Tag Archives: vì sao các sứ đồ thay đổi đột ngột

Ai Lại Chịu Chết Cho Một Sự Dối Trá?

Lịch Sử Dựa Vào Những Lời Chứng

Những người thách thức Cơ Đốc Giáo thường xem nhẹ một phần của bằng chứng: sự biến đổi của các sứ đồ theo Chúa Jêsus. Cuộc sống thay đổi một cách đáng ngạc nhiên của những người đàn ông này mang đến cho chúng ta một lời chứng chắc chắn về giá trị của các tuyên bố của Đấng Christ.

Bởi vì niềm tin Cơ Đốc mang tính lịch sử, kiến thức của chúng ta về niềm tin đó phụ thuộc mạnh mẽ vào lời làm chứng, kể cả bằng lời nói và văn bản. Không có những lời chứng đó, chúng ta không có cửa sổ nào để bước vào trong các sự kiện lịch sử, về những Cơ Đốc Nhân hay những người khác. Thật ra, tất cả lịch sử là cốt yếu là kiến thức của quá khứ dựa vào lời làm chứng. Nếu việc dựa vào bằng chứng như vậy dường như đem đến cho lịch sử một nền tảng không vững chắc, chúng ta phải hỏi, chúng ta học gì từ quá khứ? Làm sao chúng ta biết được rằng Na-pô-lê-ông đã sống? Không ai trong chúng ta sống trong thời kỳ của ông. Chúng ta đã không nhìn thấy ông hay gặp mặt ông. Chúng ta phải dựa vào những lời chứng.

Kiến thức lích sử của chúng ta có một vấn đề cố hữu: Chúng ta có thể tin rằng những lời chứng là đáng tin cậy không? Bởi vì kiến thức của chúng ta về Cơ Đốc Giáo chỉ dựa vào lời chứng được mang đến từ quá khứ trước đó, chúng ta cần hỏi xem chúng ta có thể phụ thuộc vào tính chính xác của nó không? Có phải những lời chứng bằng miệng về Chúa Jêsus là đáng tin cậy không? Chúng ta có thể tin tưởng những lời chứng đó đã tường thuật một cách chính xác những gì Chúa  đã nói và làm? Tôi tin là chúng ta có thể.

Tôi có thể tin những lời chứng của các sứ đồ bởi vì mười một người trong số những người đó biết bằng những cái chết vì đạo bởi vì họ đứng vững trên hai lẽ thật: thần tánh và sự sống lại của Đấng Christ. Những người đàn ông này đã bị hành hạ và đánh đập, và hầu như cuối cùng chịu chết bằng một trong những cách độc ác nhất từng được biết đến lúc đó:

  1. Phi-e-rơ, lúc ban đầu được gọi là Si-môn, bị đóng đinh.
  2. An-rê bị đóng đinh.
  3. Gia-cơ, con trai Zê-bê-đê, bị giết bởi kiếm.
  4. Giăng, con trai Zê-bê-đê, chết tự nhiên.
  5. Phi-líp bị đóng đinh.
  6. Ba-tô-lô-mê-ô bị đóng đinh.
  7. Thô-ma bị giết bởi một cái giáo.
  8. Ma-thi-ơ bị giết bởi thanh kiếm.
  9. Gia-cơ, con trai An-phê bị đóng đinh.
  10. Ta-đê-ô bị ghiết bởi cung tên.
  11. Si-môn, kẻ quá khích, bị đóng đing.

Cách nhìn mà tôi thường nghe là “Ồ, những người đàn ông này chết cho một sự lừa dối. Nhiều người đã làm thế. Như vậy điều đó chứng minh được điều gì?”

Bạn nghĩ gì?

Có điều gì hoặc người nào bạn sẽ chết cho không? Tại sao bạn lại nghĩ như thế?

