giúp chúng ta không bị nhiễm khuẩn, dần dần khiến chúng ta khỏe mạnh và có thể bước vào trong Vương Quốc này khi nó hoàn toàn được lập nên.

Đối với những nạn nhân Ebola, điều khó khăn nhất để chấp nhận có khả năng không phải là sự cách ly cần thiết, nhưng đó là điều mà khiến bệnh dịch bắt đầu. Cũng giống như vậy, có nhiều điều khó để chấp nhận hơn là thực tế về địa ngục và ban và tôi đang bị đánh xuống với một loại vi-rút tâm linh chết người. Chúng ta chiến đấu với chẩn đoán mà khiến nhiều người bỏ qua sự chữa trị.

Mặc dầu có thể quá tự tin để hỏi một giáo sư học giả như Ehrman, và mặc dầu dòng suy nghĩ của tôi cắt ngang văn hóa phương Tây hiện đại ngày hôm nay, địa ngục thì khá kiên định với quan điểm của một Đức Chúa Trời yêu thương- Đấng sáng tạo và làm chủ tất cả và đang tạo lập nên một vương quốc nơi mà công bình là một điều bình thường- chứ không phải là điều khác thường-và vì thế đòi hỏi một lối vào có lựa chọn nghiêm khắc. Vào điều cuối cùng, vì đó là một chủ đề nghiêm khắc, và bởi vì Tình Yêu của Đức Chúa Trời đã khiến Ngài tạo nên một ‘vắc-xin’ miễn phí này, nó đảm bảo sự phản ánh về chẩn đoán tâm linh cá nhân của bạn. Bài giảng trên núi của Chúa Giê-xu, được phát triển bởi Ngài để giúp chúng ra chẩn đoán tình trạng của mình một cách rõ ràng hơn cho vương quốc Thiên Đàng, có lẽ đây là một nơi tốt đẹp để bắt đầu.

Phúc Âm Là “Tin Lành”- Giống Như “Truyện Kiều” Nhưng Có Một Kết Cục Tốt Đẹp Hơn

Truyện Kiều được biết đến rất nhiều, nhưng Phúc Âm thì còn là điều bí ẩn đối với hầu hết mọi người. ‘Phúc Âm’ có nghĩa đen là ‘Tin [Tốt] Lành’ nhưng nhiều người không hiểu vì sao. Đó là ‘Tin Lành’ bởi vì nó có những điểm giống nhau, nhưng có kết cục khác nhau, so với Truyện Kiều.

Phúc Âm là chủ đề chính của cả Kinh Thánh. Từ đoạn mở đầu cho đến đoạn kết thúc của Kinh Thánh là ý tưởng về tin tốt lành, cùng với các tin không tốt khác cũng được tìm thấy trong Kinh Thánh. Mặc dầu đây là một thông điệp cổ xưa thuật lại những sự kiện cách đây từ rất lâu, Phúc Âm cũng là một câu chuyện bao gồm cả bạn và tôi sống ngày hôm nay.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng lúc ban đầu của lịch sử loài người, vào thời điểm của các tổ phụ đầu tiên của chúng ta, Đức Chúa Trời- Đấng Tạo Hóa sáng tạo nên thế giới -có mối quan hệ thân thiết với tổ phụ của chúng ta. Hình ảnh thường được dùng để mô tả loại tình bạn gắn bó trong Kinh Thánh là hình ảnh của một người nam và một người nữ đang yêu nhau. Theo như cách này Phúc Âm bắt đầu giống như Truyện Kiều khi Thúy Kiều rất gần gũi, và đã được hứa hôn, cùng với Kim Trọng. Hình dung điều đó ở dưới đây có Đức Chúa Trời gần gũi và đang ở trong mối quan hệ yêu thương với những tổ phụ đầu tiên của chúng ta. Giống như Thúy Kiều là một người phụ nữ đẹp, tổ phụ của chúng ta cũng đẹp như vậy đối với Đức Chúa Trời- Ông Trời.

vietnamese bridge - slide 1Nhưng, giống với Truyện Kiều, câu chuyện Phúc Âm sớm trở thành không tốt. Chìa khóa giải thích tại sao là ở câu này:

‘Vì mọi người …’

(Từ ‘mọi người’ có nghĩa là tất cả con người mà đã từng sống- và điều này có bao gồm bạn và tôi.)

Câu này tiếp tục:

‘Vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời’ (Rô-ma 3:23)

Đây là một lẽ thật mà chúng ta có thể minh họa bằng cách sau đây. Đức Chúa Trời- Đấng Tạo Hóa làm nên thế giới- hiện giờ đang ở trên Trời cao. Ngài ở trên trời cách xa bạn và tôi là những người sống dưới đất với khoảng cách rất lớn. Tại sao? Bởi vì tất cả chúng ta (lặp lại bạn và tôi!) đều đã ‘phạm tội’.

vietnamese bridge - slide 2Nhiều người không thích Kinh Thánh nói là tất cả chúng ta đều đã ‘phạm tội’. Nhưng chúng ta hãy cùng nhìn cách chân thật vào thế giới mà chúng ta đang sống. Bạn có phải khóa cửa trước khi rời khỏi nhà không? Bạn có phải cẩn thận để khỏi bị cướp không? Có phải mỗi quốc gia đều cần cảnh sát để giữ trật tự và mang đến sự bình yên không? Có phải dường như ở đâu đâu cũng có tham nhũng không? (Và đôi khi chính cảnh sát cũng có thể tham nhũng- những người mà chúng ta cần để giữ cho chúng ta sống trung thực). Chẳng phải là chúng ta cũng hay nói dối với nhau và kể cả không giữ lời hứa? Và vì lý do này chúng ta thường cảm thấy khó khăn để tin tưởng người khác. Những điều này là triệu chứng của ‘tội lỗi’ mà phá hủy những mối quan hệ giữa tất cả chúng ta. Khi bạn nghĩ về tất cả những cái ổ khóa trên cửa, camera an ninh và cảnh sát tức là tất cả chúng ta cần phải tự bảo vệ mình từ những người chung quanh- điều này cho thấy thực tế của tội lỗi.

Tội lỗi này tạo nên những rào cản giữa những con người nhưng hơn thế nữa tạo nên một rào cản giữa chúng ta với Chúa trên Trời. Kinh Thánh bày tỏ điều đó theo cách sau đây:

Vì tiền công của tội lỗi là sự chết… (Rô-ma: 6:23)

Chúng ta có thể hiểu ‘sự chết’ này là một Luật Nhân Quả- kết quả mà chúng ta gặt từ những tội lỗi mà chúng ta làm. Luật Nhân Quả này có nghĩa là ‘sự chết’ đối với chúng ta bởi vì trong Kinh Thánh ‘chết’ có nghĩa là ‘phân cách’. Thực ra Kinh Thánh cũng đi xa hơn một chút nói rằng:

Ai phạm tội là nô lệ cho tội lỗi. (Giăng 8:34)

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều bị chia rẻ khỏi Kim Trọng và mối quan hệ giữa hai người bị rạn nứt. Sự thực là Kiều đã phải bán thân mình vào sự dâm dục. Kiều đã là một nô lệ, bị phân rẽ khỏi người nàng yêu. Kinh Thánh tuyên bố rằng điều này cũng tương tự cho bạn và tôi và chúng ta có thể hình dung nó như sau:

vietnamese bridge - slide 3Tội lỗi của chúng ta mang đến kết quả là sự chết, luật Nhân Quả [cái nghiệp] là rào cản giữa chúng ta và Chúa ở trên Trời mà chúng ta có thể hình dung như là thanh màu đỏ giữa chúng ta và Chúa. Chúng ta bây giờ sống như nô lệ với những nghiệp xấu của chúng ta- giống như Thúy Kiều phải là nô lệ trong Truyện Kiều.

Thúy Kiều không hạnh phúc khi bị làm nô lệ dưới tay Mã Giám Sinh trong nhà chứa nên nàng đã làm việc chăm chỉ để trốn thoát. Nàng đã thoát khỏi hắn, nhưng bản thân mình lại trở thành vợ của một người đàn ông khác mà người ấy có vợ hay ghen khủng khiếp. Cho nên Thúy Kiều trốn đi và tìm kiếm nơi trú ẩn ở tại một ngôi chùa Phật Giáo- nhưng bị từ chối- và sau đó trở thành người bán thân một lần nữa. Mặc dầu nàng đã cố gắng rất nhiều, vẫn không thể trốn thoát cái nghiệp của mình.

Đây cũng giống như cách Kinh Thánh mô tả chúng ta. Chúng ta biết sâu thẳm bên trong mình rằng có điều gì đó không đúng. Rất nhiều người trong chúng ta cố gắng rất nhiều để sống một cuộc sống tốt hơn và trung thực hơn. Chúng ta cố gắng dừng làm những việc tội lỗi mà mang đến nghiệp xấu. Một số người trong chúng ta thậm chí cố gắng lập công tại các đền thờ, tại các lễ hội tôn giáo, và trong việc tôn thờ tổ tiên của chúng ta. Mặc dầu những điều này có thể là những công tốt, Kinh Thánh nói với chúng ta rằng, giống như những gì đã xảy ra với Thúy Kiều, mọi điều đều không đủ để xóa đi cái nghiệp của mình và bỏ đi cái rào cản phân cách chúng ta khỏi Chúa. Chúng ta có thể hình dung điều này với mũi tên dày màu đỏ đến từ chúng ta, mô tả sự cố gắng để lập công của chúng ta, cố gắng để xóa bỏ đi cái rào cản của cái nghiệp. Nhưng dầu chúng ta có cố gắng nhiều, rào cản đó cũng không thể bị phá bỏ. Giống như Thúy Kiều, chúng ta vẫn bị nô lệ.

vietnamese bridge - slide 4Cho đến điểm này câu chuyện Phúc Âm của Kinh Thánh vẫn theo Truyện Kiều, nhưng bây giờ thì câu chuyện này trở nên tốt đẹp hơn. Nó trở thành ‘tin lành’ mà phúc âm nói đến. Điều mà chúng ta không có khả năng làm, để xóa bỏ đi cái nghiệp của chúng tra và phá hủy rào cản phân cách chúng ta khỏi Chúa, chính bản thân Chúa đã làm cho chúng ta. Ngài đã đến với chúng ta và sống giữa vòng chúng ta như là một con người. Đây là lúc mà Chúa Giê-xu Christ sống trên đất cách đây khoảng 2000 năm. Ngài sống một cuộc sống tự do không có tội lỗi và không có bất kỳ nghiệp xấu nào. Tuy nghiên Ngài đã chịu đóng đinh trên thập tự giá bởi những con người sai lạc. Ngài đã chịu chết trên thập tự giá mà có thể được mô phỏng như thế này.

vietnamese bridge - slide 5Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Ngài đã sống lại- không phải là ma hay là hồn- nhưng là một con người sống, ăn, đi và nói chuyện với những người khác. Điều này xảy ra ba ngày sau khi Ngài chịu đóng đinh. Sự chết và sự sống lại xóa bỏ tất cả tội lỗi của chúng Ta và phá bỏ rào cản của cái nghiệp ngăn trở giữa chúng ta và Chúa. Chúng ta có thể hình dung điều đó như thế này.

vietnamese bridge - slide 6Chúa Giê-xu sống lại từ mộ và sống đời đời. Giống như vàng Ngài sẽ không bị hư hại gì. Như vậy chúng ta có thể hình dung điều này như một mũi tên bằng vàng đi lên từ mặt đất. Tội lỗi của chúng ta bây giờ bị xóa bỏ và có một cách mà bây giờ có thể kết nối lại chúng ta với Chúa.