Vâng, nhiều người đã chết cho một sự dối trá, nhưng họ cũng đã tin là đó là sự thật. Trường hợp với những môn đồ này là thế nào? Nếu Sự Phục Sinh đã không xảy ra, rõ ràng rằng các môn dồ đã phải biết được điều đó. Tôi không thể tìm được cách nào mà những người đàn ông này có thể bị lừa. Vì thế nếu họ không chỉ chết cho một sự dối trá-nhưng đây là điều đáng chú ý- nhưng họ đã phải  biết rằng đó là một sự dối trá. Việc tìm một nhóm người ở bất cứ nơi đâu trong lích sử bằng lòng chết cho một sự dối trá nếu biết đó là một sự dối trá là rất khó.

Hãy cùng nhìn vào một vài khía cạnh sẽ giúp chúng ta hiểu được những lẽ thật thực tế về những điều mà họ đã tin.

  1. Họ Là Những Nhân Chứng Thấy Tận Mắt

Quyển sách uyên bác của ông vào năm 2006 Chúa Jêsus Và Những Nhân Chứng, giáo sư Tân ước Richard Bauckham chứng minh rằng bốn sách Phúc Âm cung cấp bằng chứng đáng tin cậy mà có thể được truy tìm lại với chính bản thân những nhân chứng.

Các sứ sồ biết và những môn đồ khác nói như là những nhân chứng thực sự dối với những sự kiện họ mô tả. Phi-e-rơ nói: “Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.” (2 Phi-e-rơ 1:16). Các sứ đồ chắc chắn đã biết sự khác nhau giữa huyền thoại hoặc truyền thuyết và thực tế.

Trong lá thư đầu tiên của mình, Giăng nhấn mạnh khía cạnh nhân chúng trong kiến thức của họ, giải thích cách ông và những sứ đồ khác có được thông tin về điều mà Chúa Giê-xu “đã làm” và “đã phán” Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về lời sự sống; vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi; chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.” (1 Giăng 1: 1-3). Giăng bắt đầu phần cuối của sách Phúc Âm mình viết bằng việc nói rằng: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy” (Giăng 20:30).

Lu-ca nói rằng, “Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhơn, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông” (Lu-ca 1: 1-3).

Bạn nghĩ gì?

Bạn đã từng là một nhân chứng cho một điều gì đó và sau đó bạn được hỏi để nói ra những điều bạn đã thấy? Mọi người có tin bạn không? Điều gì khiến bạn là một nhân chứng đáng tin cậy?

Như vậy trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ, Lu-ca bày tỏ bốn mươi ngày sau Sự Phục Sinh, khi các người theo chúa Giê-xu quan sát Ngài kỹ càng: “Hỡi Thê-ô-phi-lơ, trong sách thứ nhứt ta, ta từng nói về mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu, cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn. Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời. (Công-vụ-các-sứ-đồ 1: 1-3).

Chủ đề trung tâm cho việc theo những lời chứng của những nhân chứng là sự sống lại của Chúa Giê-xu. Các sứ đồ là những nhân chứng về sự sống lại của Ngài.

  1. Họ Cần Phải Được Thuyết Phục

Các sứ đồ nghĩ rằng khi Chúa Jêsus chết đi, mọi thứ sẽ kết thúc. Khi Ngài bị bắt, họ chạy đi và trốn (xem Mác 14:50). Khi họ được báo về ngôi mộ trống không, lúc ban đầu họ đã không tin điều đó (xem Lu-ca 24:11). Chỉ sau khi có đủ những bằng chứng thuyết phục họ mới tin. Lúc đó có Thô-ma, người đã nói là ông sẽ không tin rằng Đấng Christ sống lại từ cõi chết cho đến khi ông đặt ngón tay của mình vào trong những vết thương của Đấng Christ. Thô-ma sau đó tử đạo vì danh Đấng Christ. Có phải ông đã bị lừa không? Ông đánh cược sự sống của mình là ông không bị lừa.

Sau đó đến Phi-e-rơ. Ông chối bỏ Chúa của mình nhiều lần trong khi Đấng Christ chịu thử thách và cuối cùng rời bỏ Đấng Christ. Nhưng một điều gì đó đã thay đổi sự nhút nhát của ông. Một thời gian ngắn sau khi Đấng Christ chịu đóng đinh và chôn, Phi-e-rơ có mặt ở Giê-ru-sa-lem giảng dạy một cách mạnh mẽ, dưới sự đe dọa bị giết, rằng Chúa Jêsus là Đấng Christ và đã sống lại. Cuối cùng, Phi-e-rơ bị đóng đinh (ngược chiều, theo như truyền thống). Điều gì có thể thay đổi con người chối bỏ sự sợ hãi này trở thành một con sư tử mạnh mẽ cho Chúa Jêsus?

Tại sao Phi-e-rơ đột ngột sẵn lòng để chết cho Ngài? Có phải sứ đồ này đã bị lừa? Gần như là không. Cách giải thích duy nhất có thể thỏa mãn tôi đó là điều chúng ta đọc trong 1 Cô-rinh-tô 15:5, và sau sự phục sinh của Chúa, và ông đã tin- đến nỗi ông sẵn lòng chết cho niềm tin của mình.

Một ví dụ cổ điển về một người đàn ông thuyết phục ngược lại với điều mình mong muốn đó là Gia-cơ, em trai của Chúa Jêsus. (Mặc dù Gia-cơ không phải là một trong mười hai người lúc ban đầu [xem Ma-thi-ơ 10: 2-4], sau đó ông được xem là một sứ đồ [xem Ga-la-ti 1:19], cũng giống như là Phao-lô và Ba-na-ba [xem Công Vụ 14:14]. Trong khi Chúa Jêsus lớn lên và thi hành công tác của mình, Gia-cơ đã không tin rằng anh của mình là Con của Đức Chúa Trời (xem Giăng 7:5). Không nghi ngờ gì Gia-cơ tham gia cùng với các em mình trong việc cười nhạo Chúa Jêsus, có thể nói những điều như là :”Anh muốn mọi người tin anh ư? Sao anh không đi dến Giê-ru-sa-lem và làm nên một vở diễn lớn với các phép lạ và sự chữa lành của anh?” Gia-cơ đã phải đã cảm thấy xấu hổ rằng anh trai của mình đi khắp nơi mang đến sự xấu hổ và cười nhạo trên danh sự của gia đình với tất cả những lời tuyên bố hoang dại của mình: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6); Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh” (Giăng 15:5); “Ta là người chăn chiên hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta” (Giăng 10:14). Bạn nghĩ gì nếu anh trai của bạn đi quanh xóm giềng và nói những lời như vậy?

Bạn nghĩ gì?

Phần nhiều, các em trai của Chúa Jêsus lưỡng lự với những gì Chúa Jêsus làm và nói. Theo truyền thống, các thành viên trong gia đình thường là những người kháng cự đối với một thay đổi của một thành viên trong gia đình. Tại sao bạn nghĩ là như vậy?

Nhưng điều gì đó đã xảy đến với Gia-cơ. Sau khi Chúa Jêsus chịu đóng đinh và chịu chôn, Gia-cơ dạy tại Giê-ru-sa-lem. Thông điệp của ông đó là Chúa Jêsus đã chết cho tội lỗi của chúng ta và phục sinh và vẫn đang sống. Cuối cùng thì Gia-cơ trở thành một nhân vật dẫn đầu tại hội thánh Giê-ru-sa-lem và đã viết nên một quyển sách, sách Phúc Âm Gia-cơ. Ông bắt đầu viết, “Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ” (Gia-cơ 1:1). Cuối cùng Gia-cơ bị ném đá cho đến chết theo lệnh từ thầy tế lễ cả thượng phẩm A-na-nia. Điều gì có thể thay đổi Gia-cơ từ mộ người cười nhạo xấu hổ trở thành một người sẵn lòng chết vì thần tánh của anh trai mình? Có phải Gia-cơ bị lừa? Không. Sự giải thích hợp lý duy nhất đó là điều chúng ta đọc ở trong 1 Cô-rinh-tô 15:7: “Sau đó [sau sự phục sinh của Đấng Christ] Ngài hiện ra cùng Gia-cơ”. Gia-cơ đã thấy Đấng Christ phục sinh và tin.