Điều này làm sao có thể? Kinh Thánh đề cập đến luật Nhân Quả như là

Tiền công của tội lỗi là sự chết…

Như vậy cái chết là giá phải trả để giải cứu chúng ta hoặc mua sự tự do của chúng ta. Trước khi Chúa Giê-xu sống khá lâu, một vị vua được truyền cảm hứng trong Kinh Thánh viết

Không ai có thể dùng cách gì để chuộc người thân mình lại,
Hoặc dâng lên Ðức Chúa Trời điều gì để chuộc người ấy lại,
–Vì giá chuộc linh hồn người ấy đắt vô cùng,
Dù trả đến đời đời cũng không thể nào trả hết–
Ðể người ấy có thể được sự sống đời đời,
Hầu người ấy sẽ không thấy sự hư nát, (Thi Thiên 49: 7-9)

Công tốt sẽ không bao giờ đủ để trả cho cái giá được yêu cầu. Vua này sau đó lại viết

Ðó là số phận của những kẻ dại dột ưa cậy mình,
Và của những kẻ sinh ra sau mà nghe theo những kẻ ấy.
14 Chúng như chiên bị định phải vào âm phủ;
Tử thần sẽ là kẻ chăn giữ chúng;
Chúng sẽ đi thẳng xuống âm phủ;
Thân thể chúng sẽ bị rữa nát trong phần mộ,
Xa cách hẳn chỗ ở sang trọng của chúng trên trần gian.
15 Nhưng Ðức Chúa Trời sẽ cứu chuộc linh hồn tôi khỏi quyền lực của âm phủ,
Vì Ngài sẽ đem tôi về với Ngài. (Thi Thiên 49: 13-15)

Với sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu chúng ta được mua chuộc, hay là mang về, từ chỗ làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết bởi vì cái giá đủ đã được trả, như tiền nhân xưa đã tiên phán rằng một ngày nào đó điều này sẽ xảy đến với Ngài.

Luật Nhân Quả và Tin Lành

Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. (Rô-ma 6:23)

Như vậy bây giờ Đức Chúa Trời ban cho bạn và tôi một ‘món quà’. Hãy nghĩ về những món quà. Nếu ai đó mang đến cho bạn một món quà, nếu nó luôn luôn là một món quà, thì bạn không thể trả điều gì để có nó. Và nếu bạn chỉ ‘tin’ đó là một món quà thì không đủ, tức là chấp nhận điều này trong suy nghĩ của mình, là có một người nào có tặng cho bạn một món quà. Để bạn có thể có lợi ích từ bất kỳ món quà nào được tặng cho bạn, bạn chỉ cần đơn giản ‘nhận’ nó- không cần làm nhiều hơn hay ít hơn. Đây là lý do tại sao Phúc Âm hứa rằng

Nhưng hễ ai tin nhận Ngài, tức những ai tin vào danh Ngài, Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời. (Giăng 1:12)

Như làm thế nào để chúng ta nhận món quà này? Kinh Thánh nói

“Ai kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu.” (Rô-ma 10:13)

Đức Chúa Trời muốn chúng ta kêu cầu Ngài và hỏi. Có lẽ bạn có những nghi ngờ và thắc mắc. Hãy nói với Ngài. Ngài sẽ hướng dẫn bạn bởi vì Ngài nói Ngài sẽ cứu chúng ta. Bạn có thể kêu cầu Ngài như thế này.

Lạy Chúa. Con biết rằng con bị phân cách khỏi Chúa và con đang ở dưới luật Nhân Quả của tội lỗi và sự chết. Con nghe rằng lời phúc âm là tin lành là Ngài đã mua chuộc con khỏi luật này bởi vì sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu và bây giờ Ngài tặng cho con món quà của cuộc sống. Con không biết chắc và có nhiều nghi ngờ và thắc mắc. Nếu điều này đúng là thật con xin được nhận món quà này. Xin Ngài chỉ cho con cách để làm điều đó.

Đức Chúa Trời sẽ nghe và hướng dẫn bạn. Có lẽ một cách tốt để bắt đầu khám phá xem điều này có đúng không là bằng việc hiểu lời hứa được ban cho những tổ tiên đầu tiên của chúng ta, được tiên phán về cách mà Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất công việc cứu chuộc này (ở đây). Sau đó xem xét cách mà Ngài cho chúng ta những chi tiết về công việc cứu chuộc này cách đây rất lâu đến với Áp-ra-ham (ở đây) và Môi-se (ở đây).

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều cuối cùng cũng được đoàn tụ với Kim Trọng. Tuy nhiên, việc đoàn tụ này đã không mang lại niềm vui ở trên đất cho Thúy Kiều, bởi vị sự ô uế của nàng đã khiến cho việc đoàn tụ với Kim Trọng không thể xảy ra. Thật khác biệt với kết cục của các câu chuyện Phúc Âm mô tả sự đoàn tự giữa Đức Chúa Trời và chúng ta như thế này

Tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới từ Ðức Chúa Trời, từ trời hạ xuống, và đã được chuẩn bị sẵn như cô dâu trang sức sẵn để đón chồng nàng. Tôi nghe một tiếng lớn từ trên ngai phán,

“Kìa, lều tạm của Ðức Chúa Trời ở giữa loài người;
Ngài sẽ ở giữa họ, và họ sẽ là dân Ngài.
Chính Ðức Chúa Trời sẽ ở với họ và làm Ðức Chúa Trời của họ.
Ngài sẽ lau sạch những giọt nước mắt khỏi mắt họ;
Sự chết sẽ không còn nữa;
Ðau buồn hay khóc lóc hay đau đớn sẽ không còn nữa,
Vì những sự thứ nhất đã qua rồi.” (Khải Huyền 21: 2-4)

Với lời hứa về một sự đoàn tụ tuyệt vời, chắc chắn rằng điều này rất đáng để chúng ta tìm hiểu về tin lành của phúc âm nhiều hơn. Tôi hy vọng bạn sẽ làm điều đó khi bạn lướt qua các bài viết ở đây.