J.P. Moreland, giáo sư về triết học tại trường thần học Talbot, giải thích điều đáng ngạc nhiên về sự thật rằng Giăng, em trai của Chúa Jêsus cuối cùng tin vào Chúa Jêsus là Đấng Mê-si:

Các sách Phúc Âm nói với chúng ta về gia đình của Chúa Jêsus, bao gồm Giăng, cảm thấy xấu hổ vì những điều Chúa Jêsus tuyên bố. Họ đã không tin Ngài, họ giáp mặt với Ngài. Trong truyền thống của người Giu-đa, việc gia đình rabbi (thầy dạy) không chấp nhận Ngài là một điều rất đáng xấu hổ. Vì thế, những người viết phúc âm đã không có động lực nào để bịa đặt lên điều hoài nghi này nếu nó không phải là sự thật. Sau đó, nhà sử học Josephus nói cho chúng ta về Gia-cơ, em của Chúa Jêsus, người đã là lãnh đạo của một hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, bị ném đá cho đến chết bởi vì niềm tin của ông vào anh trai mình. Tại sao cuộc sống của Gia-cơ thay đổi? Phao-lô nói với chúng ta: Chúa Jêsus Phục Sinh đã xuất hiện trước mặt ông. Không có một sự giải thích nào khác.

Nếu Sự Phục Sinh là một điều dối trá, các sứ đồ đã phải biết được điều đó. Phải chăng họ ghi nhớ mãi trò lừa bịp khổng lồ này? Khả năng này không đúng với điều chúng ta biết về chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống họ.

Cá nhân họ không đồng tình với sự dối trá và nhấn mạnh sự chân thật. Nhà sử học Edward Gibbon trong tác phẩm nổi tiếng của mình Lịch Sử Về Sự Giảm Sút và Sụp Đổ Của Đế Quốc Rô-ma (The History of the Decline and Fall of the Roman Empire) mang đến một đạo đức trong sáng hơn nhưng nghiêm khắc hơn đối với những Cơ Đốc Nhân đầu tiên” là một trong năm lý do cho sự thành công nhanh chóng của Cơ Đốc Giáo. Michael Green, là một nhà nghiên cứu kỳ cựu tại Wycliffe Hall, trường đại học Oxford, quan sát rằng Sự Phục Sinh là một niềm tin biến đổi những người theo có tấm lòng tan vỡ về về người thầy chịu đóng đinh đến những nhân chứng dũng cảm và tử đạo trong hội thánh đầu tiên. Điều này là một niềm tin khác biệt giữa những người theo Chúa Giê-xu và những người Do Thái, và khiến họ quay lại với cộng đồng của sự phục sinh. Bạn có thể bỏ tù họ, hành hạ họ, giết họ, nhưng bạn không thể nào làm cho họ chối bỏ điều họ tin rằng “vào ngày thứ ba Ngài sống lại”.

  1. Họ Trở Nên Dũng Cảm

Những hành động mạnh mẽ của những sứ đồ ngay lập tức sau khi họ được thuyết phục về sự Phục Sinh khiến cho sự giả mạo hầu như không có khả năng. Họ trở nên dũng cảm gần như là qua đêm. Sau sự Phục Sinh, Phi-e-rơ là người đã chối bỏ Đấng Christ, đứng lên thậm chí trước sự đe dọa về cái chết và tuyên bố rằng Chúa Giê-xu vẫn sống. Những nhà chức chắc khác đã bắt giữ những người theo Chúa Giê-xu và đánh họ, thế nhưng họ vẫn sớm quay trở lại trên đường để nói lớn về Chúa Giê-xu (xem Công vụ 5: 40-42).

Những người bạn của họ để ý thấy sự năng nổ của họ, và những kẻ thù của họ để ý thấy sự dũng cảm của họ. Hãy nhớ rằng các sứ đồ đã không giữ sự mạnh mẽ của mình ở trong những thị trấn không ai biết đến. Họ đã giảng ở tại Giê-ru-sa-lem.