(This article in English)

Dấu Hiệu Lễ Vượt Qua Của Môi-se

Chúng ta vừa rồi đã xem qua thử thách của Áp-ra-ham trong việc hy sinh con trai Y-sác hướng chỉ về sự hy sinh của Chúa Giê-xu bằng việc đánh dấu địa điểm xảy ra đó. Khoảng 500 năm đã trôi qua kể từ thời của Áp-ra-ham và lúc đó là khoảng năm 1500 trước Công Nguyên. Sau khi Áp-ra-ham qua đời, dòng dõi của ông thông qua Y-sác, bây giờ được gọi là dân Y-sơ-ra-ên, là một nhóm người lớn nhưng cũng đã trở thành nô lệ tại Ai-cập.

Câu Chuyện Xuất-Ê-Díp-Tô-Ký

Như vậy chúng ta bây giờ đến với một câu chuyện đáng chú ý được lưu lại bởi Môi-se trong sách Xuất-ê-díp-tô-ký. Môi-se được Chúa giao mạng lịnh đi đối mặt với vua Pha-ra-ôn của Ê-díp-tô và điều này dẫn đến kết quả bằng một cuộc chiến ý chí giữa hai người, dẫn đến chín trận dịch chống nghịch lại vua Pha-ra-ôn. Nhưng vua Pha-ra-ôn vẫn không đồng ý để cho dân Y-sơ-ra-ên đi nên Đức Chúa Trời đã mang đến trận dịch tàn phá số 10. Các ghi chép tổng thể của trận dịch số 10 trong sách Xuất-Ê-Díp-Tô-Ký là được liên kết ở đây và tôi khuyên bạn nên đọc nó bởi vì nó sẽ giúp bạn theo dõi những giải bày sau đây tốt hơn.

Trận dịch số 10 này được ban hành bởi Đức Chúa Trời là mọi con đầu lòng sẽ chết vào đêm đó, ngoại trừ những người ở trong những ngôi nhà có một con chiên được dùng làm của lễ, và máu của nó được bôi lên mài cửa của nhà đó. Vua Pha-ra-ôn thua, nếu vua không vâng theo, có nghĩa là con trai Vua và người kế tự ngôi Vua cũng sẽ chết. Và mỗi nhà ở Ê-díp-tô cũng sẽ mất những con trai đầu lòng- nếu họ không giết con chiên làm của lễ và bôi huyết nó trên mài cửa. Như vậy xứ Ê-díp-tô đối mặt với một tai họa quốc gia.

Nhưng trong những nhà nơi có một con chiên đã bị giết chết làm của lễ và huyết nó được bôi lên mài cửa, lời hứa là mọi người sẽ được an toàn. Sự chết sẽ vượt qua nhà đó. Như vậy ngày này đã được gọi là Lễ Vượt Qua.

Dấu Hiệu của Lễ Vượt Qua- cho ai?

Nhiều người đã quen thuộc với câu chuyện này và cho rằng huyết trên cửa là dấu hiệu cho một thiên sứ của Sự Chết. Nhưng hãy chú ý những chi tiết tỉ mỉ trong ghi chép này.

Đức Chúa Trời phán với Môi se…”…Ta là Chúa. Máu sẽ là dấu hiệu cho biết các ngươi đang ở trong nhà ấy. Khi Ta thấy máu, Ta sẽ vượt qua các ngươi, và không tai họa gì sẽ xảy đến tiêu diệt các ngươi khi Ta đánh phạt xứ Ai-cập. (Xuất Hành 12:13)

Như vậy, mặc dầu Đức Chúa Trời tìm kiếm những huyết trên cửa, và khi Ngài thấy nó Ngài sẽ vượt qua, huyết đó không phải là dấu hiệu về Ngài. Kinh Thánh nói khá rõ ràng, rằng huyết đó là ‘dấu hiệu cho các ngươi’- tức là con người. Và mở rộng ra nó là một dấu hiệu cho tất cả chúng ta là những người đang đọc câu chuyện này.

Nhưng đó là một dấu hiệu như thế nào? Sau khi sự kiện này xảy ra, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho họ để:

Tổ chức ngày này như là một lễ nghi được truyền lại thế hệ này qua thế hệ khác. Khi bạn bước vào trong đất đó…quan sát nghi lễ này…Đó là của lễ Lễ Vượt Qua dâng lên cho Đức Chúa Trời’ (Xuất Hành 12:27)

Lịch Đáng Chú Ý Của Lễ Vượt Qua

Vậy là chúng ta thấy chính sự kiện này làm bắt đầu lịch cổ điển của Do Thái.

CHÚA phán với Mô-se và A-rôn trong xứ Ai-cập, “Tháng nầy sẽ thành tháng đầu của các tháng trong năm; nó sẽ là tháng Giêng của các ngươi. (Xuất Hành 12: 1-2)

Như vậy người Y-sơ-ra-ên được truyền lệnh để bắt đầu một lịch nhằm tổ chức Lễ Vượt qua này vào ngày giống nhau mỗi năm. Lịch Do Thái thì khác lịch Phương Tây một chút, như vậy ngày trong năm thay đổi theo từng năm nếu bạn truy về nó bằng lịch Phương Tây.

Đây là một cảnh tượng hiện nay của dân Do Thái đang chuẩn bị để tổ chức lễ Vượt Qua nhằm nhớ về ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên cách đây 3500 năm.
Đây là một cảnh tượng hiện nay của dân Do Thái đang chuẩn bị để tổ chức lễ Vượt Qua nhằm nhớ về ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên cách đây 3500 năm.

Cho đến ngày hôm nay, 3500 năm sau, người Do Thái tiếp tục tổ chức Lễ Vượt Qua hàng năm vào ngày giống nhau trong lịch của họ để ghi nhớ sự kiện này trong việc vâng phục mạng lệnh của Đức Chúa Trời truyền cho họ lúc đó.