Những người theo Chúa Giê-xu không thể nào đối mặt với sự tra tấn và cái chết nếu họ không được thuyết phục về sự phục sinh của Ngài. Sự nhất quán trong thông điệp và hành động của họ là rất kỳ diệu. Những con số lẻ so với một nhóm người rất lớn đồng ý trong chủ đề gây tranh cãi như vậy là rất đáng chú ý, thế nhưng những người này đã đồng ý với một lẽ thật về Sự Phục Sinh. Nếu họ là những người lừa dối, rất khó để giải thích tại sao ít nhất là một trong số họ đã không bị suy sụp dưới áp lực mà họ phải trải qua.

Blaise Pascal, nhà triết lý người pháp, viết:

Luận điệu rằng các Sứ Đồ là những người lừa đảo là khá vô lý. Hãy cùng lần theo các chỉ thị cho kết luận hợp lý của nó. Hãy cùng hình dung mười hai người đàn ông kia, gặp lại nhau sau cái chết của Đấng Christ, và bắt đầu lập âm mưu để nói rằng Ngài đã sống lại. Điều đó đã phải tạo thành một sự tấn công đối với các những nhà chức trách nhân dân và tôn giáo. Tấm lòng của một con người có thể không kiên định và hay thay đổi, nó đu đưa theo những lời hứa, cám dỗ bởi những vật chất. Nếu bất cứ người nào trong những người này đã chịu dưới sự cám dỗ rất lôi cuốn, hoặc đã nhường đường cho những sự tranh luận bắt buộc về tù tội, tra tấn, tất cả họ đều đã bị hư mất.

J.P Moreland giải thích “Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh”, những người theo Ngài cảm thấy không được khích lệ và rất buồn phiền. Họ không còn có sự tin cậy rằng Chúa Jêsus được gửi đến bởi Đức Chúa Trời bởi vì họ đã tin vào bất cứ ai chịu đóng đinh là bị nguyền rủa bởi Đức Chúa Trời. Họ cũng đã được dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ không thể Đấng Mê-si của Ngài chịu chết. Cho nên họ giải tán. Phong trào Chúa Jêsus là tất cả nhưng đã dừng lại trên đường đi của nó. Sau đó một giai đoạn ngắn, chúng ta thấy họ từ bỏ công việc của mình, gặp lại nhau và cống hiến bản thân mình để rao giảng một thông điệp rất cụ thể-rằng Chúa Jêsus Christ là Đấng Mê-si của Đức Chúa Trời, Đấng chết trên thập tự giá, sống lại, và được thấy là vẫn sống bởi họ. Và họ sẵn lòng sẽ dành phần đời còn lại của mình để tuyên bố điều này, mà không có sự hoàn trả nào từ cách nhìn của một con người. Không phải là đã có một ngôi nhà lớn đang chờ đợi họ ở tại vùng Trung Đông. Họ phải đối mặt với cả cuộc đời khó khăn. Họ thường không có thức ăn để ăn, ngủ ở những nơi trống trải, bị cười chê, đánh đập, bắt giam. Và cuối cùng, hầu hết họ đều bị giết bằng những cái chết tra tấn. Cho điều gì chứ? Cho những mục đích tốt ư? Không, bởi bì họ được thuyết phục vượt trên cả cái bóng của sự nghi ngờ rằng họ đã thấy Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ kẻ chết. Điều bạn không thể giải thích đó là cách mà nhóm người cụ thể này đã tạo nên một niềm tin cụ thể này mà không có một sự trải nghiệm về Đấng Christ phục sinh. Không có một lời giải thích phù hợp nào khác.

Bạn nghĩ gì?

Bạn có khâm phục những người sẵn lòng chết hay đã chết cho một nguyên do nào không? Điều gì lôi cuốn bạn đến những điều đó? Điều gì khiến bạn sợ về những điều đó? Bạn có thể học được những điều gì từ chúng không?

Michael Green hỏi “Làm sao họ có thể thay đổi dường như là qua đêm như vậy”, “trở thành một nhóm người nhiệt huyết không thể bị đánh bại, những người đã dũng cảm với sự chống đối, nghi ngờ, cười nhạo, khó khăn, tù tội và cái chết ở ba châu lục khác nhau, họ đã rao giảng khắp nơi về Chúa Jêsusvà sự sống lại của Ngài?”