Và qua việc truy về nghi lễ này thông qua lịch sử chúng ta có thể thấy một số điều khá độc đáo. Bạn có thể để ý thấy điều này trong sách Phúc Âm nơi ghi chép lại các chi tiết của cuộc áp giải và thử thách của Chúa Giê-xu:

 Sáng sớm hôm đó họ giải Ðức Chúa Jesus…đến dinh Tổng Trấn [Phi-lát], …nhưng chính họ không vào dinh để khỏi bị ô uế hầu có thể ăn Lễ Vượt Qua; họ muốn được ăn Lễ Vượt Qua’…[Phi Lát] nói [với các người lãnh đạo Do Thái] “…  Nhưng các ngươi có được thông lệ: cứ vào Lễ Vượt Qua, ta thả cho các ngươi một người. Các ngươi muốn ta thả ‘Vua dân Do-thái’ ra không?” Họ gào to lại, “Chớ thả người ấy…” (Giăng 18:28, 39-40)

Sự liên kết giữa việc Đức Chúa Giê-xu bị đóng đinh và Lễ Vượt Qua được củng cố thêm trong các sách của thầy Talmud. Đây là những nhân chứng đối nghịch, như vậy họ không có động cơ nào để đồng ý về điều này với những người viết sách Phúc Âm. Nhưng họ xác nhận rằng:

“Chúa Jesus bị treo lên trong đêm lễ Vượt Qua…( Sanhedrin 43a of Babylonian Talmud; trích từ Jesus and Christian Origins outside the New Testament. By FF Bruce. p 56.   1974 215pp)

Nói cách khác, Chúa Giê-xu bị áp giải và đày đi vào ngày lễ Vượt Qua theo lịch Do Thái- ngày mà người Do Thái phải giết một con chiên để ghi nhớ về những con chiên vào năm 1500 BC bị giết chết để Vượt Qua. Bây giờ bạn nhớ Dấu hiệu xưa của Áp-ra-ham, một trong những danh hiệu của Chúa Giê-xu là:

Hôm sau khi Giăng (Giăng Báp-tít) thấy Ðức Chúa Jesus đang tiến về phía mình, ông nói, “Kìa, Chiên Con của Ðức Chúa Trời, Ðấng cất đi tội lỗi của thế gian!” (Giăng 1:29)

Và bây giờ chúng ta có thể thấy được kịch tính của Dấu Hiệu này. Chúa Giê-xu, “Chiên Con của Đức Chúa Trời” đã bị đóng đinh (hay là chịu chết thế) vào đúng ngày mà tất cả người Do Thái còn sống lúc đó giết một con chiên để ghi nhớ Lễ Vượt Qua đầu tiên được để lại trong lịch của họ. Điều này giải thích thời điểm hàng năm của hai kỳ lễ được xảy ra mỗi năm- một sự tương tự mà rất ít người trong chúng ta để ý và càng ít người hỏi “tại sao?” hơn. Việc tổ chức lễ Vượt Qua của người dân Do Thái xảy ra hằng năm vào lúc Lễ Phục Sinh diễn ra. (Nó luôn luôn vào cùng tuần nhưng không phải lúc nào cũng cùng ngày bởi vì lễ Thương Khó được cho rằng vào ngày thứ 6 của tuần đó, trong khi Lễ Vượt Qua của Do Thái là vào ngày thứ 14 của tháng Nisan của lịch Do Thái cho nên chúng có thể cách nhau vài ngày vào những năm khác nhau). Đây là lý do tại sao Lễ Phục Sinh bị chuyển đổi mỗi năm, bởi vì nó rơi vào Lễ Vượt Qua, và Lễ Vượt Qua được tính bởi lịch Do Thái do cách tính năm khác với lịch Phương Tây.

Dấu Hiệu, Dấu Hiệu, khắp nơi là Dấu Hiệu

Chúng ta quay trở lại với Lễ Vượt Qua đầu tiên trong thời của Môi-se nơi mà huyết được dùng như một dấu hiệu, không phải ám chỉ về Chúa, nhưng về con người. Bây giờ nghĩ trong vòng 1 phút về những biểu tượng này có ý nghĩa gì bằng việc xem xét chúng dưới đây.

Dấu hiệu là những dấu chỉ trong tâm trí của chúng ta để khiến chúng ta nghĩ về điều mà dấu hiệu đó nhắm đến.
Dấu hiệu là những dấu chỉ trong tâm trí của chúng ta để khiến chúng ta nghĩ về điều mà dấu hiệu đó nhắm đến.

Khi chúng ta thấy biểu tượng của “đầu sọ và xương chéo nhau” nó khiến chúng ta nghĩ đến cái chết và sự nguy hiểm. Biểu tượng của “đường cong màu vàng” khiến chúng ta nghĩ về McDonalds. Biểu tượng ‘√’ trên cái băng trán của cầu thủ quần vợt Nadal là một biểu tượng cho Nike. Nike muốn chúng ta nghĩ về họ khi chúng ta thấy biểu tượng này trên cầu thủ Nadal. Nói cách khác, Dấu hiệu là những dấu chỉ trong tâm trí của chúng ta để khiến suy nghĩ của chúng không phải về bản thân dấu hiệu đó nhưng một thứ gì đó khác.

Bây giờ các ghi chép về Lễ Vượt Qua nói rõ ràng rằng Dấu Hiệu là cho con người. Như vậy cũng giống như bất cứ dấu hiệu nào, Chúa muốn tâm trí chúng ta nghĩ gì về Lễ Vượt Qua? Với thời điểm đáng chú ý khi những con chiên bị giết làm của lễ rơi vào đúng cái ngày mà Chúa Giê-xu chịu chết, và được gọi với danh hiệu “Chiên con của Đức Chúa Trời”, nó phải là một dấu hiệu chỉ đến sự hy sinh sắp đến của Chúa Giê-xu.

Điều này hoạt động trong tâm trí chúng ta như tôi đã chỉ ra trong sơ đồ ở đây về tôi

Lễ Vượt Qua là một Dấu Hiệu mà trong đó nó chỉ đến Chúa Giê-xu thông qua thời điểm đáng chú ý của Lễ Vượt Qua với sự chịu đóng đinh của Chúa Giê-xu.
Lễ Vượt Qua là một Dấu Hiệu mà trong đó nó chỉ đến Chúa Giê-xu thông qua thời điểm đáng chú ý của Lễ Vượt Qua với sự chịu đóng đinh của Chúa Giê-xu.

Dấu hiệu đó chỉ tôi đến cái chết của Chúa Giê-xu. Trong Lễ Vượt Qua đầu tiên, những con chiên bị giết thế và đổ huyết ra để con người được sống. Và như vậy, Dấu Hiệu này chỉ về Chúa Giê-xu là để nói với tôi là Ngài, ‘Chiên con của Đức Chúa Trời’, cũng đã chịu chết và huyết của Ngài tuôn ra để tôi có thể tìm được sự sống.

Với Dấu Hiệu của Áp-ra-ham, địa điểm mà con chiên đực chịu chết để cho Y-sác được sống là núi Mô-ri-át- cũng là tại ngọn núi đó mà Chúa Giê-xu sau này cũng chịu hy sinh. Điều này giúp chúng ta ‘thấy’ được ý nghĩa của sự chết của Ngài bằng cách chỉ đến địa điểm đó. Ở đây chúng ta tìm thấy Lễ Vượt Qua cũng chỉ chúng ta về sự hy sinh của Chúa Giê-xu, nhưng bởi sử dụng một dấu hiệu khác- bằng cách chỉ về cái ngày trong lịch- cái lịch được khởi đầu bằng chính sự kiện này. Bằng hai cách khác nhau của hai trong số các sự kiện quan trọng nhất và mang tính biểu tượng cao nhất trong Cựu Ước là dấu hiệu chỉ trực tiếp đến cái chết của Chúa Giê-xu sử dụng câu chuyện của những chiên con bị giết làm của lễ. Tôi không thể nghĩ về bất kỳ người nào trong lịch sử mà cái chết của họ (hoặc bất kỳ thành quả quan trọng của cuộc sống) mà được soi bóng trước bởi hai sự kiện tương tự trong một phong thái đầy kịch tính như vậy. Bạn có thể tìm ra không?

Tóm lại, những sự kiện này chỉ cho chúng ta thấy có những cơ sở đáng tin cậy để chúng ta suy xét về Chúa Giê-xu là một viên đá góc nhà của một Kế Hoạch Thánh, được ra dấu hiệu cách đây rất lâu, khi những nô lệ đơn thuần ở Ai-cập bắt đầu cái lịch mới của họ bằng việc ghi dấu huyết của con chiên trên mài cửa.

Nhưng tại sao Chúa đã đưa ra những dấu hiệu này để soi bóng trước và tiên đoán về việc chịu đóng đinh của Chúa Giê-xu? Tại sao sự kiện đó rất quan trọng? Thế giới này có những điều gì mà yêu cầu những nghi lễ đầy máu như vậy? Và điều gì là đúng với bạn? Để có thể có một câu trả lời cho những câu hỏi này chúng ta cần phải bắt đầu từ lúc ban đầu của Kinh Thánh để hiểu những điều đã xảy ra từ lúc ban đầu.

Chúa Có Thật Không? Làm Thế Nào Để Nhận Ơn Phước Từ Ngài?

Dấu hiệu xưa của Áp-ra-ham

Chúa có tồn tại không? Khi bạn và tôi chỉ sống một số năm ngắn ngủi và sau đó chết đi thì việc chúng hỏi câu này là rất đáng! Nhưng không chỉ là cuộc sống chúng ta rất ngắn ngủi, cuộc sống chúng ta cũng khó khăn và đầy nỗi u sầu. Có bất kỳ ơn phước nào từ Chúa này (nếu Ngài có thật) cho bạn và tôi không? Câu trả lời cho câu hỏi này đơn giản hơn những gì bạn nghĩ và nó đến từ một người đàn ông xa xưa trong lịch sử- Áp-ra-ham.

Áp-ra-ham là một trong những người quan trọng nhất trong Kinh Thánh. Ông sống cách đây 4000 năm- và điều này khiến ông trở thành một trong những người cổ xưa nhất của lịch sử được lưu lại. Nhiều đất nước ngày hôm nay truy về tổ tiên của họ từ ông- như vậy ông đã tác động đến lịch sử cách lớn lao. Ông đi nhiều- đi từ cái gọi là Ả rập hiện đại đến trại của Y-sơ-ra-ên ngày nay. Những câu chuyện trong Kinh Thánh là rất cổ nhưng những khai quật khảo cổ học vẫn ủng hộ nó là lịch sử thật. Giữa 17000 tảng Ebla được khám phá năm 1975- tại phía Bắc Sy-ri, được cho là 4200 tuổi, có đề cập đến Sô-đôm, Gô-mô-át, Át-ma, Xê-boi-im, và La-sa như là “các thành phố của Đồng Bằng”, những cái tên tương tự và câu mô tả của những địa điểm nơi Áp-ra-ham “cắm trại”. Những tầng bằng đất sét ghi các hợp đồng được tạo nên cách đây 4000 năm đã được khám phá ra tại Ả rập đề cập tới tên của ông. Như vậy chúng ta có những lý do rõ ràng để thấy những câu chuyện này là nghiêm túc và tin rằng những tường thuật trong Kinh Thánh là lịch sử.

Hãy cùng bắt đầu với một tường thuật về Áp-ra-ham mà sẽ đem đến một đầu mối quan trọng về việc Chúa có thật không, và nếu có, thì làm thế nào để nhận ơn phước từ Ngài. Đây là một sự tường thuật tại nơi Chúa bảo Áp-ra-ham hy sinh đứa con trai duy nhất của ông, Y-sác, đứa con mà Áp-ra-ham đã chờ đợi trong nhiều năm, và đứa con ấy là tất cả hy vọng về vận mệnh tương lai của ông được đặt vào. Tại thời điểm này trong cuộc sống của ông ấy, Áp-ra-ham đối mặt với thử thách lớn nhất và nó cho chúng ta cách nhìn vào tin lành và ơn phước. Tôi khuyến khích bạn đọc tất cả bản tường thuật trong Sáng Thế Ký liên quan đến thử thách của việc hy sinh con của ông ấy đây.