Một nhà văn ghi lại những mô tả về sự thay đổi xảy đến trong cuộc sống của những sứ đồ:

Vào ngày Chúa Jêsus chịu đóng đinh, lòng họ tràn đầy sự buồn rầu; vào ngày đầu tuần họ tràn đầy niềm vui. Tại lúc Chúa Jêsus chịu đóng đinh họ cảm thấy vô vọng, vào ngày đầu tuần trái tim họ rực sáng với sự tin chắc chắn và hy vọng. Khi thông điệp về Sự Phục Sinh mới đến, nó cực kỳ đáng nghi ngờ và khó để được thuyết phục, nhưng ho họ trở nên chắc chắn, họ không bao giờ nghi ngờ một lần nữa. Điều gì có thể là nguyên do cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên trong những con người này trong một thời gian ngắn như vậy? Đơn thuần là nếu không có một thân thể ở trong phần mộ thì không bao giờ có thể biến đổi tâm linh và tính cách của họ như vậy. Ba ngày không đủ để một huyền thoại mọc lên mà có thể ảnh hưởng đến họ như vậy. Thời gian cần cho một quá trình phát triển một huyền thoại. Đó là một sự thật tâm lý đòi hỏi một sự giải thích đầy đủ. Hãy nghĩ về một nhân vật trong những người làm chứng, những người đàn ông đàn bà đã mang đến thế giới những lời dạy dỗ đạo đức cao nhất mà từng được biết đến, và người thậm chí trên bài làm chứng về những kẻ thù sống trong cuộc sống của họ. Hãy nghĩ về sự vô lý về mặt tâm lý về việc hình dung một nhóm của những người nhút nhát thất bại co mình lại trong phòng một ngày và một ngày sau đó biến đổi trở thành một nhóm người mà không có sự áp đặt nào có thể khiến họ im lặng- và sau đó cố gắng để thêm vào sự thay đổi đáng ngạc nhiên này thành không có điều gì thuyết phục hơn là một sư bịa đặt đau khổ mà họ đang cố gắng để mang vào trong thế giới. Điều đó đơn giản là không có ý nghĩa gì?

Nhà sử học về hội thánh Kenneth Scott Latourette viết:

Các tác động của sự sống lại và sự đến của Đức Thánh Linh trên các môn đồ là một điều quan trọng chính. Từ những người không được thích lệ, không ảo tưởng đã nhìn lại một cách buồn bã về những ngày mà họ đã hy vọng rằng Chúa Jêsus “là Đấng đến để giải cứu Y-sơ-ra-ên”, họ được biến đổi thành một nhóm những người làm chứng đầy nhiệt huyết.

N.T.Right, nguyên giáo sư về Tân Ước Học tại trường Đại Học Oxford tại Anh giải thích,

Nhà lịch sử học phải nói “Làm sao chúng ta có thể giải thích sự thật mà phong trào này lan rộng rất nhanh với việc Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, thâm chí thông qua việc Chúa Jêsus bị đóng đinh?” Câu trả lời phải là, điều đó chỉ có thể là, bởi vì Ngài sống lại từ kẻ chết.

Paul Little, phó giáo sư về tin lành tại Trường Trinity Evangelical Dininity School, hỏi:

Có phải những người này, người đã giúp biến đổi hệ thống đạo đức của xã hội, hoàn toàn là những người dối trá hoặc những người bị lừa dối ngu ngốc? Những sự lựa chọn này khó tin hơn sự thật về sự Sống Lại, và không có một chút bằng chứng nào để ủng hộ cho những lựa chọn đó.

Sự kiên định của những sứ đồ thậm chí đến chết không thể nào được giải thích cho qua. Theo như quyển bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica, triết lý gia Origen ghi lại rằng Phi-e-rơ bị đóng đinh với đầu ngược xuống đất. Nhà sử học về hội thánh Herbert B. Workman mô tả sự chết của sứ đồ :

Vì thế Phi-e-rơ, như lời Đức Chúa Trời đã tiên đoán, là “sự nhạo báng” bởi người khác, và được “mang” đến sư chết dọc theo đường Arelian Way, đến một nơi rắn sỏi bên cạnh các khu vườn cỉa Nẻo trên đồi Vatican, nơi có nhiều anh em đã chịu một cái chết tàn ác. Như chính lời yêu cầu của mình ông đã chịu đóng đinh với đầu ngược xuống đất, vì không xứng đáng chịu hình phạt như Thầy mình.