Của Dâng nhìn về tương lai

Như vậy bạn có thể thấy rằng Chúa bảo Áp-ra-ham dâng con trai duy nhất của ông ấy để làm của lễ! Điều này chỉ được ngăn chặn vào lúc cuối cùng và chúng ta tự hỏi tại sao Chúa lại đưa ra hướng dẫn này. Chắc chắn rằng đó là một thử thách cho Áp-ra-ham, nhưng nó được viết lại cho chúng ta. Để thấy được điều này cách rõ rang hơn chúng ra cần phải chú ý một vài quan sát từ lời tường thuật. Tại thời điểm khi Chúa vừa mới ngăn ông ta khỏi việc giết con trai mình chúng ta đọc rằng:

 Bấy giờ Áp-ra-ham ngước mắt lên và trông thấy một con chiên đực, sừng đang vướng vào bụi cây phía sau ông. Áp-ra-ham đến bắt con chiên đực ấy, dâng nó làm của lễ thiêu thế mạng cho con trai ông. 14 Rồi Áp-ra-ham gọi chỗ đó là “CHÚA SẼ CUNG CẤP,” như người ta đã gọi chỗ ấy cho đến ngày nay rằng, “Trên núi của CHÚA, Ngài sẽ cung cấp.” ( Sáng thế ký 22: 13-14)

Để ý cái tên mà Áp-ra-ham đặt cho nơi đó nơi mà sự thử thách xảy ra. Ông ta đặt nó là “Đức Chúa Trời sẽ cung cấp”. Có phải tên này được đặt ở thì quá khứ, hiện tại hay tương lai? Rõ ràng nó là ở thì tương lai. Và để làm rõ hơn nữa câu nói sau đó lặp lại “…điều ấy sẽ đươc cung cấp”- một lần nữa ở thì tương lai. Nhiều người khi đọc tường thuật này nghĩ rằng Áp-ra-ham, khi đặt tên cho nơi đó, đang ám chỉ về con chiên được bị mắc vào bụi gai râm và đã được thay thế cho chỗ của con trai ông ấy. Nếu Áp-ra-ham đã nghĩ về con chiên đực- đã chết, làm của lễ và bị thiêu- ông ta đã phải đặt tên cho nơi đó là “Đức Chúa Trời đã cung cấp”, trong thì qúa khứ. Và cái câu kết luận phải được đọc là ‘như người ta đã gọi chỗ ấy cho đến ngày nay rằng, “Trên núi của CHÚA, Ngài sẽ cung cấp”. Cả hai lần cái tên đặt trong thì tương lai và do đó ông ta không phải đang nghĩ về con chiên đực đã bị chết và làm của lễ đó. Như vậy ông ta đang nghĩ về điều gì? Câu trả lời nằm ở nơi mà sự việc này sẽ xảy ra.

Nơi việc dâng của lễ xảy ra

Nơi việc này xảy ra được đặt tên tại lúc mở đầu của câu chuyện này:

Ngài phán, “Hãy bắt con trai ngươi, tức Y-sác con một ngươi, đứa con ngươi yêu quý, đi đến xứ Mô-ri-a, rồi tại đó dâng nó làm của lễ thiêu trên một núi kia Ta sẽ chỉ cho.” (Câu 2)

Điều này xảy đến tại ‘Mô-ri-a’. Nhưng đó là ở đâu? Mặc dầu nó là một vùng hoang mạc trong thời của Áp-ra-ham (2000 BC), một nghìn năm sau đó (1000 BC) Vua Đa-vít thành lập nên thành phố Giê-ru-sa-lem ở đó, và con trai của ông là vua Sô-lô-môn xây dựng Đền Thờ Do Thái Đầu Tiên tại đó. Chúng ta đọc ở những sách lịch sử theo sau ở trong Cựu Ước rằng:

Bấy giờ Sa-lô-môn cho khởi công xây cất Ðền Thờ CHÚA ở Giê-ru-sa-lem, trên Núi Mô-ri-a, nơi CHÚA đã hiện ra với Ða-vít cha ông, (2 Sử Ký 3:1)

Nói cách khác, “Núi Mô-ri-a” vào thời của Áp-ra-ham là một ngọn núi tách biệt trong hoang mạc nhưng 1000 năm sau thông qua Đa-vít và Sô-lô-môn nó trở thành thành phố trung tâm và thủ đô của Y-sơ-ra-ên nơi mà họ xây dựng Đền Thờ Do Thái. Và cho đến ngày hôm nay nó là một thành phố quan trọng cho nhiều người, và nó là một thành phố thủ đô của Y-sơ-ra-ên.

Chúa Giê-xu và Của lễ của Áp-ra-ham

Và ở đây chúng ta thấy một sự kết nối trực tiếp đến Chúa Giê-xu và Phúc Âm. Chúng ta thấy sự liên kết này khi chúng ta xem xét một trong những danh hiệu dành cho Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu có nhiều danh hiệu liên quan đến Ngài. Có lẽ danh hiệu được biết đến nhiều nhất của Ngài là “Đấng Christ”. Nhưng những danh hiệu khác có thể được thấy trong sách Phúc Âm Giăng khi Giăng Báp Tít nói:

Hôm sau khi Giăng thấy Ðức Chúa Jesus đang tiến về phía mình, ông nói, “Kìa, Chiên Con của Ðức Chúa Trời, Ðấng cất đi tội lỗi của thế gian! 30 Ấy là về Ngài mà tôi đã nói, ‘Ðấng đến sau tôi cao trọng hơn tôi, vì Ngài hiện hữu trước tôi.’ (Giăng 1: 29-30)

Nói cách khác, Chúa Giê-xu được biết đến như là “Chiên con của Chúa”. Bây giờ xem xét lúc cuối cuộc đời của Chúa Giê-xu. Nơi mà Ngài bị bắt và bị đóng đinh? Đó là trong Giê-ru-sa-lem (cũng như chúng ta thấy giống như ‘núi Mô-ri-a’). Nó được nêu lên rất rõ ràng trong suốt lúc Ngài bị bắt là:

Khi ông biết Ngài thuộc quyền tài phán của Hê-rốt, ông sai giải Ngài đến Hê-rốt, vì lúc đó ông ấy đang có mặt tại Giê-ru-sa-lem. (Lu-ca 23:7)

Nói cách khác, sự áp giải, thử thách và kết án Chúa Giê-xu xảy ra tại Giê-ru-sa-lem (núi Mô-ri-a). Nhà lịch sử Rô ma Tacitus chứng thực nơi và Chúa Giê xu bị đóng đinh là “Giu-đê”, một tỉnh ở Rô ma mà Giê-ru-sa-lem là thủ đô. Ông ta viết:

“…Christus, người sáng lập ra cái tên, bị giết chết bởi Bôn-ti Phi-lát, thống đốc xứ Giu-đê trong triều đại của Ti-bê-ri, nhưng sự mê tín nguy hiểm, bị kiềm chế trong một thời gian bị vỡ ra lại, không chỉ thông qua Giu-đê (Tacitus. Annals XV. 44. Ông ta một nhà lịch sử học Rô-ma viết vào năm 166 AD)

Như vậy cái chết của Chúa Giê-xu được đặt tai Giu-đê bởi những nhà lịch sử Kinh Thánh học, được liên tục với các Phúc Âm ghi nhận chúng trong Giê-ru-sa-lem. Địa điểm của viêc tra tấn Chúa Giê-xu không phải đơn thuần được tạo nên bởi những người viết Phúc Âm để khiến nó hợp với tường thuật về Áp-ra-ham.

Nhưng hãy cùng quay trở lại với Áp-ra-ham. Tại sao ông ta đã đặt tên cho nơi đó ở thì tương lai “ĐỨC CHÚA TRỜI sẽ cung cấp?” Làm thế nào ông ấy biết rằng điều gì đó sẽ được “cung cấp” ở đó trong tương lai mà có thể phản ánh chính xác kịch tính của cảnh ông ta diễn trên núi Mô-ri-a? Nghĩ về điều đó trong tường thuật của Áp-ra-ham, Y-sác được cứu khởi sự chết ở giây phút cuối cùng bởi vì một con chiên được chết thế cho chỗ của anh ấy. Hai nghìn năm sau đó, Chúa Giê-xu được gọi là ‘Chiên con của Chúa’ bị bắt và tra tấn để hy sinh vào tai chính địa điểm đó – để bạn và tôi có thể sống!

Một tâm trí Thánh bày tỏ Chính Ngài

Và quả thật là vậy mặc dầu có một Tâm Trí đang kết nối hai sự kiện cách nhau bởi 2000 năm lịch sử.

Sự dâng của lễ của Áp-ra-ham là một Dấu Hiệu- hướng tới 2000 năm sau- để làm chúng ta nghĩ về cái chết của Chúa Giê-xu.
Sự dâng của lễ của Áp-ra-ham là một Dấu Hiệu- hướng tới 2000 năm sau- để làm chúng ta nghĩ về cái chết của Chúa Giê-xu.

Nhưng điều làm cho điều này đặc biệt là sự kiện trước đó hướng tới sự kiện thứ hai 2000 năm sau đó. Con số này cho thấy cách sự kiện trước ám chỉ tới sự kiện sau và được định hình để nhắc nhở chúng ta về sự kiện sau. Đây là bằng chứng cho thấy những sự kiện này được liên kết bởi một tâm trí. Nhưng vì không có tâm trí con người nào có thể thấy 2000 năm trong tương lai nên điều đó minh chứng rằng Áp-ra-ham đã không sai khi ông ấy nói Chúa đã hướng dẫn ông trong tường thuật này. Tâm Trí của Chúa bày tỏ chính Ngài thông qua Áp-ra-ham, và vì thế cho nên chứng minh rằng Chúa tồn tại.

Các ơn phước cho bạn và tôi

Nhưng tường thuật này cũng thích hợp cho chúng ta vì nhiều lý do cá nhân. Vào lúc cuối của cuộc trao đổi Chúa tuyên bố với Áp-ra-ham rằng

 “Mọi dân trên đất sẽ nhờ dòng dõi ngươi được phước, bởi vì ngươi đã vâng lời Ta.” (Sáng Thế Ký 22:18)

Bạn thấy rằng lời hứa này không phải chỉ được ban cho người Do Thái hay cho các ‘Cơ Đốc Nhân’. Nó được ban cho “mọi dân tộc’. Điều có không bao gồm Việt Nam sao? Nếu bạn thuộc về một trong những “dân tộc trên đất” (và bạn thuộc về!) điều này phải liên quan đến bạn bởi vì lời hứa là như thế nên bạn có thể được phước từ chính Chúa! Cho dù chỉ có một khả năng cho một ơn phước từ Chúa cũng nên khiến chúng ta nghiên cứu xa hơn.

Nhưng làm sao chúng ta đạt được ơn phước này ? Cho những người mới bắt đầu, từ “hậu tự” ở đây nằm trong danh từ số ít. Nó không phải “dòng dõi” như là con cháu hay là nhiều người, nhưng ở dạng số ít như là một “anh ấy”, không phải thông qua nhiều người hay một nhóm người như trong chữ “họ”. Một lần nữa, điều này ám chỉ về Chúa Giê-xu, dòng dõi của Áp-ra-ham. Giống như con chiên đực cứu Y sác khỏi sự chết bằng việc chết thế vào chỗ của anh ấy, cũng như chiên con của Chúa, bởi sự chết của Ngài, cứu chúng ta khỏi quyền lực của sự chết. Tin lành của Phúc âm báo trước vượt quá các sự ngẫu nhiên trùng lặp trong một bản tường thuật đáng kinh ngạc của sự hy sinh của Y-sác trên núi Mô-ri-a, tại địa điểm đó 2000 năm sau nó “được cung cấp”.

Những của cải quý giá thì đáng được đào bới tìm kiếm, và cũng giống như vậy việc hiểu biết tốt hơn về ơn phước thì đáng quý cho chúng ta nếu chúng ta tiếp tục đi sâu vào những ghi chép của Kinh Thánh. Tiếp theo chúng ta xem tường thuật về Lễ Vượt Qua của Môi se- một sự kiện phổ biến khác trong Kinh Thánh.

Tài liệu giúp bạn hiểu thêm về Tin Lành