Harrold Mattingly, là một giáo sư danh tiếng tại trường Đại Học Leeds, viết trong văn bản lịch sử của mình: “Các sứ đồ, Phi-e-rơ và Phao-lô, đóng dấu sự làm chứng của họ bằng chính máu của mình. Tertullian viết rằng “không có người nào sẵn lòng chịu chết trừ khi người ấy biết rằng người ấy có được sự thật. Giáo sư luật Harvard Simon Greenleaf, một người đã giảng dạy trong nhiều năm về cách để xem xét từng phần một bằng chứng và xác định người đó có đang dối hay không, kết luận:

Các biên niên của các cuộc chiến quân sự mang đến một ví dụ đáng kinh ngạc về sự bền lòng anh hùng, sự kiên nhẫn, sự can đảm không chùn bước. Họ đã có mọi động cơ có thể để xem lại một cách cẩn thận các nền tảng của niềm tin họ, và bằng chứng về những sự thật và lẽ thật lớn lao và họ khẳng định.

Giáo sư lịch sử Lynn Gardner hỏi một cách đúng đắn,

Ai sẽ chết cho điều mà họ đã biết là một sự dối trá? Một người có thể bị lừa dối và chết cho sự sai lầm đó. Nhưng những sứ đồ đã ở trong một vị thế để biết được các sự thật và về sự sống lại của Chúa Jêsus, và họ vẫn chết cho điều đó.

Tom Anderson, nguyên hiệu trưởng của hội California Trial Lawyers Association, phát biểu,

Khi cho rằng những ghi chép được viết về sự xuất hiện của Ngài đến hàng trăm người là sai. Tôi muốn đặt một câu hỏi. Với một sự kiện được đưa ra công chúng tốt đẹp như vậy, bạn có nghĩ rằng việc một nhà sử học, một người làm chứng, một người đối lập đã ghi lại ở bất cứ lúc nào là người đó đã thấy thân thể của Đấng Christ là hợp lý?…Sự im lặng của lịch sử đang làm câm tiếng nói về bằng chứng chống nghịch lại sự phục sinh.

J.P. Moreland chỉ ra rằng, “không có nhà sử học nào mà tôi biết nghi ngờ rằng việc Cơ Đốc Giáo bắt đầu ở tại Giê-ru-sa-lem chỉ một vài tuần sau cái chết của Chúa Jêsus trước sự có mặt của những nhân chứng thân thiện cũng như là đối lập”. Ngoài ra, như William Lan Craig, giáo sư nghiên cứu về triết lý tại Talbot School of Theology kết luận rằng,

Cảnh tượng về phần mộ của Chúa Jêsus được biết đến bởi các Cơ Đốc Nhân và cũng như là người Do Thái. Như vậy nếu ngôi mộ không trống, điều này đã là không thể đối với một phong trào được sáng lập dựa trên niềm tin về một Sự Phục Sinh để tồn tại trong cùng một thành phố nơi con người này đã bị áp giải và chôn cất trước công chúng.

Các sứ đồ đi qua thử thách về cái chết để chứng minh tính xác thực về điều mà họ đang tuyên bố. Tôi tin rằng tôi có thể tin lời chứng của họ hơn là của nhiều người mà tôi gặp ngày hôm nay. Tôi buồn rầu khi thấy nhiều người không có đủ can đảm trong cuộc sống thậm chí là để đi qua con đường của điều mà lòng họ tin, còn ít người muốn chết cho điều đó hơn nữa.

Bạn nghĩ gì?

Những môn đồ có được sự đáng tin đến mức nào trong việc sử dụng cuộc đời của chính họ làm  lời xác nhận cho niềm tin của mình? Họ có thể làm điều gì khác hơn để bày tỏ ra sự chân thật của họ?